CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    February 29

    Lm quốc doanh Trương Bá Cần lại bưng bô !

     
     Điểm nhấn :
     
    Thợ Gặt : "Thật ra, những vị này (Trương Bá Cần...) cũng muốn “chia lửa” với Nhà nước lúc khó khăn, vì Nhà nước nuôi bao năm nên cũng muốn “đền ơn, đáp nghĩa”. Chỉ có điều họ “kính không bõ phiền”. Nói như linh mục Trương Bá Cần hóa ra Nhà nước này lẩm cẩm hay sao mà đất của Tòa thánh lại để cho linh mục Nguyễn Tùng Cương hiến tặng? Thật phi lý cũng giống như cơ sở 370 Cách mạng tháng Tám của báo CG&DT mà để cho Hòa thượng Thích Trung Hậu ký giấy nhượng cho báo Giác Ngộ vậy."
     
     
     
    Công Lý : "Người ta vẫn chờ đợi ngày Cộng sản bị sụp đổ như ở Ba Lan, và những nguyên nhân ẩn kín đằng sau đó sẽ giải thích tại sao Trương Bá Cần (tên đảng viên : Trần Bá Cương) biến chức linh mục thành kẻ bút nô !"
     
    "Trương Bá Cần đồng hóa một đảng phái với đất nước, dân tộc. Đó là một sai lầm và là một sự sỉ nhục nghiêm trọng đối với đất nước và con người Việt Nam. Những chuyện ông phê phán đả kích Giáo Hội theo tôi là chuyện nhỏ mà thôi, vì ông cũng xếp hàng vào danh sách những kẻ chống báng Giáo Hội từ hơn 2000 năm nay, và ông chỉ thuộc loại xòang trong việc chống đối Giáo Hội. Nhưng sai lầm trầm trọng của ông, mà theo tôi là một sai lầm cố tình, đó là đánh lận con đen giữa dân tộc VN và ý thúc thệ đảng phái Cộng Sản, chủ nghĩa xã hội của ông".
     
     
    Thérèse Mai Anh : "Rõ ràng là cha Cần nhà ta đã có những biểu hiện của tuổi già, nói năng linh tinh, nhảm nhí. Viết lách kiểu này, khi cần một con dê tế thần, nhà nước ta dám lôi ngài ra tòa về tội “Xuyên tạc đường lối chính sách nhà nước”, hay “phá hoại đoàn kết dân tộc”, là những tội danh với khung hình phạt rất nặng nề."
     
     
     
    Nguyễn Việt Nam : "Có người nói với chúng tôi rằng ông Trương Bá Cần thường tự nhận mình là “nhà sử học”. Tôi thật kinh hoàng khi nghe điều ấy. Chuyện đang xảy ra, ông ta còn bịa đặt trắng trợn như thế thì những chuyện bao nhiêu năm về trước ngài còn xạo đến cỡ nào. Cái tên của ông: Trương Bá Cần, Trần Bá Cương đã “nhiều đường lắt léo” nói xuôi nói ngược đều được,  đủ cho thấy tay này thật là “bán trời không văn tự”. Bán trời có lẽ chưa thấy nhưng bán Chúa thì chắc bán nhiều lần rồi. Còn bán đứng anh em thì cứ coi cái bài ông ta viết trên số 1644 chắc cũng đủ rõ."
     
    JB. Nguyễn Hữu Vinh : ời sống linh mục là đời sống tận hiến tất cả cho Thiên Chúa với những suy nghĩ và hành động, với cả cuộc đời hiến dâng tự nguyện, vậy thì chúng con không hiểu được tại sao, lại vẫn có những linh mục chưa hết những bon chen, tham lam cái không thuộc về mình như chức tước, danh vọng và nhiều điều khác nữa?"
     
     
     
     
     
     
     Ý kiến độc giả : " Linh mục quốc doanh Cần năm nay cũng đã 78 tuổi rồi, hãy sống những năm tháng còn lại trong sự sám hối, chứ đừng để hậu thế nó khinh"
     
     
     
    Trương Bá Cần vẫn không tha cho Công Giáo
     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 29/02/2008 16:03)
     
    Trong lúc đã có những tin về việc nhà nước có thể sẽ giữ lời hứa trao trả lại Tòa Khâm Sứ cho Giáo Hội Công Giáo, cán bộ Trương Bá Cần vẫn tiếp tục nhất định giữ thái độ “bảo hoàng hơn vua”, đòi đặt lại toàn bộ vấn đề trong số báo 1646 ra ngày 29/2.

    priestCom

    Cần nhấn mạnh “Có lẽ đã đến lúc phải phân định rõ ràng quyền sở hữu nhà và sở hữu đất của Tòa Khâm sứ Hà Nội để nếu có phải trả, thì trả cái gì và trả cho ai”. Trong cụm từ “nếu có phải trả”, Cần đã lộ rõ cái thế đứng của mình là một linh mục, một con cái trong Giáo Hội hay là một cán bộ đứng về phía nhà nước miễn cưỡng trả lại một tài sản cho các công dân.

    Về quyền sở hữu nhà, Cần hạch hỏi và đòi buộc phải làm rõ là “Tòa giám mục Hà Nội đã cho Đức Khâm Sứ mượn ngôi nhà do Tòa giám mục xây để làm Tòa Khâm sứ hay Tòa Thánh đã bỏ kinh phí xây dựng ngôi nhà Tòa Khâm sứ trên đất Tòa giám mục Hà Nội cho mượn”.

    Cần đã nêu vấn đề trên sau khi “ỡm ờ” “nghe nói” rằng “Tòa Khâm sứ hiện có ở số 42 Nhà Chung có thể đã được xây dựng năm 1950-1951”. Thâm ý của Cần là trong trường hợp Tòa Thánh đã bỏ kinh phí xây dựng ngôi nhà Tòa Khâm sứ thì ngôi nhà đó được coi là của ngoại bang, thuộc diện nhà vắng chủ do nhà nước quản lý. Giáo Hội Công Giáo có tính chất hoàn vũ. Kinh phí xây dựng cơ sở vật chất tại các nước nghèo có thể đến từ Tòa Thánh, từ Giáo Hội Công Giáo tại các nước khác, hay từ các cơ quan bác ái Công Giáo như tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội đau khổ, Caritas,.. Nếu đặt vấn đề như Cần thì khối nhà thờ, tu viện sẽ bị tịch thu vì kinh phí xây dựng không đến từ người dân trong nước.

    Về quyền sở hữu đất, Cần khăng khăng cho rằng “Riêng khu đất, trên đó hiện có Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ xưa kia là của Chùa Báo Thiên”. Cho nên, cho dù “Bằng khoán điền thổ là đất thuộc sở hữu của Tòa giám mục Hà Nội”, thì Cần vẫn cho đó là chuyện bất công đối với Phật giáo để đi đến kết luận rằng “Phật giáo và Công giáo hiện đang sống bằng yên với nhau… liệu có nên vì mấy ngàn thước vuông đất mà làm xấu đi hình ảnh tốt đẹp đã có được về nhau”. Như vậy, theo Cần không có vấn đề trả lại gì cả, cứ để cho nhà nước quản lý là tốt nhất.

    Trong những số báo gần đây, người ta thấy rõ hai thủ pháp Cần thường làm. Thứ nhất, Cần chỉ trích thuật những tác giả nào, những đoạn nào ủng hộ cho lý luận của mình. Chẳng hạn, trong số báo vừa rồi, để kích động Phật giáo đấu tranh đòi đất của Công giáo, Cần chỉ nêu André Masson để khẳng định rằng “Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã cho phá bỏ Chùa Báo Thiên rồi làm thủ tục nhượng địa không bồi hoàn thửa đất tịch biên ấy cho Nhà Chung, để xây Nhà Thờ Lớn Hà Nội”.

    Những tác giả và những bài báo nào chống lại lý luận của mình thì Cần không bao giờ nêu ra. Thẩm phán Lữ Giang đã ghi lại một vài tài liệu điển hình. Chẳng hạn, trong cuốn “Tự Điển Hà Nội Địa Danh” do Bùi Thiết biên soạn và do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 1993 với giấy phép mang số 503-CT/VHTT, đã nói về Chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên như sau:

    Chùa Báo Thiên: “Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm, hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá hủy hoàn toàn.” (tr. 26).

    Tháp Báo Thiên: “Tòa tháp dựng năm 1057 trước Chùa Báo Thiên, tên chữ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp có 13 trượng (chừng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên bằng đồng. Đỉnh tháp bị trận bảo năm 1258 làm đổ, và phần đồng bị sét đánh bạt năm 1332.

    “Tháp Báo Thiên là một trong những vật báu của Đại Việt thời Lý – Trần. Năm 1427, khi bị vây hảm ở Đông Quan, giặc Minh đã tháo gỡ hết đồng ở tháp để đúc súng đạn. Năm 1547 tòa tháp bị dổ sập nốt phần đá. Cuối thế kỷ XVIII tháp bị phá hủy. Trên nền chùa – tháp họp chợ Báo Thiên.” (tr. 26).

    Như vậy, cứ theo những tài liệu được Đảng và Nhà Nước cho phổ biến, Chúa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên đã bị phá hủy hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII và khu đất đó đã được dân chúng dùng làm nơi họp chợ.

    Hơn thế nữa, trong cuốn “Souvenirs” (Hồi Ký) của Bonnal, Công Sứ Hà Nội lúc đó, có ghi lại rằng khi thấy ngôi Chùa Báo Thiên bỏ hoang, dân chúng trong vùng đã họp nhau lại bàn bạc và nhận thấy ngôi chùa đã bị bỏ hoang phế từ lâu không người quản lý và hiện thời đã biến thành phế tích, có thể đổ sập gây tai nạn cho người qua lại bất cứ lúc nào. nên đã đề nghị chính quyền rỡ bỏ và thu hồi đất đai vô chủ. Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ đã chấp thuận cho phá bỏ ngôi chùa.

    Công Sứ Bonnal cho biết thêm: Cuối năm 1883, Giám mục Puginier có xin ông khu đất vô chủ đó để xây nhà thờ lớn Hà Nội, nhưng ông trả lời rằng vấn đề đó không thuộc thẩm quyền của ông vì Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ chứ không phải thuộc địa của Pháp. Ông yêu cầu Giám mục Puginier trình bày vấn đề này với quan Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ, một quan chức do Triều Đình Huế bổ nhiệm. Giám mục Puginier đã nêu lên ước muốn của ông với ông Tổng Đốc Độ. Ông Độ đã cho mở một cuộc điều tra tìm con cháu những người trước đây là sở hữu mảnh đất, nhưng mấy trăm năm đã trôi qua, hơn nữa chiến tranh loạn lạc, xã hội biến động, nên không tìm được ai là chủ miếng đất đó. Vì thế, ông đã quyết định cấp cho Giám mục Puginier xây cất nhà thờ.

    Như thế, hẳn đã rõ là Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là nơi tế trời của vua như Nam Giao ở Huế, nên không liên hệ gì đến Phật Giáo. Khu đất có Chùa Bảo Thiên trước đây chỉ còn là một khoảng đất trống đang được dùng để họp chợ và được Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ cấp cho Giám mục Puginier, chứ không phải Tây đã cho đập phá Chùa Bảo Tháp rồi lấy đất cấp cho Công giáo như Trương Bá Cần viết.

    Một thủ pháp nữa của Cần là xé to một sự kiện hầu xuyên tạc sự thật rồi cứ thế dùng làm nền tảng để nói tiếp. Vụ nhóm “Nous sommes l’Eglise” là một ví dụ. Theo điều tra của chúng tôi nhóm “Nous sommes l’Eglise” chẳng làm nên trò trống gì nhưng Cần xé to ra xem như đây đang là một chuyện gây nghiêng ngả Giáo Hội La Mã, chỉ “Tại Áo, hơn 500.000 người (tức khoảng 15% dân số ) đã ký tên vào kiến nghị”. Và Cần dùng "12 số liên tục để lên tiếng bênh vực cho nhóm này, dĩ nhiên với luận điệu công kích Giáo hội ra điều như trong Giáo hội không có dân chủ, không có tự do phát biểu, ra điều như Giáo hội bách hại một số người." (nhận định của Radio Veritas ngày 19/1/1996).

    Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23/2/2008, Thượng Tọa Thích Không Tánh thuộc GHPGVNTN không được nhà nước công nhận, đã nhận xét về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu (thuộc Giáo Hội quốc doanh do nhà nước dựng lên) gởi cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau:

    “Cái vấn đề là mình phải biết rằng bây giờ là do ai thúc đẩy mà Hòa Thượng Trung Hậu đã làm cái văn thư đó, là do cái lệnh của ai, và người ta đã mượn tay Hòa Thượng Trung Hậu làm cái văn thư đó nhắm mục đích gì. Mình phải biết cái chuyện đó.

    “Bây giờ biết cái tài sản đó là của Tòa Khâm Sứ từ thời xa xưa rồi. Cái chuyện đó ai cũng biết. Từ cái thời xa xưa đó, lúc đó Hòa Thượng Trung Hậu cũng chưa sinh ra, và cái GHVN cũng chưa có. Bây giờ người ta lại mượn tay Phật Giáo.

    “Có những cái luật bất hồi tố. Thí dụ như có những tài sản, theo quốc tế người ta quy định, thí dụ như là những cái đất đai, những cái tài sản mà nó có từ Đệ Nhất hay Đệ Nghị Thế Chiến, thí dụ như vậy, hay là những cái thời điểm nào đó thì nó đã trở thành bất hồi tố. Cho nên bây giờ nó đã qua như vậy rồi.

    “Bây giờ thì Nhà Nước Cộng Sản họ thấy họ khó đáp ứng theo cái đòi hỏi, cái đấu tranh, cái nguyện vọng của bên Công Giáo, thì họ mượn tay của Phật Giáo Việt Nam, rồi cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể giải quyết hay là đình lại, hay là thế nọ thế kia gì đó. Như vậy, vai trò GHPGVN trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà Nước, trước cái hoàn cảnh Nhà Nước không có cái cách để mà giải quyết.”

    “Còn đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử, đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. Còn cái việc của GHVN đã làm đó, mình chẳng có để ý gì cái việc đó.”

    Phật giáo người ta khôn ngoan sáng suốt không dễ bị mắc mưu. Người ta thấy vấn đề rộng lớn hơn, người ta "chẳng có để ý gì cái việc đó". Nhưng ông Cần vẫn cứ để ý, vẫn cứ thắc mắc và xúi người ta thắc mắc. Nhà nước để lộ thiện chí muốn trả, ông Cần vẫn không đồng ý trả. Tại sao ông lại thù Giáo Hội Công Giáo đến thế hả ông Cần?

    Cần thắc mắc: “Có người cho rằng chúng tôi đã ‘nhầm lẫn vấn đề từ căn bản’”. Cần không lý giải được tại sao người ta phê phán Cần như thế. Có lẽ ông già cả lẩm cẩm, hay là vì theo nhà nước lâu năm, sợi dây thần kinh mắc cở của ông đứt mất nên ông không còn biết ngượng đến mức không còn nhận ra được ông là ai và đang làm gì? Thưa ông, đó là cái “nhầm lẫn vấn đề từ căn bản” của ông.

     
    Thúy Dung

    Con đường mở trước mặt: Những giáo sĩ và tu sĩ đã cộng tác với Cộng Sản hãy mau chọn đúng hướng đi cho mình!

     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 18:34)
     
    Con đường mở trước mặt: Những giáo sĩ và tu sĩ đã cộng tác với Cộng Sản hãy mau chọn đúng hướng đi cho mình!

    Tổng Giáo phận và giáo dân Hà nội vẫn còn đang kiên nhẫn chờ đợi công lý được thể hiện

    Trong thời gian từ trung tuần tháng 12 năm 2007 tới đầu tháng 2 năm 2008, người Công giáo khắp nơi trên thế giới đã được chứng kiến tận mắt hoặc qua hình ảnh lòng can trường và gương chứng nhân vì công lý và sức mạnh của niềm tin khi người Công giáo Hà nội tổ chức các cuộc cầu nguyện trước tòa Khâm Sứ đòi công lý.
     
     
    Lời hứa từ Thủ tướng cho tới các viên chức chính quyền Hà nội trong ngày 31/1/2008 là sẽ “trao quyền sử dụng” Tòa Khâm Sứ cho giáo phận Hà nội vẫn còn chờ được thể hiện trong tinh thần hòa hoãn và tôn trọng lẫn nhau hầu cho việc giải quyết được êm đẹp và không biến thành vết dầu loang sẽ lan tràn khắp nơi, có nghĩa vụ việc Tòa Khâm sứ được giải quyết trong nội bộ địa phương ở Hà nội, vụ Thái Hà sẽ do quận Đống Đa hợp tác cố gắng giải quyết hợp tình hợp lý và tôn trọng pháp luật.

    Tòa TGM Hà nội và giáo dân Hà nội đã tỏ thiện chí tối đa, tuy nhiên như chúng tôi đã trình bầy, nếu một khi giáo dân Hà nội thấy mình bị lừa dối thì chiến dịch cầu nguyện sẽ lại được phát động trở lại, và lần này chắc chắn các buổi cầu cầu nguyện sẽ lớn mạnh hơn, và sẽ được lan rộng tới các giáo phận tại Việt nam khác nữa. Chúng tôi đã biết sẵn những "điểm nóng" muốn đốt nến cầu nguyện đòi công lý, tỉ dụ tại những nơi như: Sơn la, Thanh hóa, Phát diệm, Hải phòng, Thái bình, Vinh, Huế, Kontum, Ban mê thuột, Nha Trang, Phan thiết, Đà lạt, Xuân lộc, Hố nai Gia kiệm, một số địa điềm tại Saigòn, Cần thơ, Vĩnh long, v.v...

    nhưng chúng tôi còn khuyên "chưa nên vội" hãy khoan chờ đợi cho một giải pháp tốt đẹp trước tại tòa Khâm sứ trước, và nên để mỗi địa phương sẽ tùy cách thế tốt đẹp nhất mà giãi quyết theo công lý và lẽ phải. Vì thế mà chứng tôi chưa muốn đăng tin tức địa phương đòi công lý trong thời gian này. Các địa phương đang còn chờ đợi!

    Nguồn tin của chúng tôi cho biết: Thời gian đợi chờ cho việc giải quyết êm thắm vụ Tòa Khâm Sứ hạn chót là vào tuần trước Chúa Nhật Lễ Lá ngày 16/3/2008. Nếu lời hứa của chính phủ Hà nội không được thực thi thì giáo dân Hà nội cương quyết khởi đi từ Tuần Thánh, họ sẽ đốt lên “Ánh Lửa Phục Sinh” Ánh Lửa Phục Sinh này sẽ bùng sáng trở lại để công lý, nhân quyền, tự do và chân lý được thể hiện.

    Lần tới đây không những chỉ giáo phận Hà nội cầu nguyện mà cả toàn các giáo phận Việt nam cũng cầu nguyện, cả thế giới đều cầu nguyện và thắp lên “Ánh Lửa Phục Sinh”. Ánh lửa thắp lên lần này sẽ không tắt nữa! Ánh sáng và ngọn lửa của sự thật của Đức Kitô, công lý cho con người, và quyền tự do nhân phẩm giá trị thiêng thiêng của mỗi một người là động lực thúc đẩy không những chỉ người tín hữu Công giáo phải dấn thân, mà cũng là lời mời gọi mọi thành phần thuộc mọi tôn giáo Việt Nam cùng đứng lên tranh đấu cho công lý và cho sự thật vậy.

    Kêu gọi giáo sĩ và tu sĩ đang cộng tác với Cộng sản hãy từ bỏ Cộng sản và trở về cương vị mục vụ thuần nhất của mình

    Sau khí chính quyền cộng sản Ba lan sụp đổ, phải đợi trên 10 năm sau thì hồ sơ mật về những giám mục, giáo sĩ đã hợp tác với Cộng sản mới được đưa ra công luận thế giới.

    Sau đó Giáo hội Công giáo Ba lan đã can đảm duyệt xét những tài liệu chứng minh những giáo sĩ và giáo dân đã từng cộng tác với chế độ cộng sản Ba Lan trước đây xem có thật là chính thực hay chỉ là tài liệu có thể là tài liệu giả. Đồng thời một ủy ban có tên Viện Ghi Nhớ Lịch Sử Ba Lan gồm các học giả Ba lan đã nghiên cứu các tài liệu văn khố của mật vụ Ba Lan để xem giáo sĩ nào đã chính thức và tích cực cộng tác với cộng sản Ba Lan.

    Sau khi đã xác nhận là đúng hay giả, Giáo hội Công giaó Ba lan đã chính thức lên tiếng xin lỗi và đưa radanh sách những ai đã cộng tác với mật vụ cộng sản phá đổ Giáo hội.

    Điển hình nhất là vụ vụ Linh Mục Stalislaw Wielgus trước khi được bổ nhiệm làm tổng giám mục Warsaw cũng đã phải từ chức giám mục. Tờ báo Nasz Dzienik xuất bản ở Ba Lan vàp tháng 1/2007 cho biết những tài liệu chứng minh vị Tổng Giám Mục Ba Lan Stalislaw Wielgus từng cộng tác với chế độ cộng sản Ba Lan trước đây có thể là tài liệu giả. Theo tờ báo nói trên các giới chức làm việc ở Viện Ghi Nhớ Lịch Sử Ba Lan cũng không dám đoan chắc chữ ký của Linh Mục Stalislaw Wielgus ký trên tài liệu còn lưu trữ là chữ ký thật của LM Stanislaw Wielgus. Dầu vậy, đức Giám Mục Stalislaw Wielgus đã phải từ nhiệm Tổng Giám Mục Warsaw vài ngày trước khi nhận chức diễn ra vào tháng Giêng năm 2007. Báo chí Ba Lan đua nhau cáo buộc ĐGM Wielgus đã cộng tác với công an mật vụ cộng sản Ba Lan. Vụ này gây nên sự phẫn nộ trong dân chúng Ba Lan và kết quả là Tòa Thánh phải để TGM Wielgus từ chức Tổng Giám Mục Warsaw.

    Cũng sau vụ này, nhiều học giả kể cả Giáo Hội Ba Lan đã nghiên cứu các tài liệu văn khố của mật vụ Ba Lan để xem giáo sĩ nào đã chính thức và tích cực cộng tác với cộng sản Ba Lan và đòi buộc Giáo hội phải cho nghĩ việc mục vụ.

    Đấy là nói về Ba lan trong một hoàn cảnh, thời gian và không gian có khác xa với Việt Nam. Tại Ba Lan những giáo sĩ được mật vụ mời cộng tác vẫn được giữ kín trong suốt thời gian cộng sản cầm quyền, chỉ được lộ ra mới vào năm 2007 mà thôi. Tại Việt Nam, những linh mục quốc doanh cộng tác với Cộng sản thì đã rõ ràng, đa số họ là những người nằm trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo (tuy không phải mọi thành phần, có một số vì bắt buộc hay miễn cưỡng phải tham gia) và đặc biệt là Nhóm linh mục Trương Bá Cần với tờ báo "Công giáo và Dân tộc". Họ đã có những bài viết ca tụng đảng Cộng sản và tiếp tay chống phá Giáo hội Việt Nam trong suốt trên 30 năm qua. Có những nhân vật như Nguyễn Thiện Toàn và Phan Khắc Từ còn khoe khoang thành tích làm tôi cho cộng sản như thế nào. Chúng tôi có rất nhiều tài liệu về các linh mục quốc doanh này mà chưa muốn công bố, nhân đây chỉ muốn trưng ra chính tài liệu công khai của Cộng Sản đã ca ngợi thành tích nổi bật của:
    LM Nguyễn thiện Tòan tự khoe về thành tích làm việc cho Cộng sản (xin nhấn vào đây để xem ) và thành tích chế bom và công đầu đón cộng sản của LM Phan khắc Từ hãnh diện nói ‘Nhà thờ Vườn Xoài trở thành nơi chế tạo bom xăng phục vụ phong trào đốt xe Mỹ’ (xin nhấn vào đây để xem) ...

    Trong cuộc họp mật của UBĐKCG hai ngày vừa qua 27-28/02/2008, chúng tôi rất hoan nghênh sự đổi chiều và ý hướng từ bỏ hợp tác với cộng sản của một số các linh mục Minh ở Bạc Liêu, LM Phúc ở Nha Trang, v.v... và nữ tu như nữ tu như Nguyễn Thị Mỹ (dòng Bác Ái Vinh sơn), nữ tu Mai Thành (dòng Đức Bà) v.v...

    Trước đây tại Ba lan, thông tin bị bưng bít và không có cách nào để điều tra sự thật và biết rõ sự thật xem những giáo sĩ nào đã cộng tác với cộng sản, phải đợi gần 20 năm Ba lan mới giải được cái nạn "chiên đội lốt sói" làm hại anh em mình! Với kĩ nghệ truyền thông và phương tiện hiện đại ngày hôm nay, những hoạt động của các giáo sĩ và tu sĩ Việt Nam hoạt động cho cộng sản đã rõ ràng (hiện chúng tôi đã có trong tay rất nhiều hồ sơ mà giáo dân và các xứ đạo của các tu sĩ từng hoạt động với cộng sản, những sự lạm dụng quyền bính của các vị này áp bức dân lành và vì quyền lợi và ân huệ Cộng sản ban cho). Chúng tôi chưa công bố những tài liệu này và sẽ không công bố nếu các vị đó tự mình và công khai từ bỏ việc cộng tác với cộng sản. Chúng tôi hy vọng trong một thời gian ngắn các linh mục và tu sĩ đang còn cộng tác với Cộng sản hãy chọn con đường trở về trong cương vị đích thực của mình trong Giáo hội.

    Đòi hỏi Hàng Giáo Phẩm Việt Nam phài có thái độ với những giáo sĩ đang cộng tác với Cộng sản

    Cũng thế, ngày nay, các vị Giám mục và Hàng Giáo Phẩm Việt Nam cần phải có thái độ quyết tâm và dứt khoát, với lập trường can đảm bắt đầu một tiến trình thanh tầy hàng ngũ và có thái độ cứng rắn với những linh mục hay tu sĩ mà các vị giám mục biết rõ đang hoạt động cho cộng sản thì phải cảnh giác đòi buộc họ phải trở vể với đời sống linh mục chính hiệu, từ bỏ con đường chính trị làm tay sai cho cộng sản. Đây là lập trường và đường lối chung của Giáo hội, của Vatican mà các Đức giáo Hoàng cận đại đã từng lên tiếng. Các Giám Mục Ba Lan và các Hội Đồng Giám Mục Đông Âu là tấm gương. Hàng Giám Mục Việt Nam không phải đợi đến khi chế độ Cộng Sản Việt Nam tan rã thì mới lên tiếng. Các Ngài có trách nhiệm luân lý và tinh thần trong cương vị là mục tử đích thật của Giáo hội, cần phải can đảm đối diện với những vết thương đã từng làm tê liệt và phá hoại Giáo hội Việt nam trong mấy thập niên qua. Nếu giáo dân Việt Nam đã chứng tỏ lòng quả cảm đứng lên bênh vực cho chân lý và công lý, thì hàng giám mục và giáo sĩ lại cần phải can đảm và nêu gương sáng cho tập thể Công giáo Việt nam. Các vị không còn lý do gì để thối thác trách nhiệm trước lương tâm và trước mặt Chúa, khi các vị được trao phó trách nhiệm dẫn dắt, chăm sóc, bênh đỡ, bảo toàn và nêu gương sáng cho đoàn chiên của mình.
     
    VietCatholic Network
     
     
     
     
     
    February 28

    Bằng chứng: Nhóm Giao Điểm là cánh tay nối dài của Công An và Đảng Cộng Sản Việt Nam

     
     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 15:45)
     
    Bằng chứng: Nhóm Giao Điểm là cánh tay nối dài của Công An và Đảng Cộng Sản Việt Nam ???!!!
     
     
    Thiên Sứ
     
     
     
     
     
     
     Lê Công Hoàng là Đại tá phó cục trưởng cục an ninh tôn giáo phụ trách phía nam.
     
     
    Muốn biết thêm chi tiết, xin vào đây, nhất là nghe đoạn audio nói chuyện với viên đại tá này cũng được đưa lên trên trang X-Cafe này, mà chúng tôi copy lại ở đây. Người gọi điện nói chuyện là bác sỹ Lý Mạnh Tiến, cựu chiến binh quân báo mặt trận 479.
     

    Giáo xứ Mỹ Dụ, giáo phận Vinh, gặp khó khăn với chính quyền địa phương

     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 16:10)
     
    VINH, NGHỆ AN - Sau thánh lễ Chúa nhật ngày 24/02/2008, cha Phạm Quang Long, quản xứ Mỹ Dụ, ngõ lời với cộng đoàn: “Xin mời anh chị em nán lại một chút để nghe chuyện thời sự liên quan đến giáo xứ chúng ta. Ngày 22/02/2008, Ủy ban Nhân dân xã Hưng Châu đã mời Hội đồng Giáo xứ đến ‘để trao đổi một số nội dung cần thiết’. Đại diện Hội đồng Giáo xứ là ông Nguyễn Đức Thắng, chủ tịch, và ông Trần Văn Sơn, thư ký, đã đến làm việc với chính quyền một buổi chiều. Thực sự không phải là ‘một số nội dung cần thiết’ mà chỉ một vấn đề thôi: đó là việc chúng ta sửa nhà xứ mà chính quyền đòi phải báo cáo và phải được chính quyền cho phép. Hai bên đã ‘làm việc’ với nhau khá căng thẳng. Sau đây xin mời ông Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ trình bày cho cộng đoàn cụ thể như thế nào”.

    Tiếp theo ông Nguyễn Đức Thắng, Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ trình bầy như sau: “Kính thưa Cộng đoàn, theo giấy mời của ủy ban nhân dân xã Hưng Châu, tôi và ông thư ký đã lên hội trường xã, tôi thấy có ông trưởng phòng tôn giáo huyện, nhưng trực tiếp làm việc với chúng tôi thì có ông Đường (phó ban tôn giáo huyện) và ông Nguyễn Văn Doan (phó chủ tịch xã Hưng Châu). Với thái độ gay gắt, ông phó chủ tịch xã đòi chúng tôi phải báo cáo và phải có thiết kế. Lập luận của tôi là: ‘Chúng tôi chỉ sửa nhà ở của cha quản xứ, cũng là một hộ như bao nhiêu nhà dân khác, nên không phải báo cáo và trình bản thiết kế gì cả’.

    “Như bà con chúng ta đều biết: căn nhà 5 gian làm bằng gỗ là của một nhà giàu có trong vùng, cha xứ cũ là Nguyễn Trọng Kiểng đã mua lại từ năm 1962. Gần nửa thế kỷ không sửa chữa và tôn tạo nên nhà bị ẩm thấp và xuống cấp trầm trọng. Căn nhà không thể sử dụng được, mà cha xứ thì không có chỗ ở. Có người dân nào làm nhà mà phải báo cáo và trình thiết kế với chính quyền đâu! Nghĩ đến đây tôi cảm thấy khôi hài và bật cười, thì ông Doan bảo: ‘Không được cười’. Tôi đáp lại: ‘Ở đây có ông phó ban tôn giáo huyện, còn ông là phó chủ tịch phụ trách khối văn hóa xã hội, là những người làm công tác dân vận thì phải có tình cảm với nhau”. Và ông Doan nói cộc lốc: ‘Tôi không cần tình cảm!”

    Được biết giáo xứ Mỹ Dụ gặp khó khăn với chính quyền trong 20 năm qua. Và Mỹ Dụ trở thành điểm nóng về đất đai khi chính quyền đòi chiếm đất nhà thờ để làm con đường du lịch ven sông Lam. Đỉnh điểm là biến cố chiều thứ 7 Tuần Thánh năm ngoái khi chính quyền cho xe đến ủi đất nhà thờ, nhưng giáo dân Mỹ Dụ đã kịp thời ngăn chặn. Sự kiện này đã được đăng tải trên mạng VietCatholic ngày 08/5/2007 và trang nhà của Radio Veritas http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/07news/7news286.htm.

    Mỹ Dụ vốn là một giáo xứ sầm uất, được tách ra từ giáo xứ Làng Anh năm 1869. Trước kia, có nhiều linh mục và tu sĩ xuất thân từ Mỹ Dụ, và nơi đây nổi tiếng về một thứ đặc sản là rươi. Từ lâu người ta còn truyền tụng câu: “Rươi Mỹ Dụ, cụ Thổ Hoàng”. Ở vùng Daklak thì có câu: “Cam Xã Đoài, rươi Mỹ Dụ, cụ Hòa Ninh”. Không biết Chúa an bài thế nào mà giờ đây coi xứ Mỹ Dụ là một cha Hòa Ninh. Ngày nay rươi Mỹ Dụ rất khan hiếm, và linh mục người Mỹ Dụ cũng khan hiếm như rươi!

    Mới đây có một người bà con của tôi ở Daklak về thăm, khi đi qua nhà thờ Mỹ Dụ ông ta hỏi: “Ở đây có cha xứ không mà khuôn viên hoang phế như vậy?” Thực ra, giáo xứ của tôi rất may mắn có cha xứ phục vụ liên tục suốt gần 150 năm qua kể từ khi được thành lập, nhưng khổ nỗi toàn là các cha già về hưu, nên công việc mục vụ và cơ sở vật chất còn yếu. Cha xứ mới của chúng tôi, cha GB Phạm Quang Long, về nhận xứ từ ngày 21/12/2007, ngài vẫn còn trẻ và có nhiều việc phải làm về công tác mục vụ cũng như việc kiến thiết nhà thờ, nhà xứ. Toàn bộ khuôn viên nhà thờ (dài 180m, rộng 60m) chưa có hàng rào, càng ngày càng bị chính quyền và dân chúng chung quanh lấn chiếm nên thu hẹp dần.

    Dưới đây là hình ảnh: Giáo dân Mỹ Dụ ngăn chặn xe ủi đât thờ thứ 7 Tuần Thánh 2007, Hơn 300 giáo dân tham gia đổ bê-tông ngày 26/02/2008 Mỹ Dụ, và giáo xứ này là một cộng đoàn đông đảo và sinh động.
     
    Nguyễn Dũng
     
     
     
     
     

    Tin nóng: Công an định phá đám giáo dân xây tường rào đất giáo xứ Thánh Cẩm, giáo phận Saigòn

     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 15:19)
     
    Tin nóng: Công an định phá đám giáo dân xây tường rào đất giáo xứ Thánh Cẩm, giáo phận Saigòn

    SAIGÒN -- Vào lúc 9:00g sáng hôm nay 28/02/2008 giáo dân giáo xứ Thánh Cẩm, địa chỉ 16/1 Nguyễn Văn Tăng, ấp Chân Phúc Cẩm, P. Long Thạnh Mỹ, Q. 9, Saigòn, đang đang thi công xây dựng tường rào bảo vệ đất của giáo xứ thì có hàng chục nhân viên công an cáo xanh của đô thị, dân phòng đi xe cảnh sát đến ngăn cản không cho giáo dân xây dựng tường rào tại đất của giáo xứ Thánh Cẩm.
     
    thanhcam2
    Công an đến quay phim!
     
    Cha chính xứ thấy vậy cho rung chuông báo động. Giáo dân kéo tới khoảng 300 người để bảo vệ quyền lợi của giáo xứ. Thấy đông đảo dân chúng kéo tới nên công an và các nhân viên chính quyền đã rút lui.

    Nguồn gốc đất đai của giáo xứ Thánh Cẩm hiển nhiên đã có từ cả trăm năm nay. Sở dĩ chính quyền không cho giáo dân ở đây xây tường rào bởi họ đang âm mưu lợi dụng khu công nghệ cao chiếm đất của nhà thờ giáo xứ này.

    Trong vài tuần qua, giáo dân của giáo xứ đã đã đào lỗ chuẩn bị xây tường, đến hôm nay, Cha xứ cho phát động việc xây hàng rào và tường, nên công an kép tới làm khó dễ và ngăn cản. Trong số người đên1 đây hôm nay có cả công an chìm trà trộn trong dân chúng để quay phim và chụp ảnh.

    Lúc đầu số giáo dân đến chừng 200 người, họ ùa nhau phản đối nhân viên chính quyền, sau đó dân ch1ung đến càng lúc càng đông, nên công an và nhân viên chính quyền đành bỏ ra về.

    Tiếp đó giáo dân tiếp tục xây dựng. Cho đến chiều hôm nay, công việc xây dựng hãy còn tiếp tục tiến triển.

    Một vài vị trong ban quản giáo của giáo xứ cho biết có thể trong hnững ngày tới chính quyền địa phương sẽ tiếp tục làm khó cha xứ và giáo dân ở đây. Mộ cụ già sống lâu năm trong giáo xứ đưa ý kiến rằng: "Đất của giáo xứ này đã có cả trăm năm nay, giáo dân chúng tôi chỉ muốn được bình an giữ đạo Chúa. Chúng tôi không mong gì hơn là chính quyền hãy để yên cho dan chúng sinh sống và giữ đạo. Đất đai của nhà thờ cin đừng chạm vào, nếu muốn đầu tư chiếm đất thì hãy kiếm nơi khác!".

    Dưới đây là cảnh giáo dân xây tường rào, dân chúng kéo tới phản đối công an...


     

    Suy nghĩ về Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo VN

     

    Ý kiến độc giả : Suy nghĩ về Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo VN

     

    Tin tức về vụ Tòa Khâm Sứ thời gian gần đây nổi lên nhiều bài viết phê bình Lm Trương Bá Cần cũng như báo Công Giáo và Dân Tộc, công cụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Luôn tiện đó, một câu hỏi đã được nêu lên là cơ quan ngoại vi này của Nhà Nước VN liệu còn lý do gì để tồn tại nữa hay không ? Đẩy đến tận cùng, thì câu hỏi là : Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo VN có cần thiết nữa không ? Còn lý do gì để duy trì một cơ quan như thế ?

    Mục  đích được nói ra, đó là ai cũng biết nó có nhiệm vụ làm « trung gian » giữa Nhà Nước và Giáo Hội, giúp thắt chặt tình đại đoàn kết dân  tộc nói chung và trong Công Giáo nói riêng. Nó có nhiệm vụ chuyển tải chính sách của Nhà Nước đến tôn giáo và những tiếng nói từ phía tôn giáo đến Nhà Nước. Rất « đẹp » như là mục đích và sứ mệnh. Cũng có thể là nó có nhiệm vụ kích thích người Công Giáo sống đức tin, đồng hành cùng dân tộc, xây dựng đất nước. Tất cả đều rất « đẹp » !

    Thế nhưng, cho dầu sứ mệnh và mục đích của nó tốt đẹp như thế, vậy mà ngay từ những ngày đầu nó được thành lập cho đến mãi hôm nay, với vụ Tòa Khâm Sứ, người Công Giáo vẫn còn tiếp tục thắc mắc về sự tồn tại của nó. Nó có nên và ráng tồn tại như thế không ?

    Nhiều người cho thấy là trong một hoàn cảnh đặc biệt, nó thạt sự rất « cần », vì nó giúp tạo sự đối thoại giữa Nhà Nước Cộng Sản VN và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, giảm sự căng thẳng. Thế nhưng, thực chất, nó đã giúp được gì ? Cho đến hôm nay mục đích và sứ mệnh ra đời của nó vẫn bị coi là dư thừa và nguy hiểm, vi trên thực tế, những gì mà cơ quan này thực hiện hoàn toàn nói ngược lại mục tiêu và sứ mệnh đó. Vả lại nó có tư cách gì để làm trung gian ?

    Rõ ràng chưa bao giờ Ủy ban này là đại diện cho người Công Giáo VN, cho HĐGM VN, và HĐGMVN chưa hề giao cho nó cái sứ mệnh đó. Ủy Ban này lợi dụng một thời điểm tế nhị trong lịch sử để qua mặt Giáo Hội Công Giáo VN, HĐGMVN và ngừoi Công Giáo VN. Nó là cơ quan được Nhà Nước lập nên, và vì thế, mục tiêu không được nói ra đó là nó phải trở thành một công cụ của Đảng Cộng Sản VN. Thật thế, nếu nó thành công bao nhiêu trong việc trở thành dụng cụ của Đảng , thì nó lại càng thất bại bấy nhiêu đối với Giáo Hội Công Giáo VN. Chính vì thế, ngày nay, trong sự nhận thức ngày càng cao về vị thế của mình giữa lòng xã hội, người Công Giáo không ngại ngùng tuyên bố đã đến lúc cần dẹp bỏ Ủy Ban này đi, nó chỉ có lợi cho Đảng, nhưng lại hại nước hại Giáo Hội. Nó mang tên là « Đoàn kết Công Giáo », nhưng lại gây chia rẽ trâm trọng. Nó làm vai trò trung gian, nhưng chẳng ai cần đến nó và chẳng ai tin nó. Nó giúp đưa đức tin vào lòng dân tộc, nhưng đó là một việc dư thừa, vì người Công Giáo đã và đang sống đức tin giữa lòng dân tộc. Thay vì tạo tình đoàn kết dân tộc, nó lại là công cụ chia rẽ. Người ta đặt vấn đề vậy thì sự tồn tại của nó có lợi cho ai ?

    Rõ ràng câu trả lời là có lợi cho Đảng, điều đó là không thể phủ nhận. một số ngừoi nói là nó là cơ hội để đem ánh sáng tin mừng cho Đảng, cho dân tộc ? Thế nhưng, một công cụ gây chia rẽ thì không phải là hoa trái của Tin Mừng. Vậy thì bên cạnh lợi ích của Đảng, thì phải kể ngay rằng đó là vì lợi ích của những kẻ tham gia Ủy Ban này mà thôi.

    Có nhiều Linh Mục nói rằng tưởng ông cha A hay B kia vào Ủy Ban, thì sẽ giúp được địa phận, Giáo Hội…nhưng cuối cùng rõ chẳng giúp được gì, hóa ra cuối cùng chỉ là công cụ bung xung cho Đảng, đánh bóng Đảng ! Tiếng nói của Ủy Ban này, vì chỉ là con rối, nên không có trong lượng chút nào. Vị trí của họ giữa Quốc Hội…cũng chỉ là trang trí nhằm che đậy thành tích vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Việt nam. Bản tin do Thiên Sứ đưa lên cho thấy Ủy Ban này sống mà như chết và Nhà Nước đang cố gắng cho nó cầm cự được chừng nào hay chừng đó. Nó như con ký sinh trùng sống nhờ vào ân huệ của Đảng, tiền của Đảng…Một ngày nào đó, Đảng hô biến, thì nó tự động biến ! Làm linh mục mà không phục vụ Giáo Hội thì thử hỏi, quý cha phục vụ cho ai ? Nếu nói phục vụ cho Giáo Hội, đang khi Giáo Hội đâu cần đến cái Ủy Ban bung xung này đâu ? Rõ ràng mục tiêu Công Giáo quốc doanh như ở Trung Quốc đã hoàn toàn thất bại, nhưng nếu giữ nó để làm công cụ tấn công Giáo Hội, chia rẽ Giáo Hội, thì có lẽ nó vẫn đang hữu ích cho Đảng.

    Hôm nay có nhiều tiếng nói thẳng thắn răng Ủy Ban này không còn cần thiết nữa và Đức Cha Thái Bình đã nói thảng như thế « chẳng có tác dụng gì ». Nếu các Đức Giám Mục VN đều đồng thanh như thế, thì số phận của Ủy Ban này càng đến hồi kết liễu nhanh chóng. Rõ ràng, ngày nay, HĐGMVN đã có thể đối thoại trực tiếp với Nhà Nước, vậy vai trò của Ủy Ban này là dư thừa.

    Không chỉ là một áp lực bên ngoài, đó cũng là một tiếng gọi ngay đối với các thành viên của Ủy Ban này. Hãy tự động giải tán ! Vì đó là lợi ích của Giáo Hội thực sự và cũng là lợi ích của dân tộc. Đất nước và Giáo Hội không cần đến một Ủy Ban không kiến tạo hòa bình và sự ổn định của xã hội. Rõ ràng chỉ vì ích lợi cá nhân, mà vẫn còn một số người còn tham vọng bám lấy Ủy ban này.

    Các linh mục quốc doanh tự hào kể rằng vào Ủy ban này thì được lợi nhiều lắm : có xe hơi riêng, đi xe hơi riêng, rồi mang biển số ưu tiên, có quyền cấp bằng khen cho các giáo xứ thi đua xã hội tốt. Có vị thì đi đâu cũng đeo huy hiệu mà vị đó mang khi đi họp quốc hội và lấy làm tự hào. Rồi đi máy bay là ngồi chỗ VIP, đi họp quốc hội thì ở nhà máy lạnh sạch sẽ, áo quần mặc cả tuần không hề cần giặt giũ hằng ngày như ở giáo xứ. Thậm chí có vị lợi dụng sự quen biết với chính quyền, đã dám thách thức Giám Mục của mình khi không chịu đổi xứ khác mà Giám Mục muốn. Họ là những người tham quyền, chức vị...

    Khi đem kể những thứ đó, các vị không hề biết rằng người nghe rất coi thường những mục tử không vì đàn chiên của mình, nhưng chỉ tìm thỏa mãn bản thân. Các linh mục quốc doanh này tự coi mình như những ông quan, chứ không còn tôi tớ phục vụ nữa. Cái đó mới thật là bôi xấu hình ảnh ngừoi linh mục của Giáo Hội Công Giáo. Họ là những ngừoi chạy trồn đàn chiên, bỏ bê công việc mục vụ, họ không còn đồng hành với đàn chiên, với anh em của mình nữa, nhưng là đí song song và cũng thật tội nghiệp, ngừoi giáo dân nhìn họ như là những người « tội phạm »…Nói chung đó là những mục tử đã biến chất ! Khi đã « ăn » đầy miệng, thì Đảng sai đánh đâu thì xung trận đó mà thôi, đó là điều đương nhiên, như chúng ta thấy thời gian vừa qua.

    Đã đến lúc phải lên tiếng giải tán Ủy Ban bung xung này, bởi vì sự tồn tại của nó là phi lý, đàu mối của chia rẽ. Thời giờ của nó đã điểm !

    Một giáo dân Đà Nẵng

     

     

    Đất nhà xứ Tràng An (Bắc Giang): Đâu là công lý, đâu là lẽ phải?

     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 14:02)
     
    Đất nhà xứ Tràng An (Bắc Giang): Đâu là công lý, đâu là lẽ phải?

    Vì sao hơn 10 năm ”hành trình” đòi đất Nhà thờ xứ đạo An Tràng, tỉnh Bắc Giang đi vào ngõ cụt?

    BẮC GIANG - Hơn 5000 m2 đất thuộc Nhà thờ xứ đạo An Tràng (thôn Minh Đạo, xã Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) giờ chỉ còn hơn 1000m2. Trong 7 hộ dân chiếm đất Nhà thờ, đã có 5 hộ trả lại. Tuy nhiên còn 700 m2 đất vẫn do 2 hộ chiếm dụng do họ đã được UBND huyện cấp “sổ đỏ” quyền sử dụng đất..

    Vậy là bà con giáo dân đã phải cử đại diện làm đơn đòi lại đất từ năm 1996...

    Hơn 10 năm nay, Ban hành giáo của Giáo xứ đã phải vất vả đi gõ cửa các cơ quan công quyền của huyên và tỉnh. Hết hòa giải ở UBND xã, UBND huyện không xong; vụ việc lại phải đưa lên tỉnh. Đơn từ cứ phải “chạy đèn cù” như vậy đã hơn 10 năm nay… Bà con Giáo dân tuyệt vọng bèn đi gõ cửa cơ quan báo chí. May thay tờ Đại đoàn kết cũng cử phóng viên về điều tra và có bài cho đăng báo ngày 16/7/2007 (xem ảnh bài báo đính kèm, phần cuối bài).

    Chuyện tưởng như đơn giản (mượn đất để ở thì phải trả lại). Vậy sao giờ đây với đủ chứng lý và tài liệu mà giáo dân vẫn phải mỏi mắt đợi chờ? Đó là kết quả của lối làm tắc trách, vô trách nhiệm và thói “vòi vĩnh” của bộ máy công quyền Nhà nước thỉ phải! Họ thấy sai mà không dám thẳng thắn nhận sai và sửa sai. Vì sao UBND huyện Yên Dũng cấp giấy quyền sử dụng đất ở cho hai hộ lấn chiếm đất Nhà thờ trong khi đó UBND xã đã không biết?

    Ngày 09/12/2004, Phó chủ tịch UBND tỉnh ra Quyết định hủy quyết định của UBND huyện Yên Dũng, giao Sở Tài nguyên và môi trường xem xét lại. Sở Tài nguyên và Môi trường đã có bản đồ lưu trữ xác minh được 700m2 đất của 2 hộ dân là thửa đất của Nhà thờ. Vậy tại sao UBND huyện không thu hồi “sổ đỏ” quyền sử dụng đất của 2 hộ đã lấn chiếm đất đai của Nhà thờ? Đấy là chưa xem xét đến việc ai đó đã cấp “sổ đỏ chui” không qua giới thiệu và xác nhận của UBND xã sở tại!

    Vụ việc được đưa lên Tòa án Nhân dân tỉnh để thụ lý từ năm 2006. Tại đây, với cái lý của kẻ có chức, có quyền; giữa năm 2007,Tòa đã phán quyết: “bác đơn của Ban hành giáo về chuyện đòi lại đất đai Nhà thờ vì Ban hành giáo không có tư cách pháp nhân. Muốn được Tòa ánh tỉnh xử thì đơn kiện phải do Tòa giám mục đứng tên gửi. Bà con giáo dân vốn thấp cổ bé họng có lẽ thua vụ này vì xứ đạo nhỏ bé làm gì có Cha và Tòa giám mục ngoài 1 bà Sơ với 2 ngàn giáo dân nông nghiệp? Lập luận như Tòa án Tỉnh thì cá nhân một công dân chẳng thể kiện hoặc tố cáo một hành vi bất minh và sai trái nào hết!

    Huyện hứa thu lại giấy quyền sử dụng đát của 2 hộ lấn chiếm mà vẫn chưa thu hồi. UBND tỉnh “bác” quyết định sai trái của UBND huyện rồi bỏ đó. Tòa án tỉnh bảo rằng “không có tư cách pháp nhân” thì sao lại đi kiện để đòi đất! Quẩn quanh như vậy đã hơn 10 năm. Vậy đâu là công lý, đâu là lẽ phải?

     
     

    Cuộc họp của Đoàn Chủ tịch, Ban Thư ký Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam

     
    VietCatholic News (Thứ Năm 28/02/2008 11:41)
     
    HÀ NỘI -- Trong 2 ngày 27 và 28-2-08, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Ban Thư ký của UBĐKCGVN đã họp để ban về việc chuẩn bị cho Đại hội 5 của tổ chức này mà lẽ ra phải tổ chức vào cuối năm 2007.

    Tham dự có 20 giáo dân và linh mục, chủ yếu ở phía Nam. Phía Bắc chỉ có 2 linh mục Nguyễn Đức Hiệp (Bùi Chu) và Phạm Văn Tuyên (Thái Bình). Phía Trung ương có đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban dân vận Trung ương, Mặt trận Trung ương. Linh mục Trương Bá Cần và Báo CG&DT không ra họp “vì ốm”. Nhiều nữ tu như Nguyễn Thị Mỹ (dòng Bác Ái Vinh sơn), nữ tu Mai Thành (dòng Đức Bà)… đều xin thôi.

    Mở đầu, ông Trần Đình Phùng- Vụ trưởng Vụ Tôn giáo và dân tộc, ủy viên Thường trực MTTQVN đã thông báo ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc họp giao ban cuối tháng 1, 2008 của Chính phủ rằng, việc giáo hội làm đơn xin cấp đất để sử dụng vào việc sinh hoạt của HĐGMVN là việc làm chính đáng. Nhà nước không thể bỏ qua. Không thể để một tổ chức cao nhất của giáo hội với 6 triệu tín đồ đã 27 năm đồng hành cùng dân tộc (ý nói từ khi thống nhất năm 1980) mỗi lần họp hội lại phải đi nhờ hết địa phương này địa phương khác. Vì vậy Thủ tướng giao cho Ban Tôn giáo CP, UBND TP Hà Nội và một số Bộ liên quan xem xét nhu cầu đó. Thủ tướng cũng ca ngợi thiện chí của Vatican và Tòa TGM Hà Nội khi hướng dẫn giáo dân Hà Nội ngưng các buổi cầu nguyện hầu tránh hành động quá khích có thể xẩy ra và coi đây là một cử chỉ đối thoại thiện chí nên Chính phủ cũng thiện chí đáp lại. Ông yêu cầu Ủy ban ĐKCG tiếp tục cổ vũ cho tinh thần đối thoại đấy, tránh các ý kiến làm xấu đi tình hình. Ông cũng nói, khi nghe các Giám mục Vũ Huy Chương nói về việc Sơn La không cho linh mục lên làm lễ dịp Noel vừa qua và TGM Kiệt nói ở Hòa Bình cũng thế, ông Phạm Thế Duyệt đã trực tiếp báo cáo với Thủ tướng và gọi điện cho Sơn La, Hòa Bình để chấn chỉnh.

    Về Ủy ban ĐKCGVN, ông nói đã gặp một số Giám mục để xin ủng hộ từ phía giáo quyền, TGM Kiệt nói không cấm đoán nhưng nói "cần phải là người Công giáo đích thực và hiệu quả". Riêng Đức GM Nguyễn Văn Sang là còn khó khăn vì nói rằng, ủy ban này "chẳng có tác dụng gì".

    Một số linh mục phía Nam như linh mục Phúc ở Nha Trang nói ủy ban ra đời trong bối cảnh đặc biệt, nay Nhà nước đã đối thoại với giáo hội trực tiếp nên không cần thiết nữa.

    Sau vụ nhà thờ Bạc Liêu, linh mục Minh ở đây cũng bỏ ủy ban luôn.

    Linh mục Trần Xuân Thảo ở Xuân Lộc than phiền, nói ủy ban bênh vực quyền lợi giáo dân nhưng ngay bản thân linh mục kêu cứu cũng chẳng ai giúp đỡ.

    Nói về tờ báo công giáo, linh mục Thiện Cẩm than phiền, bài của mính luôn bị cắt xén và bị bỏ hẳn. Vụ nói về Pháp lệnh dịp đó linh mục Cần đi vắng mới đăng được. Báo Người Công Giáo bị phê phán gay gắt vì báo đạo mà toàn nói chuyện đời. Linh mục Thiện Cẩm nói khi vận động TGM Kiệt viết bài, TGM nói, "viết báo ấy cho xấu cả người viết".

    Linh mục Phúc cũng nói, báo công giáo mà toàn tuyển người không công giáo thì sao viết được.

    Linh mục Thiện Cẩm bảo, mạnh dạn đề nghị "bỏ tờ báo đi hay thay Tổng biên tập", nhưng linh mục Khóa nói “tờ báo mang danh là cơ quan ngôn luận của ủy ban nhưng họ được nhà nước cấp tiền, bổ nhiệm nhân sự chứ ta đâu có quyền”.

    Khi thanh minh cho linh mục Trương Bá Cần, Linh mục Phan khắc Từ nói rằng, ý đồ của linh mục Trương Bá Cần cũng muốn bênh giáo hội nhưng lẩm cẩm và đó là ý kiến cá nhân nên ủy ban bị vạ lây. Chẳng ai bảo ông ấy viết cả.

    Nhưng ông Chủ tịch ủy ban Hà Nội nói rằng, "công an cũng vận động viết bài hay nói trên truyền hình để phê phán giáo hội nhưng ông không viết". Đa số phê phán bài của linh mục Trương Bá Cần và lá đơn của Hòa thượng Thích Trung Hậu nói là “dở hơi”.

    Trước đây, linh mục Phan khắc Từ dỗi xin nghỉ vì không được giới thiệu ra ứng cử Quốc hội mà lại đưa linh mục Danh và Thiện Cẩm ra. Ông Duyệt nói, "nghỉ đã có người khác". Nhưng do ông Nguyễn Minh Triết can thiệp và nay ông Duyệt nghỉ rồi nên Lm Từ lại ra tham gia. Lm Khóa tưởng Lm Từ nghỉ nên muốn tiếp tục để còn được giữ chân Phó Chủ tịch MTTQVN, "có xe riêng, lái xe riêng". Vậy là sinh mâu thuẫn.
     
    Lm Phan Khắc Từ được cử làm Trưởng ban tuyển chọn nhân sự cho đại hội sắp tới, còn LM Thiện Cẩm làm trưởng ban soạn thảo văn kiện. LM Khóa chắc chắn phải nghỉ. Dự định vào quý 3 mới đại hội để tránh phải nói đến vụ việc cầu nguyện. Khả năng tìm cho được 60 linh mục và 20 tu sĩ đưa vào ủy ban rất khó. Lm Danh nói, ở Sài Gòn xin nghỉ hết rồi, các linh mục trẻ không hào hứng gì. Lm Khóa nói, báo CG&DT mua biếu các linh mục trẻ cũng không đọc.

    Khả năng Lm Phan khắc Từ sẽ là Chủ tịch và Lm Thiện Cẩm sẽ là Tổng thư ký. Lm Khóa đề nghị Nhà nước giải quyết nơi bị lấn chiếm ở S Marie, là nơi các linh mục ủy ban hay làm lễ để dễ nói với giáo hội. Lm Hiệp nói, nhà thờ Khoái Đồng, tỉnh đã đồng ý trả lại rồi. LM Thiện Cẩm muốn ra cơ sở ở Khoái Đồng và về làm việc thường trực ở ủy ban luôn nhất là nắm được tờ báo thì tốt nhất.
     
    Thiên Sứ
     
     
    LMPhanKhacTu
    LM Phan Khắc Từ

    Trao đổi về bài viết của Trương Công Khanh

     
    Điểm nhấn :
     
    Little Saigon Radio: Đừng xa vào cái bẫy rất nguy hiểm . Vũ Quang Ninh
     
     
      
     
     
     
     
     
    Trao đổi về bài viết của Trương Công Khanh
     
    Hoàng Cúc
     
    Trong bài viết của Trương Công Khanh, nhan đề “Những bài học ứng xử cần thiết”, tác giả cho rằng tôi sai lầm ở hai điểm. Nhân đây, tôi xin trở lại với hai điểm tác giả đề cập, đồng thời trao đổi về những trích dẫn của tác giả trong bài viết kể trên.

    Điểm thứ nhất, theo tác giả “Điều nhầm lẫn của Hoàng Cúc chính là mượn vào bức ảnh (nhầm lẫn) đó để “phủ định” những dư luận cho rằng Phật giáo mới là sở hữu chủ thực sự của mảnh đất Tòa Khâm sứ (vốn là chùa Báo Thiên).” Điểm thứ hai, tác giả cho rằng “Chính vì luận suy này mà Hoàng Cúc đã dẫn chứng tư liệu về tháp Báo Thiên, theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, xem đó là những tư liệu tin cậy. Đúng như vậy, nhưng tác giả phải lưu ý đó là nói đến tháp Báo Thiên (một trong An Nam tứ đại khí) chứ không hoàn toàn nói đến chùa Báo Thiên.”

    Khi đề cập đến bức ảnh, tôi chỉ muốn chỉ ra trò đánh tráo thiếu lương thiện khi ai đó cố tình lầm lẫn giữa chùa Báo Thiên với chùa Báo Ân. Trong mục ý kiến ngắn ngày 8-2-2008, Trần Đình Hoàng đã ra sức bào chữa rằng: “bức ảnh mà Hoàng Cúc nói đánh tráo gì đó không phải là “tác phẩm” của tôi và cũng không có trong bản gốc bài viết của tôi, nhưng do ban biên tập thêm vào.” Sau đó vài hàng, Trần Đình Hoàng viết thêm: “Bức ảnh đó chỉ mang tính cách minh họa chứ không phải là một chứng từ lịch sử để làm cơ sở mà tố khổ người viết là “đánh tráo”, một cáo buộc chẳng những nặng nề, mà còn quá hồ đồ và vô trách nhiệm.” Quả thực, khi nói “Bức ảnh đó chỉ mang tính cách minh họa” Trần Đình Hoàng đã tự “minh hoạ” rất rõ cho quan điểm của mình rồi, tôi thiết nghĩ không cần phải phí quá nhiều lời với chuyện này.

    Về điểm thứ hai, Trương Công Khanh đọc lại bài viết của tôi sẽ thấy tôi không hề có ý nhầm lẫn tháp Báo Thiên với chùa Báo Thiên. Tôi đã viết rằng: “Tội danh “phá Tháp” của thực dân Pháp và người Công giáo đã bị Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ phủ nhận với tư liệu lịch sử khá rõ ràng. Đối với tội danh “tịch thu đất” “phá chùa”, tôi rất mong Phật tử Nguyễn Quốc Dũng đưa ra những chứng cứ lịch sử xác thực để chứng minh cho ý kiến của mình.” Sau đó vài dòng, tôi viết tiếp: “Từ mấy ngày nay, trên talawas, Lê Điều đã đưa ra một số tư liệu liên quan đến chuyện này, tôi rất mong giới chuyên môn vào cuộc để phân tích và thẩm định những tư liệu đó.” Những ai theo dõi ý kiến của Lê Điều hẳn đều biết rằng Lê Điều đã cung cấp những tư liệu khác nhau về chùa và tháp Báo Thiên. Ngày 31-1-2008, Lê Điều trích một đoạn
    trong cuốn Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam. Ngày 1-2-2008, Lê Điều lại tiếp tục đưa ra tài liệu trong cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX và cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn.

    Bài viết của Trương Công Khanh, cũng đưa ra một đoạn trích dẫn André Masson, sau đó tác giả bàn về từ “mục nát” trong đoạn trích dẫn với một số cứ liệu lịch sử như sau: “Ngôi chùa có thực sự “mục nát” như đánh giá của những người Công giáo hay không? Sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn cho biết trong Thăng Long bát cảnh còn ghi tám bài thơ vịnh cảnh Thăng Long, trong đó có bài thơ của một người Thanh sang nước ta, cảm tác khi nghe tiếng chuông chùa Báo Thiên: “Báo Thiên hiểu chung” (Chuông sớm chùa Báo Thiên). Và lúc đó vẫn còn tên gọi phố Báo Thiên, bán vải thâm và dù xanh. Hơn nữa, vào thời vua Tự Đức, Tổng đốc Tôn Thất Bật cũng đã có sửa sang lại chùa. Theo tác giả Nguyễn Đại Đồng, vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Hòa thượng Phúc Điền (1784-1863) về trụ trì chùa Báo Thiên. Trong Kế đăng lục in năm Tự Đức thứ 12 (1857) viết: “Lúc đó tại chùa Báo Thiên đang khắc ván bộ Phật Tổ thống kỷ của Trung Quốc. Sau khi Hòa thượng Phúc Điền qua đời, chùa Báo Thiên vẫn còn lại cho đến ngày thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội lần 2 năm 1882 (theo Tạp chí Văn hóa Phật giáo).” Ở câu sau cùng của đoạn trích trên đây, Trương Công Khanh chỉ mở ngoặc kép mà không đóng ngoặc kép. Tôi nghĩ có thể có sự quên sót nào đó, vì sách in năm 1857 chắc không thể kể đến sự kiện diễn ra vào “năm 1882”. Tôi cũng chưa có dịp tra cứu lại các tài liệu này, tuy nhiên, có thể nói, những sử liệu mà tác giả đưa ra đều trước năm 1773.

    Tôi xin được trở lại với đoạn trích dẫn của Trương Công Khanh:

    “San bằng cái chùa và tịch thu miếng đất, thật không có gì dễ bằng trong thời gian chiếm đóng…, tuy nhiên, công bình mà nói, tôi cảm thấy ít nhiều ái ngại trong việc phạm một sự lạm quyền kiểu đó, nên thấy nên nhờ ông Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Ông rất tâm đầu ý hiệp với Giám mục [Puginier, NQT, ct.] và muốn làm vừa lòng ngài cũng như tôi vậy. Thoạt tiên, ông cho điều nghiên xem có ai là hậu duệ của người sáng lập ra chùa, đã chết hai thế kỷ trước, và lẽ dĩ nhiên, không tìm ra ai. Thứ đến ông chỉ thị cho các công dân lãnh đạo trong phường, được chọn lựa có vẻ như là do sự may rủi giữa các người Công giáo, đến thẩm lượng mức kiên cố của ngôi chùa; họ không ngần ngại xác quyết rằng, ngôi chùa đã mục nát có thể sập gây nguy hiểm cho người qua lại. Bây giờ mọi việc đã đâu vào đấy, san bằng ngôi chùa và tịch thu miếng đất…” (André Masson, The Transformation of Hanoi, 1873-1888, Madison, WI: Center for Southeast Asian Studies. University of Wisconsin-Madison, 1983, 51, NQT dịch).

    Thực ra, cuốn The Transformation of Hanoi, 1873-1888 là bản dịch Anh ngữ do Jack A. Yaeger dịch, Daniel F. Doeppers biên tập và rút gọn. Nguyên bản Pháp ngữ có tên Hanoï pendant la periode heroïque 1873-1888 (1), do librairie orientaliste Paul Geuthner xuất bản tại Paris năm 1929. Đoạn trích dẫn trên nằm ở phần IV của cuốn sách, với tiêu đề La Mission (tạm dịch là Nhà Chung), các trang 117–127. Phần tương đương với đoạn trích trên nằm ở hai trang 125–126, André Masson để trong ngoặc kép và ở cước chú ông cho biết nguồn trích dẫn là tại trang 209 trong cuốn Au Tonkin của R. Bonnal, in tại Hà Nội năm 1925. Dưới đây, tôi xin đưa ra nguyên văn Pháp ngữ trong cuốn sách của André Masson để độc giả tiện so sánh.

    “Démolir la pagode et s’emparer du terrain, rien n’était en apparence plus facile dans la période de conquête que nous traversions, mais j’avais comme de juste, une certaine répugnance à commettre un abus de pouvoir de cette sorte et je préférai m’adresser au Tong-doc Nguyen-huu-Dô. Celui-ci était en fort bons termes avec l’Evêque et désirait comme moi lui être agréable; voici comment il tourna la difficulté. Il fit d’abord rechercher s’il existait encore quelque descendant du fondateur de la pagode, mort depuis plus de deux siècles, et naturellement n’en trouva pas.”

    “Il ordonna ensuite aux notables du quartier, choisis comme par hasard parmi les indigènes chrétiens, de vérifier la solidité de l’édifice et ceux-ci n’hésitèrent pas à déclarer que, menaçant ruine, il pourrait en s’écroulant compromettre la sécurité des passants. Maintenant tout était en règle. Faire démolir la pagode, en confisquer le terrain sans maître au profit du domaine étaient, suivant la coutume annamite, des mesures justifiées ne pouvant soulever aucune protestation; c’est ce que fit le Tong-doc.”


    Ở đây, tôi xin miễn bàn đến chuyện chuyển dịch từ ngữ giữa hai văn bản, vì theo tôi hiểu, bản dịch Việt ngữ không phải của Trương Công Khanh, mà của NQT nào đó. Hơn nữa, bản Việt ngữ lại dịch lại từ bản Anh ngữ, thì khác biệt về phương diện từ ngữ là chuyện khó tránh khỏi. Tôi chỉ thắc mắc là không biết Trương Công Khanh đã vô tình hay cố ý cắt lửng câu cuối cùng của đoạn trích dẫn. Tôi xin tạm dịch lại câu này để độc giả tiện theo dõi: “Cho phá hủy ngôi chùa, trưng thu mảnh đất vô chủ vì lợi ích công quyền (2), theo tập tục An Nam, là những biện pháp chính đáng, không thể gây nên một sự phản đối nào; đó là điều ông Tổng đốc đã làm.” (3)

    Sự kiện này còn được kể tiếp trong nguyên văn Pháp ngữ như sau:“Il prit encore la responsabilité de concéder gratuitement à la Mission catholique le terrain confisqué et j’eus la satisfaction de remettre à l’Evêque l’acte authentique lui en faisant remise en toute propriété.” Xin được tạm dịch như sau: “Ông còn nhận trách nhiệm nhượng lại miễn phí cho Nhà Chung Công giáo mảnh đất đã trưng thu, và tôi đã vui lòng trao lại cho vị giám mục văn bản chính thức chuyển giao cho ngài toàn quyền sở hữu.” Dù sao, không thể nói rằng chuyện chuyển giao này là bất hợp pháp, càng không thể so sánh với chuyện “mượn” bằng mồm rồi cứ kiên trì đi theo đường lối trước sau như một “không có vấn đề trả lại” (4).

    Cũng cần lưu ý rằng trong văn bản Pháp ngữ, các từ tương đương với “mục nát” trong văn bản Việt ngữ là “menaçant ruine”. Phải hiểu những sự kiện này trong bối cảnh Hà Nội vào nửa cuối thế kỉ XIX, với hai lần quân Pháp tấn công thành Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Sau khi thành Hà Nội thất thủ sáng ngày 20-11-1873, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương và đã tuyệt thực cho tới chết, về phía Pháp, ngày 21-12-1873, Francis Garnier bị quân của Hoàng Kế Viêm giết chết. Lần thứ hai, thành Hà Nội thất thủ ngày 25-4-1882, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn, về phía Pháp, Henri Rivière bị giết vào ngày 19-5-1883 tại Cầu Giấy. Khu vực đang được bàn tới ở đây cách tường thành Hà Nội không bao xa. Đặt trong khung cảnh chiến tranh như thế, việc chùa Báo Thiên ở trong tình trạng đổ nát cũng là chuyện không quá khó hiểu.

    Cuốn sách của André Masson cũng cho chúng ta biết thêm rằng từ khoảng năm 1873 đã có một số gia đình Kitô hữu tới sống tại khu vực sau này là phố Nhà Chung, xung quanh một ngôi nhà nguyện bằng gỗ, nơi mà ngày 1-1-1873, giám mục Paul François Puginier đã cử hành một lễ long trọng (5)
    . Năm 1876, toà nhà kiên cố đầu tiên được xây dựng tại khu vực này (6). Trong tháng năm năm 1883, Quân Cờ Đen đã hai lần tấn công Nhà Chung và đã thiêu huỷ ngôi nhà nguyện bằng gỗ (7) . Nhìn vào tấm hình dưới đây, những ai đã từng ghé qua Toà Giám mục Hà Nội có thể dễ dàng nhận ra ngay toà nhà trong tấm hình chính là ngôi nhà nguyện của Toà Giám mục hiện nay. Điều đó cho thấy rằng từ năm 1873, hoặc ít nhất là từ năm 1876, khu vực này đã do người Công giáo quản lí.

    chinhtri280208

    Đọc loạt bài có nhan đề “Hanoi Chrétien (1627–1931)” (8), đăng trên sáu số liên tục trong Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, từ tháng 5-1932 đến tháng 11-1932, ta biết thêm nhiều chi tiết về nhóm người Công giáo tại Hà Nội qua các biến động lịch sử.

    Loạt bài này cho chúng ta biết rằng kể từ năm 1627, đã có những nhóm người Công giáo ở Kẻ Chợ (tức Hà Nội), do các linh mục Dòng Tên, rồi các linh mục của Hội Thừa sai Ba Lê điều hành. Tới năm 1690, số người Công giáo ở đây đã khá đông, nhưng sang đầu thế kỉ XVIII, do các cuộc bách hại, số người Công giáo tại Hà Nội giảm sút và bị phân tán đi các nơi. Tuy nhiên, tài liệu này cũng ghi nhận rằng dưới thời Giám mục Néez, sau năm 1744, có cả các thành viên hoàng tộc chịu phép rửa tội. Tới thời Tây Sơn, sau năm 1788, tất cả nhà thờ, nhà cửa của họ đạo Hà Nội đều vị phá huỷ, 42 Kitô hữu chịu án lưu đày, một số khác bị bắt vào tù. Sang thế kỉ XIX, đặc biệt, đầu thời Tự Đức, người Công giáo vẫn chịu cảnh bách hại, tù đày. Bài thứ năm trong loạt bài này, ở số Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris 128, tháng 8-1932, cho chúng ta biết thêm rằng ngay trong thời người Công giáo bị bách hại khốc liệt nhất, trước năm 1862, vẫn có khoảng gần 100 gia đình người Công giáo, sống rải rác tại ba khu vực khác nhau tại Hà Nội: khu vực phố Nhà Chung ngày nay, phố Hàng Bè và khu vực bờ sông. Sau năm 1862, nhiều Kitô hữu trở về từ chốn lưu đày, con số giáo dân của họ đạo Hà Nội được nhân đôi. Trong khoảng thời gian này, một nhà nguyện được dựng lên tại khu vực sau này là phố Nhà Chung. Cho đến năm 1869, do vẫn còn nhiều nguy hiểm, vẫn chưa có linh mục nào sống thường xuyên tại Hà Nội, thỉnh thoảng mới có linh mục từ Sở Hạ tới thăm viếng họ đạo này. Sau khi Giám mục Puginier cử hành một lễ long trọng vào ngày 1-1-1870, các linh mục tới họ đạo Hà Nội thường xuyên hơn. Các đời linh mục phụ trách vùng Hà Nội thời đó, linh mục André Bonfils, linh mục Joseph-Michel Landais, cùng với Giám mục Puginier đã từng bước mua các mảnh đất trải dài từ khu vực Trường Thi (Camp des Lettrés – ngày nay là Thư viện quốc gia) tới phía nam chùa Báo Thiên (9)
    . Từ năm 1876, các toà nhà dần dần được xây dựng như đã được André Masson nói tới.

    Như vậy, tuy có một số khác biệt về mặt dữ liệu giữa André Masson và Joseph Villebonnet, nhưng theo các tài liệu trên đây, có thể xác định được rằng khu vực Toà Giám mục Hà Nội hiện nay cùng với Toà Khâm sứ cũ đã được các vị linh mục Bonfils và Landais mua trước năm 1876, lúc đó quyền cai trị miền Bắc, cụ thể hơn là Hà Nội, vẫn còn nằm trong tay quan lại nhà Nguyễn, dù ít nhiều đã có những sức ép từ phía các quan chức người Pháp. Khu vực chùa và tháp Báo Thiên mà vào năm 1883 Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ trưng thu và qua Bonnal trao cho Giám mục Puginier ít nhất cũng phải nằm ở phía bắc toà nhà xây năm 1876 trong ảnh, theo tôi khu vực đó có thể gồm hang đá Đức Mẹ, một phần sân chủng viện, khu trường học (nay là trường trung học cơ sở Hoàn Kiếm - Tân Trào) được nhà nước “mượn”, khu vực nhà xứ và Nhà Thờ Lớn hiện nay.

    Tôi cũng muốn trao đổi thêm với Trương Công Khanh rằng, những sự kiện ông nêu lên ở phần sau của bài viết cũng cần được hiểu trong bối cảnh lịch sử, đặc biệt là những gì diễn ta tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam vào nửa cuối thể kỉ XIX, khi nhóm Văn Thân đã tấn công, bao vây và triệt hạ nhiều làng Công giáo (10)
    .

    Để kết thúc bài viết này, tôi xin trở lại với câu trích lửng của Trương Công Khanh. Dù là vô tình hay cố ý, kiểu trích dẫn đó vẫn phản ánh một thái độ thiếu lương thiện trí thức (malhonnêteté intellectuelle).

    © 2008 talawas



    (1) Độc giả có thể đọc bản dịch Việt ngữ của cuốn sách này với nhan đề Hà Nội – giai đoạn 1873-1885, do Lưu Đình Tuân dịch, NXB Hải Phòng 2003.
    (2) Từ “domaine” ở đây là một khái niệm trong ngôn ngữ hành chính của người Pháp. Từ điển Petit Robert 1973 đưa ra nghĩa của từ “Le Domaine” là “les biens de l’Etat”. Ở đây tôi xin tạm dịch là “công quyền”.
    (3) Khi dịch, tôi có tham khảo bản dịch của Lê Thiện trên trang điện tử http://vietcatholic.net/News/Html/52481.htm
    (4) Lời ông Nguyễn Thế Doanh trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 3-1-2008.
    (5) X. André Masson, Hanoï pendant la période héroïque (1873–1888), libraire orientaliste Geuthner, Paris 1929, tr. 119–120.
    (6) Tấm ảnh của toà nhà này nằm trong phần hình ảnh của André Masson, sách đã dẫn, planche XXII. Phần giải thích cho tấm hình nằm ở trang 230 cho biết tấm hình được chụp vào tháng giêng năm 1929.
    (7) X. André Masson, sách đã dẫn, tr. 122–123.
    (8) Độc giả có thể đọc một số đoạn trích của loạt bài này tại địa chỉ: http://vietcatholic.net/News/Html/52481.htm.
    (9) X. Joseph Villebonnet, “Hanoi Chrétien (1627–1931)”, Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, từ số 125, tháng 5-1932 tới số 130, tháng 11-1932, đặc biệt là số 129, tháng 9-1932, tr. 651–664.
    (10) Độc giả có thể xem thêm Nguyễn Trường Tộ di thảo số 14, “Tình hình lương giáo ở Nghệ An” do Trương Bá Cần biên tập trong cuốn Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, NXB Tp. Hồ Chí Minh 1988, tr. 181–183 ; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, 2003, tr. 513–514 ; Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, Quyển II, Calgary, Canada, 2002, tr. 488, dẫn theo H. Ravier, Sử ký Hội thánh, Hà Nội 1934, Q. III, tr 569–570.
     
     
    February 27

    Văn thư bi hài nhất của lịch sử VN

     

    Văn thư bi hài nhất của lịch sử VN, một chút đùa cười ra nước mắt :

     

    Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Dân tộc Chăm Pa muôn năm

     

    Kính gởi : Cụ Nguyễn Tấn Dũng

                  Thủ Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

     

    Kính thưa Cụ Thủ Tướng,

    Chúng tôi, hậu duệ Chăm Pa, trước tiên xin vấn an sức khỏe của Cụ cũng như xin có đôi lời kính gởi đến Cụ, mong Cụ giải quyết giúp. Là người dân Chăm Pa, chúng tôi biết chúng tôi có một nguồn gốc, xứ sở, vương quốc. Vì thế, hôm nay dù mang trên mình quốc tịch Việt Nam, chúng tôi vẫn luôn nhớ đến lịch sử và tổ tiên chúng tôi. Tuy nhiên, cho dầu nhớ nhung, chúng tôi vẫn chấp nhận một lịch sử lâu đời đã qua đó là lịch sử vương quốc của chúng tôi đã bị tháp nhập hoàn toàn dưới thời Vua Minh Mạng, năm 1832. Chúng tôi chưa hề có ý định đứng lên đòi lại đất đai của tổ tiên từ ngàn xưa mà lịch sử còn chứng minh là thuộc về tổ tiên Cham Pa của chúng tôi.

     Thế nhưng, trong những ngày vừa qua, khi theo dõi sát sao vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội, tình cờ chúng tôi đã đọc được bức văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, đòi hỏi Cụ phải tham khảo ý kiến Phật Giáo trước khi xem xét mảnh đất đó. Nhờ văn thư này mà lòng nhớ nhung tổ tiên và vương quốc xưa kia của cha ông chúng tôi đã dấy lên mạnh mẽ.

    Chúng tôi xin chân thành cám ơn HòaThượng Thích Trung Hậu đã nhắc nhở cho chúng tôi phải làm gì với đất đai  gần 1700 năm của tổ tiên chúng tôi (192-1832). Hỏa Thượng đã cho chúng tôi tia hy vọng trong việc đòi lại đất đai của tổ tiên. Và chúng tôi hy vọng Hòa Thượng cũng đòi lại đất đai mà lịch sử cho thấy là tọa lạc chùa và tháp của  Phật Giáo. Tuy nhiên chúng tôi cũng báo cho HòaThượng biết rằng người Chân Lạp họ cũng đang xúc tiến việc đòi lại đất đai của họ, mà mảnh đất đầu tiên họ nhắm đến đó là mảnh đất ở số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.3, nơi tọa lạc Văn phòng II, Ban Văn Hóa của Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Bởi vì họ nghĩ rằng Hòa Thượng là một người quý trọng lịch sử, nên HòaThượng sẽ trả lại mảnh đất đó cách nhanh chóng mà không chấp đất hay tham sân si. Vả lại khi HòaThượng đã xúc tiến  can thiệp vào chấp đất Tòa Khâm Sứ, thì HòaThượng sẽ rất dễ dàng trao trả đất đai nơi  tọa lạc Van Phòng II của Hội Đồng Trị Sự GHPGVN.  Hòa Thượng có thể chuyển Văn Phòng II ra Hà Nội, sau khi đã đòi lại được mảnh đất Tòa Khâm Sứ và Nhà Thờ Lớn. Chúng tôi sẽ đến xem cảnh tượng Hòa Thượng sẽ đập đổ hai tòa nhà này để xây dựng Văn Phòng II mới ở đây. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nghe phong phanh được rằng, con cháu Giao Chỉ xưa cũng đang chuẩn bị gởi thư cho Cụ Thủ Tướng để đòi lại các vùng đất phía Bắc của họ, trong đó có cả khu đất tranh chấp là Tòa Khâm Sứ. Thêm nữa, chúng tôi được biết rằng, con cháu của những người thời xưa đã vất vả xây dựng chùa và tháp Báo Thiên cũng muôn tìm đến chia sẻ chút « cháo », vì họ nói cha ông họ cũng có công xây dựng. Vả lại họ còn than van rằng chỉ vì những ngôi chùa "to, đẹp" nên nhà Vua bắt cha ông họ phải nai lưng xây dựng, đó là chưa kể hao tổn ngân sách quốc gia.  Rồi cả con cháu nhà Lý cũng có khả năng tranh chấp khu đất đó, vì như họ nói họ mới là người kế thừa đúng về mặt lịch sử. Chúng tôi rất lo lắng cho chỗ ở của Hòa Thượng trong nay mai. Tuy nhiên, xin Hòa Thượng đừng lo lắng, nếu cuối cùng không có chỗ nào cho Hòa Thượng dung thân, chúng tôi, sau khi lấy lại được đất Chăm Pa, sẽ hiến tặng cho Hòa Thượng một mảnh đất thật rộng lớn để bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi đối với Hòa Thượng, người đã mở đường cho chúng tôi đòi lại đất đai của cha ông chúng tôi. HòaThượng cũng biết đó, nên văn hóa của chúng tôi cũng thật phong phú những cũng đã bị chiếm đoạt và tàn phá qua thời gian, nên chúng tôi cũng thông cảm và hiểu cho nổi đau của Hòa Thượng trước việc chùa và tháp Báo Thiên bị « phá hoại ». Chúng tôi ủng hộ Hòa Thượng, chỉ xin Hòa Thượng đưa thêm bằng chứng cho rõ ràng, ngay cả bằng chứng lịch sử, bởi vì người ta cũng đưa ra những bằng chứng lịch sử khác không có lợi cho Hòa Thượng và ngay cả bằng chứng pháp lý họ có trong tay. Chúng tôi chỉ sợ một điều duy nhất là chính phủ sẽ bác bỏ văn thư của Hòa Thượng, không thèm đọc và bỏ vào viện bảo tàng văn thư bi hài ngay, bởi vì, như có người nói, văn thư của Hòa Thượng « đã phủ nhận Nhà Nước Việt Nam được tạo dựng từ năm 1945 với pháp luật hiện hành ». Đó là điều duy nhất mà chúng tôi lo sợ không chỉ cho Hòa Thượng mà cho cả đòi hỏi của chúng tôi nữa.

    Kính thưa Cụ Thủ Tướng, chúng tôi không cố tình gây chia rẽ dân tộc hay làm xáo trộn xã hội VN khi đòi lại đất đai tổ tiên xa xưa. Cụ thấy đó, chúng tôi đã đồng hành cùng dân tộc qua biết bao nhiêu thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một tập thể hay là một cá nhân. Cụ đã thấy rõ chúng tôi có công trạng thế nào trong việc xây dựng và đồng hành với dân tộc, nên chúng tôi có quyền lợi đôi chút khi dám lên tiếng đòi lại đất đai tổ tiên từ  khi thành lập vương quốc Lâm Ấp, năm 192 cho đến khi Chiêm Thành Quốc, dưới thời Trấn Vương Thuận Thành,  bị Minh Mạng sáp nhập năm 1832. Cụ thể hơn, sau 877 Trung Quốc (nhà Đường) bắt đầu gọi vương quốc Chăm Pa là Chiêm Thành Quốc. Lúc đó, vương quốc này bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh ThuậnBình Thuận ngày nay). (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ch%C4%83m_Pa).

    Chúng tôi thiết nghĩ, nếu Cụ Thủ Tướng đoái thương đến văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, thì không có lý gì mà Cụ có thẻ từ chối yêu cầu chính đáng của chúng tôi, vì lịch sử đã chứng minh rõ ràng rằng đất đai từ mièn Trung đến miền Nam, thay đỏi từng thời kỳ, là thuộc về tổ tiên  của chúng tôi. Chăm Pa là một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất thế giới, tọa lạc từ miền Trung đến miền Nam. Xin Cụ đừng cho là chúng tôi ích kỷ hay nổi loạn phá hoại tổ quốc, nhưng nhờ HòaThựong mách nước nên chúng tôi mới dám mạo muội gởi cho Cụ văn thư này.

    Chúng tôi đề nghị Cụ Thủ Tứong xem nguời Chăm Pa chúng tôi là một thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định nào liên quan đến những vùng đất kể trên. Bảo đảm với Cụ Thủ Tướng là sau khi đã lấy lại đựoc những vùng đất đó, chúng tôi sẽ giúp chính phủ của Cụ giải quyết vụ Trường Sa cách êm thắm, để chính phủ của Cụ khỏi phải bận tâm lo lắng.

    Trân trọng kính chào Cụ Thủ Tướng

    Miền Trung, ngày 28 tháng Hai năm 2008

    Kính Thư

    Hậu duệ Chăm Pa tản mác khắp nơi

    (đã ký)

     
     
     Bản sao đồng kính gởi :
     
    - Cụ Bí Thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh
    - Cụ Chủ Tịch Nước CHXHCNVN Nguyễn Minh Triết
    - Cụ Chủ tịch Quốc Hội CHXHCNVN Nguyễn Phú Trọng
    - Cụ Thường trực Ban bí thư TW Đảng Trương Tấn Sang
    - Cụ Bí thư thành ủy TP Hà Nội Phạm Quang Nghị
    - Hậu duệ Chăm Pa khắp nơi
    - Lưu
     
    Chúng tôi không quên gởi đến Cụ Nguyễn Thế Doanh trưởng Ban Tôn giáo chính phủ và Bà Thanh Hằng, phó chủ tịch UBND HN để tham khảo, bởi vì nếu để quý vị đứng ngoài cuộc thì mất thể diện, điều mà chúng tôi không muốn.
     
     
     
    Di tích tại Thánh Địa Mỹ Sơn, xây dựng lần đầu bởi vương triều thứ 2 của Lâm Ấp
     
     
     
    Tháp Bà được xây dựng vào thời Prithi Indravarman, vị vua đầu tiên của Hoàn Vương Quốc (ảnh : wikipedia)
     
     
     
     
     
     
     
     
     
    Ý kiến độc giả :
     
    Chúng tôi chỉ là những người dân hiẹn nay đang sống trên quê hương dất nước VN, mảnh đất hình chữ  S, được sinh sống trên những mãnh đất do Ông Bà Tổ Tiên đã tạo dựng, để lại cho chúng tôi và các thế hệ con cháu tiếp nối. Chúng tôi đã sống, đã làm việc và cũng đã tồn tại trên nhũng mảnh đất Cha Ông này với biết bao lao nhọc,  khó khăn, nhũng kỷ niệm buồn vui được tiếp nối hết đời này qua đời khác.  Trải qua bao nhiêu năm tháng với nhũng giá trị về tinh thần đó, đối với chúng tôi còn qui giá hơn bất cứ một giá trị vật chất nào khác. Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của chung tôi trước khi lâm chung, đã phải đắn đo suy nghĩ và chọn lựa nhũng người xứng đáng trong giòng tộc, là những người con, những đứa cháu có đầy đủ những phẩm chất về đạo đức, sự khôn ngoan và bản lĩnh để trao phó trách nhiệm gìn giữ mảnh đất mà tổ tiên đã tạo dựng nên bằng máu va nước mắt suốt bao đời qua mới có được, chúng tôi vẫn hàng ngày cầu nguyện và mong muốn co được một cuộc sống an lành, ấm no và hạnh phúc trên những mảnh đất này đồng thời cũng ra sức để bảo vệ, để gìn giữ nhũng di sản thiêng liêng của tổ tiên trước nhũng thế lực, những mưu toan ăn cướp đất của bè lũ cường quyền, cho dù phải trả bằng bất cứ giá nào hoặc bằng chính sinh mạng của mình cũng được. Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã phải tìm đủ mọi cách để kết giao với những người có cùng lý tưởng để mong muốn được họ bảo vệ, bản chất của chúng tôi tuy rất hiền lành, chăm chỉ và đạo đức, nhưng khi cần thiết, chúng tôi cũng sẽ trở thành một sức mạnh đủ để dập tắt tất cả những ham muốn của kẻ thù  
                 Với tất cả những tâm tình ấy, chúng tôi đã rất quan tâm dến biểu tượng đấu tranh vì Hòa Bình và Công Lý trên quê hương VN của Hội Thánh Công Giáo những ngày tháng vừa qua, chúng tôi tạm quên đi những mưu sinh trong cuộc sống hàng ngày, để đọc, để tìm hiểu, để nghe ngóng và cũng để bàn bạc tình hình bên những ly cafe hoặc những chén trà trong những hàng cây râm mát, những túp lều hoặc ở bất cứ nơi nào chúng tôi có thể.
           Thực sự chúng tôi rất hoang mang trước thái độ của những nhà cầm quyền CS, đất đai của chúng tôi hay của TKS HN chỉ là những chuyện rất nhỏ, chuyện trong nhà mà cac Cụ còn chưa giải quyết được huống hồ tương lai vận mạng của cả một dân tộc, của đất nước VN đang được trao phó trong tay các Cụ, chúng tôi rất khg yên tâm, chúng tôi sốt ruột và cùng đưa ra một câu hỏi :" Khg biết các Cụ có đủ bản lĩnh hoặc có xứng đáng đại diện cho một dân tộc, một quốc gia trong v/đ bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ VN hay không ?"  Những người dân nước Việt như chúng tôi đang rất cần được bảo vệ tài sản chứ khg phải là những mục tiêu tài sản của tập đoàn các Cụ đâu đấy nhé.
            Chúng tôi chỉ là những con người hết sức bé nhỏ, ở vào những tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, vì thế, đối với chúng tôi, việc phải sử dụng ngòi bút để thay cho cái cuốc cái cày là một việc làm hết sức khó khăn, chúng tôi khg dám đại diện cho bất cứ ai mà chỉ dám nói len tiếng nói cho chính tầng lớp của mình, tuy đơn giản nhưng hết sức rõ ràng và dễ hiểu, chúng tôi hiểu rằng : chúng tôi cần phải cám ơn tất cả mọi người, những người anh em đích thực, khg hề phân biệt bất cứ Tôn Giáo hay giai cấp nào, đã dũng cảm đấu tranh cho Công bằng, công lý và tư do tôn giáo ở VN, các vị đã biết hiến thân, biết hy sinh để đại diện cho tầng lớp chúng tôi, dùng những kiến thức và sự hiểu biết của mình để tham gia, sưu tầm và đóng góp nhũng bài viết rất hay, rất co giá trị, đấu tranh với những cái xấu, cái áp bức bất công của bè lũ CS đương quyền ( theo chúng tôi, chỉ là một lũ khôn nhà dại chợ mà thôi).
            Tuy ít chữ nghĩa nhưng chúng tôi cũng đủ khả năng để nhận biết đâu là lẽ phải, nẻo chính đường ngay, chứ khg phải  như một số người khác,  cũng đã dược Cha Mẹ cho ăn học tử tế, chữ nghĩa dồi dào, lý luận sắc bén, suy nghĩ chiều sâu, mang danh là những trí thức được coi là hơn tầng lớp của chúng tôi rất nhiều, thế mà chỉ vì những định kiến sai lầm hoặc lợi ích cá nhân nhỏ nhen, các vị đã khg thèm giúp đỡ cho việc lớn lại còn có những tuyên bố, những bài viết hết sức ấu trĩ chỉ làm trò cười cho những người khác mà thôi.  Kể từ đây, chúng tôi xin phep để gọi các vị là các CỤ cho nó dễ phân biệt cái sự ngu truyền kiếp.
            Các Cụ muốn làm nên một lịch sử ư ? Yên chí đi các cụ, chúng tôi cũng đã lập xong danh sách của các cụ và sẵn sàng đưa vào lịch sử để cho chính con cháu của các cụ học hỏi, tìm hiểu và sau cùng chính chúng nó cũng sẽ phán xét các Cụ.
                  Với tất cả tấm lòng, chúng tôi xin gởi đến các cụ đôi lời kêu gọi, nếu còn chút ít lương tâm của một con người, hãy cố gắng suy nghĩ để tìm ra chân lý, đâu là lẽ phải, là sự thật, những sự thật rất rõ ràng cả về phương diện pháp lý lẫn phương diện lịch sử, với những tài liệu nhằm chứng minh cho những sự thật khg thể chối cãi được mà người ta đã trưng ra đó, cũng đã đủ để cho thấy sức mạnh và sự chênh lệch của cán cân công lý, chúng tôi xin các cụ đừng có lý lẽ nữa, đừng có tìm cách để há mồm thêm ra nữa kẻo ngay cả những người thấp kém nhất như chúng tôi cũng khg thể ngửi được. Hãy coi như đó chỉ là những giây phút bốc đồng khg thể tự kềm chế được của các cụ mà thôi.
            Những ngày vừa qua, chúng tôi cũng được nghe đâu đó nói rất nhiều đến 2 chữ "giật dây", các cụ là những người giật dây hay những người bị giật dây, chúng tôi cũng khg biết ? nhưng chúng tôi hiểu rất rõ về ý nghĩa của 2 chữ giật dây có nghĩa là xúi bẩy, nhân đây chúng tôi cũng xin gởi dến các cụ một bài học vui nhưng rất co ý nghĩa trong cuộc sống mà chính chúng tôi đã là những người đã mắc phải :
           Chả là thuở thiếu thời, chúng tôi đã tập tành hút thuốc lá, thế rồi bị Cha Mẹ bắt gặp và sau khi lãnh mấy cái tát nảy đom đóm mắt, chúng tôi vội vàng đổ thừa là do đã nghe bạn bè xúi bẩy, nghe xong cái lý do ấy, Cha Mẹ của chúng tôi đã phán ngay một câu mà suốt đời tôi khg thể nào quên được :" Nếu chúng nó xúi mày ăn........mày cũng ăn phải khg ?(chúng tôi phải dùng đến các dấu chấm để thay thế cho một từ rất nặng mùi hôi thối), thật là một câu hỏi rất dễ trả lời phải khg các cụ ? Chung tôi luôn hy vong va mong mỏi các cụ sẽ tìm ra chân lý và sẽ trở thành những người bạn đồng hành, những người anh em của chúng tôi, dùng những kiến thức cũng như sự hiểu biết của mình để bênh vực cho công bằng và công lý, phá tan mọi áp bức bất công, xin hãy bênh vưc cho chung tôi, đòi lại tài sản cho chúng tôi, nhửng mảnh đất rất quí giá của tổ tiên chúng tôi để lại, chưa bao giờ cho, tặng, hiến mà chỉ bị ăn cướp mà thôi. Chúng tôi rất muốn bảo vệ những tài sản ấy nhưng chúng tôi quá thấp cổ bé miệng, chúng tôi khg có lỗi với tổ tiên, chúng tôi khg thể làm gì được trước họng súng của những kẻ cướp đất, cướp nhà và cướp nước. Chúng tôi rất biết ơn và xin gởi tặng cho tất cả quí vị một câu ca dao tuy đã cũ nhưng thấy vẫn còn sài được trong hoàn cảnh của đất nước những ngày vừa qua :
            " khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một Mẹ chớ hoài đá nhau"
           Tòa Khâm Sứ HN chỉ là một biểu tượng cho sự đấu tranh mà thôi, còn có những biểu tượng khác nữa sẽ sẵn sàng tiếp nối như đất ở giáo xứ TH, đất ở Saigon, đất ở Đan Viện Thiên An Huế và cả đất của chúng tôi nữa.
           Với niềm tin KITO hữu :" cuối cùng Ta sẽ thắng", chân lý và hòa bình sẽ hiển trị trên quê hương VN.
           Chúng tôi xin trân trọng : Kính chào đoàn kết.
           Rat cam on.
           TNT.

    TÔI CŨNG MUỐN VIẾT THƯ CHO THỦ TƯỚNG

     
    VietCatholic News (Thứ Tư 27/02/2008 13:53)
     
    TÔI CŨNG MUỐN VIẾT THƯ CHO THỦ TƯỚNG

    Sáng sớm, hãy còn ngái ngủ mà ông bạn hàng xóm đã cho con mời tôi qua uống trà. Nghĩ tới ấm tràn ngon và tình thân bấy lâu nay, tôi đành rời chăn ấm nệm êm để qua nhà ông bạn.

    Bước vào nhà, tôi thấy ông bạn tôi đã ngồi sẵn đó, ấm trà hình như vừa châm xong, hương thơm phảng phất. Gương mặt ông bạn tôi đầy vẻ tư lự. Vừa thấy tôi sang, ông lộ vẻ rất vui. Tôi hỏi luôn:

    - Có việc gì mà bác cho triệu em sớm vậy?

    - Dĩ nhiên là có việc tôi mới phải phiền chú thế này. Vẫn biết chú hay dậy muộn, nhưng quả thực là tôi sốt ruột quá chú ạ.

    - Việc gì vậy bác?

    - Chú cứ uống tách trà đi đã.

    Tôi vừa chiêu xong một ngụm trà, ông bạn đã nói:

    - Mong chú bỏ quá cho những lời vớ vẩn từ trước tới nay.

    - Có gì đâu bác.

    - Chẳng là tôi vẫn thường nói đùa rằng cái bụng chữ nghĩa của chú cũng chỉ đáng quăng vào sọt rác.

    - Vâng thì cái món chữ nghĩa nửa mùa của em đâu có đáng gì so với mấy mẫu vườn trồng đào của bác.

    - Vậy chứ cũng chẳng biết lúc nào nhà nước lại quăng cho một món tiền rồi dùng diễn biến qui hoạch để lấy cái vường đào này chú ạ! Trước tiên tôi hãy hỏi chú về cái vụ việc gì mà trả với lại không trả ở cái phố Nhà Chung gì đấy.

    - Nhưng sao tự nhiên hôm nay bác lại quan tâm đến chuyện này?

    - Tất phải có lí do rồi. Có điều tôi không hiểu sao tự nhiên ông Tổng giám mục lại làm ầm ĩ lên thế. Tôi cứ nghĩ là chính sách tôn giáo của chính phủ đâu đến nỗi nào.

    - Em cũng theo dõi qua loa sự việc, em muốn nói với bác rằng chuyện không đơn giản, mà em xin mượn lời bác để trả lời bác rằng “tất phải có lí do rồi”.

    - Chắc chú biết chuyện nhà nước cấp đất cho Phật giáo xây học viện trên Sóc Sơn, rồi thiền viện Tây Trúc?

    - Chuyện nhà nước có cấp đất hay không thì em không biết, nhưng em đã tới Sóc Sơn và Tây Trúc. Thiền viện với học viện rộng mênh mông, dựa lưng vào núi, phong cảnh thật đẹp.

    - Cũng lạ cho chú. Bụng đầy chữ nghĩa mà không chịu tìm hiểu cho tới đầu tới đũa.

    - Thì bác tính đâu phải chuyện gì mình cũng biết hết được.

    - Thế còn cái vụ nhà nước cấp đất cho Công giáo xây chủng viện ở Cổ Nhuế thì sao?

    - Bác ơi, làm gì có chuyện cấp đất. Chẳng là cái chủng viện chỗ phố Nhà Chung bây giờ chật hẹp quá, bên Công giáo họ muốn xin xây ở chỗ khác. Cũng bao nhiêu năm mà không sao giải quyết cho xong chuyện. Cuối cùng thì hình như ông Tổng giám mục đề nghị xây ở Cổ Nhuế, trên mảnh đất có sẵn của xứ Cổ Nhuế đấy chứ. Họ xây chủng viện trên đất của họ, chứ nhà nước chỉ cho có cái phép, chứ nào có cấp đất gì đâu.

    - Vậy mà tôi nghe có đứa nó bảo là nhà nước cấp đất cho bên Công giáo ở Cổ Nhuế. Thôi, bây giờ tôi vào chuyện chính. Tôi muốn nhờ chú thảo giúp cho tôi hai bức thư.

    - Chuyện gì lạ vậy. Xưa nay bác vẫn tự viết thư được mà.

    - Thì là chuyện quan trọng mới phải nhờ đến cái bụng chữ của chú. Chứ nếu không tôi nào dám phiền.

    - Thế bác định viết thư cho ai?

    - Một bức cho ông thủ tướng chính phủ, một bức cho Hoà thượng Thích Trung Hậu.

    - Trời đất quỉ thần ơi, sao có chuyện kì lạ thế này?

    - Tôi hẵng nói cho chú biết, bức thư gửi Hoà thượng Thích Trung Hậu là để cám ơn ông ấy đã giúp tôi tìm được cơ hội nhận ra đất tổ tiên mình, còn bức cho ông thủ tướng là yêu cầu nhà nước tham khảo ý kiến dòng họ tôi, mỗi khi định làm gì ở khu Hoàng Thành, cụ thể là chuyện đang định xây lại hội trường Ba Đình.

    - Nhưng sao tự nhiên bác lại quan tâm đến những chuyện trời ơi đất hỡi vậy?

    - Đấy, tôi phải cảm ơn Hoà thượng Thích Trung Hậu là vậy đấy. Chả là sáng nay thằng con trai tôi đọc cho tôi bức thư của ông Hoà thượng này ở trên mạng mẽo gì đấy của nó. Ông ấy yêu cầu ông thủ tướng phải tham khảo ý kiến bên Phật giáo trong cái vụ trả với không trả gì đó ở phố Nhà Chung.

    - Chứ chuyện đó đâu có gì liên quan đến bác?

    - Sao lại không liên quan. Từ chuyện đó tôi nghĩ tới chuyện dòng họ nhà tôi. Mà tôi nhắc cho chú biết, tôi đang là tộc trưởng đấy nhé.

    - Vâng, thì em nào dám chối cái quyền tộc trưởng của bác. Nhưng sao bác lại viết thư cho ông thủ tướng để yêu cầu những chuyện ở Hoàng Thành với hội trường Ba Đình?

    - Thì tôi cũng định làm cái việc giống như Hoà thượng Thích Trung Hậu ấy mà.

    - Nhưng hình như ông Hoà thượng có nói tới lịch sử 825 năm họ liên tục sở hữu chùa Báo Thiên. Với lại một Hoà thượng ít ra cũng có lí do lên tiếng nhân danh bên Phật giáo. Còn bác sẽ yêu cầu nhân danh ai đây.

    - Tôi đã bảo chú rằng tôi là tộc trưởng. Tôi yêu cầu nhân danh dòng họ. Chú vẫn biết dòng họ nhà tôi đấy chứ.

    - Vâng, thì danh tính bác đương nhiên em phải biết. Bác là trưởng tộc họ Lê.

    - Điều chú không biết là trong gia phả nhà tôi có ghi rằng dòng họ nhà tôi vốn gốc tích ở mãi Lam Sơn, Thanh Hoá, là một nhánh của Đức Lê Trừ, anh trai Đức Thái Tổ nhà Lê.

    - Vâng, nhưng em nào có thấy liên quan gì đến chuyện ông Hoà thượng Thích Đức Hậu với chuyện viết thư cho ông thủ tướng?

    - Thật đúng là chú học nhiều mà hiểu ít. Chú vẫn mang tiếng là giỏi về sử mà lại không biết rằng trước thời Lê Trung Hưng, nhà Lê bị nhà Mạc diệt. Sau cụ Nguyễn Kim muốn gây dựng lại nhà Lê. Từ bên Lào, cụ Nguyễn Kim về Thanh Hoá tìm lại con cháu nhà Lê, nhưng không còn ai. Sau cụ Nguyễn Kim tìm được một người con cháu xa của Đức Lê Trừ và lập lên làm vua, đó là vua Lê Trang Tông.

    - Chuyện đó thì em có biết.

    - Vậy thì có phải tôi thuộc hoàng tộc nhà Lê không?

    - Bác nói cũng có lí.

    - Sao lại cũng có lí. Phải nói là hoàn toàn hợp lí chứ.

    - Vâng, nhưng bác định sao nữa đây.

    - Thì ông Hoà thượng Thích Trung Hậu nói tới chuyện bên Phật giáo liên tục sở hữu Chùa Báo Thiên 825 năm. Vậy chứ dòng hoàng tộc nhà tôi lại không sở hữu kinh thành Thăng Long, mà Hoàng Thành là trung tâm, cả đến hơn 350 năm à? Chuyện này chú cũng biết là trong sử sách Việt Nam chẳng ai chối được.

    - Nhưng bác ơi, bác nói thế thì chẳng lẽ lại không có ông tộc trưởng họ Trần, rồi tộc trưởng họ Lý, rồi xa hơn là con cháu Cao Biền cũng sẽ đòi tham khảo ý kiến khi nhà nước định làm gì ở khu vực Hoàng Thành.

    - Đó là việc của họ, tôi không cần biết. Chứ tôi nghĩ ông Hoà thượng Thích Trung Hậu nào đó liệu có một bằng chứng tương tự như cuốn gia phả nhà tôi hay không?

    - Em thì vẫn thấy cái chuyện bác định làm nó viển vông quá sức.

    - Ơ cái chú này. Muốn nhờ chú một việc mà chú toàn nói ngang thôi.

    - Bác ạ, người ta nói việc quan cứ giấy, chứ không thể nói vu vơ được.

    - Trời ơi, chú thật là hồ đồ. Cả cuốn gia phả nhà tôi chưa phải là giấy hay sao? Vậy chứ ông Hoà thượng kia dựa trên giấy nào mà đòi tham khảo ý kiến? Mà tôi cũng có đòi hỏi gì chuyện trả hay không trả đâu, tôi cũng chỉ học ông Hoà thượng kia để yêu cầu nhà nước tham khảo ý kiến dòng họ nhà tôi, khi định làm gì trên mảnh đất mà dòng họ nhà tôi đã sở hữu suốt một thời gian dài.

    - Em thật chịu bác rồi.

    - Bây giờ ý tôi như thế, chú thảo giúp thư cho tôi được chứ?

    - Bác ơi, bác nhờ chuyện gì em cũng giúp, còn chuyện này thì bụng chữ nghĩa nửa mùa của em đúng là vô ích.

    - Thế thì cái đám chữ nghĩa của chú đúng là đáng vứt vào sọt rác. Thôi, nếu vậy thì tôi sẽ bảo thằng con tôi cứ thảo y như cái thư của ông Hoà thượng Thích Trung Hậu, chỉ cần thay vài con số, vài cái tên là xong chuyện. Khỏi phải nhờ tới chú.

    - Bác ơi, em can bác đừng làm chuyện này. Em xin quay lại với cái chuyện bên Công giáo họ đòi cơ sở. Cái chuyện chuyển giao lúc đất chùa thành đất nhà thờ thì em không biết cụ thể ra sao, nhưng bên Công giáo họ có đầy đủ giấy tờ sở hữu từ lâu rồi. Lúc nhà nước mượn của họ cũng chẳng có văn bản giấy tờ gì cả. Chỉ là mượn bằng miệng. Tức là cứ theo giấy thì cơ sở đó đến giờ vẫn là của họ. Thế mà đơn lên đơn xuống hàngbao nhiêu năm nay, nhà nước chỉ ỡm ỡ hứa hẹn. Vậy nên họ mới phải có cách của họ đấy chứ. Thế mà theo em, những diễn biến mấy ngày gần đây cho thấy là nhà nước hình như vẫn không muốn trả. Cứ xem cái cách họ tuyên truyền trên các trang báo thì biết. Nào là bài viết của linh mục Trương Bá Cần trên báo Công giáo và dân tộc, rồi chính cái thư của ông Hoà thượng nữa đấy. Em nghĩ là họ thấy dùng các cách xưa nay họ quen dùng theo kiểu “cả vú lấp miệng em” có vẻ chẳng đi tới đâu, nên đang thử bài mới vậy thôi theo cái kế “tá đao sát nhân” hay “cách ngạn quan hoả” với lại “dương đông kích tây” ấy mà.

    - Chú lại mắc cái bệnh chữ nghĩa rồi. Tôi nhắc cho chú là hình như chú lại lẫn lộn giữa tôn giáo và nhà nước rồi đấy.

    - Em nào dám.

    - Vậy sao chú lại vơ ông Trương Bá Cần và ông Thích Trung Hậu vào bộ máy tuyên truyền của nhà nước?

    - Tại vì mấy tờ báo của họ có bao giờ nói khác ý của nhà nước đâu. Bên Công giáo họ có nhận báo Công giáo và dân tộc là tiếng nói của họ đâu. Rồi báo “Công giáo và Dân tộc” với báo “Phật Tử: Đạo Pháp – Dân Tộc – Thời Đại” nghe cứ như là hai anh em ấy. Chắc bác không biết chứ có chùa người ta còn đặt tượng ông Hồ Chí Minh to tướng ngay trước Đức Phật, rồi còn treo dòng chữ Đạo Pháp – Dân Tộc – Chủ Nghĩa Xã Hội, cứ như ba thứ đó là anh em sinh ba với nhau không bằng. Nên mấy cái loại báo giấy hay báo điện tử đó em cũng vẫn coi là tuyên truyền theo một đường lối.

    - Cái chú này, càng nói càng lạc đề. Thôi, tôi không dài dòng với chú nữa, chú không thảo giúp thì để tôi tự làm vậy. Chú cứ đợi đấy. Có ngày nhà nước với ông thủ tướng sẽ tới nhà tôi hỏi ý kiến cho mà xem.
     
    Hoàng Cúc
     
     

    Thư của GH Tin Lành MENNONITE VN hiệp thông với Địa Phận Hà Nội

     
     
    Điểm nhấn :
     
    Thợ Gặt : "Về văn thư của Hòa thượng Thích Trung Hậu còn nguy hiểm hơn bởi nó kích động thù hằn tôn giáo là điều cấm kỵ với xã hội. Nó khơi lại lịch sử Chân Lạp, Chiêm Thành, Giao Chỉ mà Nhà nước muốn khép lại từ lâu. Nó phủ nhận Nhà nước Việt nam được tạo dựng từ năm 1945 với pháp luật hiện hành. Mấy giáo sư nghiên cứu tôn giáo khi nghe tôi nói đến văn thư này đều bực tức nói: "Đây đúng là tay sai của Bắc Kinh hay CIA". Chắc chắn, cơ quan an ninh sẽ “sờ gáy” vị Hòa thượng này."
     
     
    "Tại sao quận Hoàn Kiếm không lấy mảnh đất rộng sắp cấp cho giáo hội để xây mà cứ nhất định lấy Tòa Khâm sứ?"
     
     
     
     
    Thư của GH Tin Lành MENNONITE VN hiệp thông với Địa Phận Hà Nội
      
      
     
     
     
     
     
     
     
     
     Nguồn : Blog Tiếng Dân

    Khởi đi từ Tuần Thánh: Ánh lửa Phục Sinh sẽ có thể lại bừng sáng trở lại nơi Tòa Khâm Sứ Hà Nội!

     
     
     
    VietCatholic News (Thứ Ba 26/02/2008 20:00)
     
    Khởi đi từ Tuần Thánh: Ánh lửa Phục Sinh sẽ có thể lại bừng sáng trở lại nơi Tòa Khâm Sứ Hà Nội!

    Từ ngày 1/02/2008, với thư của Đức TGM Ngô Quang Kiệt gửi giáo dân Hà nội, trong đó Ngài loan báo rằng: “Sau những căng thẳng, đã có đối thoại giữa Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục Việt nam với các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà Nước để đi đến một giải pháp tốt đẹp. Giải pháp này sẽ thực hiện qua những bước cụ thể trong tôn trọng lẫn nhau theo ý kiến của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh...”, thì giáo dân Hà nội đã rước Thánh giá về Tòa Giám Mục và đưa cất lều bạt về nhà, chờ đợi cho một giải pháp tốt tốt đẹp cho cả đôi bên. Trong thư Ngài cũng không quên nhắn nhủ cộng đoàn dân Chúa “tiếp tục cầu nguyện”.

    Khi bức thư này được loan ra, thì nhiều người đã tỏ vẻ hồ nghi ngay về thiện chí của chính quyền và cũng nhắc nhở Tòa Giám Mục rằng chớ có cả tin kẻo sẽ bị lừa.

    Đang khi đó một số người khác, nhất là những “ngôn sứ giả” cả từ chục năm nay lên tiếng oang oang tố cáo Giáo hội đủ điều, cũng như hăng say chửi bới Cộng sản. Họ là những người từ bao năm nay tuy có thiện chí tố cáo tội ác của cộng sản, nhưng vì cung cách "hành xử trật đường" chỉ biết chửi mà mà thiếu chiến thuật hành động, lại hành động "ngoài giáo hội", nên họ không bao giờ gây được chút ảnh hưởng nào với giáo dân hoặc với Giáo hội, cũng như không làm cho Cộng Sản khiếp đảm. Tuy nhiên khi bức thư của ĐHY Bertone về vụ Tòa Khâm Sứ được đưa ra, họ liền chớp lấy cơ hội, tố cáo là Vatican đã làm áp lực TGM Hà nội, can thiệp vào nội bộ Giáo hội Việt Nam và làm mất đi cơ hội đối đầu của giáo dân đòi công lý với chính quyền Cộng sản!

    Nhân tiện đây, chúng tôi cũng muốn mở một dấu ngoặc nói thêm vài lời về các “ngôn sứ giả” này. Sở dĩ từ trước tới nay họ không có ảnh hưởng hay làm nên cơm cháo gì, vì họ không phải là tiếng nói chân chính của Giáo hội, nên họ không được giáo dân nghe theo. Thêm nữa, họ cũng chưa từng bao giờ vận động được, ngay dù một nhóm giáo dân có tầm cỡ lớn lao nào ủng hộ họ cả. Khi nhìn vào biến cố giáo dân cầu nguyện ở Hà nội, họ thấy sửng sốt, tại sao giáo dân lại can đảm và đoàn kết đến thế, họ cũng nhận ra là dù một vị linh mục vô danh nào đó ở một xứ vùng quê như Hà đông chẳng hạn cũng có ảnh hưởng gấp trăm hoặc gấp ngàn lần ảnh hưởng của họ, vì khi các vị này lên tiếng một lời là có cả từng ngàn người nghe theo ngay. Cả một cao trào đứng lên đòi công lý đã bùng nổ ra, từ Hà nội lan tới Saigòn, ra cả hải ngoại... họ mới ngả ngửa ra rằng: hàng giáo phẩm, giáo sĩ và giáo dân Việt Nam không "hèn nhát" như họ từng kết án từ trước đến nay! Họ cũng dễ nhận ra ngay là người Công giáo Việt Nam đâu có “sợ sệt” gì, sở dỉ từ trước đến giờ họ không hành động là bởi vì thời giờ chưa tới, một khi được các vị chủ chăn chân chính kêu gọi đứng lên, thì hàng, hàng vạn người như một sẽ đứng lên. Đấy mới là sức mạnh của sự đoàn kết và sức mạnh của niềm tin “chiên ta thì nghe tiếng ta”.

    Cũng chính vì lý do các "ngôn sứ giả" này không phải là tiếng nói của Giáo hội Công giáo Việt nam, lại nữa họ cũng không phải là đại diện cho Giáo hội Việt nam, nên từ trước tới nay Giáo hội Công giáo Việt Nam đã không lên tiếng về các lời chỉ trích của các "ngôn sứ giả"này. Tuy nhiên, các người tự xưng mình là "ngôn sứ" -dù họ là linh mục chăng nữa- thì Giáo hội cũng không cản trở họ khi họ thi hành quyền công dân của mình, họ có quyền nói lên tiếng nói và lập trường của họ. Tuy nhiên họ không thể bắt buộc Giáo hội phải chấp nhận tiếng nói của họ như là tiếng nói của Giáo hội hay bắt Giáo hội phải bênh vực họ khi họ phát biểu trật đường và không đi trong khuân khổ và lập trường của Giáo hội. Không những hàng giáo phẩm hoặc Giáo Hội Việt Nam không lên tiếng mà bất cứ tổ chức nào hiệp thông đích thực với Giáo hội Việt nam cũng không đồng tình với lập luận riêng của họ. Lập trường của VietCatholic cũng vậy, không muốn "mất giờ" đi vào cuộc bút chiến với các "ngôn sứ giả" nêu trên.

    Trở lại vần đề tiến trình vụ giải quyết đất Tòa Khâm Sứ: Thực tế là ngay trước khi Tòa Giám Mục Hà nội nhận được lá thư với những lời khuyên của ĐHY Bertone thì đã có những bàn thảo trong nội bộ: có nên tiếp tục cho giáo dân đội mưa và chịu giá lạnh với một thời tiết khắc nghiệt vào cuối tháng Giêng vừa qua hay không? Nhìn từ khía cạnh nhân đạo và với việc báo chí ngoại quốc đặc biệt quan tâm tới giáo dân cầu nguyện trong giá lạnh, việc khuyên giáo dân về nhà là một cử chỉ rất “nhân đạo” dưới con mắt của mọi người trên toàn thế giới, bằng không việc cầu nguyện tranh đấu cho công lý của giáo dân Hà nội sẽ trở thành “vô nhân đạo” dưới con mắt người Tây phương, và nhất là đối với anh chị em Công giáo Việt Nam ở khắp nơi, không thề nào mà không thấy sự thương tâm cắn xé tâm can khi nhìn thấy anh em đồng đạo mình phải trải qua những gian nan như vậy.

    Đức TGM Hà nội không hề bị áp lực nào từ phía Vatican, bởi vì trước khi có thư của ĐHY Bertone thì đã có những cuộc điện đàm tham khảo giữa Vatican và Tòa Giám Mục Hà Nội, cũng như một số ý kiến của các Giám Mục Việt Nam, xa hơn là các nhân vật ảnh hưởng đạo đời, không những chỉ trong nước mà nhiều nơi ở hải ngoại, ngay cà ý kiến đóng góp của các cấp ngoại giao các quốc gia về vấn đề này với Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

    Bức thư mà ĐHY Bertone gửi cho TGM Hà nội và một thư khác gửi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng Việt Nam là cơ hội cho cả hai bên tháo được cái nút khó mở, mỗi bên đứng trước một tình thế khác nhau hoàn toàn, một bên là vì nhân đạo, bên khác là vì thể diện. Hai bên đã có những cuộc trao đổi, với những đồng ý trên nguyên tắc chung chung hầu tỏ thiện chí. Đang khi đó chính quyền Việt Nam cũng bị những áp lực ghê gớm thừ nhiều phía: đại sứ Việt Nam ở Roma bị chính phủ Ý triệu hồi đòi giải thích, đại sứ Pháp và Hoa Kỳ ở Việt Nam, v.v... nêu ra với chính quyền Việt Nam những quan tâm của họ.

    Vào ngày 30/01/2007, trên trang VietCatholic có viết rằng: “Trong 2 ngày qua 30-31/01/2008 đang có những nỗ lực và cũng có thể nói là những áp lực từ nhiều phía để UBND thành phố Hà nội và Tòa Tổng Giám Mục ngồi lại với nhau, tiến tới một giải pháp tốt đẹp cho vụ việc Tòa Khâm Sứ. Theo nguồn tin riêng của chúng tôi, phía chính quyền Hà nội cũng chỉ mong thoát ra được cái tròng ngày càng xiết chặt, nghĩa là làm sao còn giữ được chút “thể diện”, hay như có người nói trước đây là muốn “biểu hiện quyền uy”của mình”.

    Khi đó chúng tôi đã biết đại khái về bản chất thỏa thuận giữa Tòa Giám Mục Hà nội và Chính quyền Hà nội, nhưng không tiện nêu ra, với mục đích để hai bên có khung cảnh thích hợp chứ không vì áp lực nào hầu đi tới một kết quả tốt đẹp cho cả hai bên.

    Theo nguồn tin của chúng tôi khi đó, được biết rằng, chính quyền Hà nội và quận Hoàn Kiếm qua chỉ thị của Thủ tướng sẽ phải tìm cách thế “trao quyền sử dụng đất Tòa Khâm Sứ lại cho Tồng giáo phận Hà nội” muộn nhất là trong cuối tháng 3 năm 2008, vì sau đó vào tháng 4, 2008 sẽ có một phái đoàn ngoại giao Việt Nam gồm 4 người sang Vatican, được dẫn đầu bởi một Thứ trưởng ngoại giao về bàn về một nghị trình mà cả hai bên đều quan tâm chung.

    Ngôn ngữ được dùng về vụ Tòa Khâm sứ là “trao quyền sử dụng” với chủ tâm để giữ thể diện, chứ không phải là “trả lại” Tòa Khâm Sứ. Vụ việc Tòa Khâm sứ sẽ tách rời khỏi vụ Thái Hà và Hà đông, và ngay cả đất thánh địa La vang hay Đại học Đà lạt cũng vậy, mỗi nơi sẽ do hoàn cảnh đặc thù của địa phương đó và giáo phận địa phương đó mà giải quyết, như vậy sẽ tránh đi được nỗi lo sợ của chính quyền là “đòi được Tòa Khâm sứ thì tất cả các nơi khác sẽ nổi lên đòi lại”.

    Để tỏ thiện chí tối đa, giáo dân Hà nội và các thành phần Dân Chúa ở Việt Nam cũng như khắp nơi trên thế giới cũng cố gắng "tạm im lặng" hầu tạo cơ hội không tấn công hay chỉ trích chính quyền, để với mục đích tạo một “khung cảnh tương đối êm đềm cho những cuộc nói truyện dẫn tới kết quả tốt đẹp”. Tuy nhiên, Đức TGM Hà nội vẫn giữ lập trường là phải nhận lại được Tòa Khâm sứ mới thôi, cũng như cần có bảo đảm từ chính quyền muốn mở ra "lộ trình để giải quyết một cách công bằng và hợp lý" cho những khiếu kiện của người dân, nhất là những tranh chấp đất đai của Giáo hội Công giáo. Đó là mục đích chính yếu của các buổi cầu nguyện đòi cho “công lý” được thực thi. Điển hình là vào ngày mùng 3 Tết, Đức TGM Hà nội đã đến cầu nguyện với giáo dân Thái Hà có 7.000 người tham dự. Điều đó nói lên quyết tâm của đức TGM Hà nội và toàn giáo dân Hà nội.

    Tuy nhiên, trong vài tuần qua, một vài sự kiện “ngoại lai” đã làm cho nhiều người thiện chí nghi ngờ về quyết tâm của chính quyền Hà nội muốn thực tâm giải quyết vụ Tòa Khâm Sứ: đó là 2 cơ quan mang mầu sắc tôn giáo, nhưng là tổ chức tôn giáo quốc doanh do đảng Cộng Sản Việt nam lập ra cho hoạt động, từ trước tới nay vẫn làm việc dưới sự chỉ đạo của chính quyền và được chính quyền cung cấp phương tiện vật chất, đó là tờ báo “Công giáo và Dân tộc” và tổ chức “Giáo Hội Phật giáo Việt nam” (hay còn gọi là Phật giáo quốc doanh). Cả hai tổ chức này đã tung ra những đòi hỏi và đặt lại vấn đề Tòa Khâm Sứ hầu hy vọng kéo dài thời gian nhùng nhằng không muốn cho việc giải quyết vụ Tòa Khâm Sứ được mau chóng kết thúc.

    Trong thời gian vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trao vụ giải quyết Tòa Khâm sứ cho Ban Tôn giáo chính phủ, Bộ Công an, Bộ Xây dựng và UBNH thành phố Hà nội. Nguồn tin riêng của chúng tôi cho biết các thành phần trên đều đồng ý “trao quyền sử dụng” Tòa Khâm Sứ cho Tòa giám mục Hà nội theo nhu cầu đề nghị của Hội đồng Giám Mục Việt Nam, nhưng trừ ra "Chính quyền địa phương Quận Hoàn Kiếm" là vẫn còn cương quyết chống lại. Quận Hoàn Kiếm vẫn kiên trì đề nghị là "cấp cho Giáo hội một khu đất khác ở quận Hoàn Kiếm có thể rộng rải hơn" khu Tòa Khâm Sứ để khỏi phải phá hợp đồng xây dựng mà họ đã trót ký với cơ sở thương mại đầu tư, đàng khác "Quận lấy lý do làm như vậy sẽ tránh được tiền lệ đòi đất ở khắp nơi".

    Không biết từ sáng kiến của ai, hai bài báo của linh mục Trương bá Cần trên tờ Công giáo và Dân tộc, thêm văn thư của hòa thượng Thích Trung Hậu, đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đòi được tham khảo trong vụ đất Tòa Khâm sứ, khi được tung ra đã và còn đang gây một phản ứng chống đối chính quyền còn mãnh liệt hơn nữa, và làm mất đi niềm tin tưởng vào thiện chí của chính quyền - đã vốn ít oi thì nay lại xuống tới mức thấp nhất - làm chính quyền mất mặt thêm, và lại thêm lúng túng ra.

    Có tin cho biết: trong nội bộ quan chức chính quyền Hà nội đang lủng củng vì truyện này, một đàng họ nói việc hòa thượng Thích Trung Hậu nộp đơn “đã bị chính quyền phê phán gay gắt”, đàng khác có thành phần trong chính quyền lại đổ tội “đó là âm mưu của Bắc Kinh hay của CIA” nhằm làm suy yếu sức đối kháng của chính quyền Việt Nam trước vụ Hoàng Sa và Trường Sa.

    Lại cũng có tin LM Trương bá Cần "đã bị ban Tôn giáo vụ khiển trách" khi đưa ra quan điểm trên tờ Công giáo và Dân tộc là “đã vi phạm lệnh cấm của Ban Tuyên giáo chính phủ không được đăng báo đả kích về các cuộc cầu nguyện của giáo dân nữa”. Nguồn tin còn cho biết thêm là vào ngày mai 27 /2/2008 tại Hà nội sẽ có cuộc họp Đoàn Chủ tịch UBĐKCGVN để thảo luận, và chắc chắn là có cãi vã và tranh chấp lớn lao vì tự nhiên ai cũng nhắm mũi dùi vào tờ CGvDT để lên án gắt gao!

    Nguồn tin được cung cấp nêu trên - từ trước tới nay nguồn tin này thường vẫn trung thực - tuy nhiên lần này chúng tôi có hơi hồ nghi về tính cách trung thực về diễn biến và sự kiện mà chúng tôi vừa trinh bầy ở trên. Chúng tôi coi đây là một đòn giải độc cho chính quyền, khi mà chính quyền đã ngây ngô tin dùng gia nô CGvDT cũng như GHPHVN quốc doanh trong việc gây chia rẽ và trốn trách trách nhiệm và có thể tung lá bài kéo dài thời gian hoặc muốn luốt lời hứa với Vatican và Tòa TGM Hà nội. Nay thấy lá bài hỏng không xài được và bất lợi, nên giả đò "đưa con vật ra tế thần" hầu xoa dịu sự chống đối!

    Một lời cảnh báo trước

    Với thiện chí của mình, Đức TGM Hà nội vẫn còn đang chờ đợi việc chính quyền mau chóng thực thi những thỏa thuận đã hứa là chính quyền sẽ trả lại, hay cách nói “trao quyền sử dụng” Tòa Khâm Sứ cho Giáo hội cũng được.

    Hàng giáo sĩ và giáo dân Hà nội vì đức vâng lời và cũng muốn chứng tỏ cho thế giới thấy sức mạnh của tinh thần đoàn kết “cha con một lòng, hàng vạn con tim là một” sẵn sàng hi sinh chính kiến cá nhân, để tuân thủ theo sự hướng dẫn của chủ chăn. Thế nhưng sự kiên nhẫn sẽ có giới hạn, thời gian để giải quyết trong trật tự đã được đặt ra, và kết quả phải đạt được trong công lý và tôn trọng lẫn nhau. Một khi giáo dân Hà nội thấy mình bị lừa dối thì chiến dịch cầu nguyện sẽ lại được tái phát động, và lần này chắc chắn các buổi cầu cầu nguyện sẽ lớn mạnh hơn, kiên trì hơn và sẽ kéo theo một số những ảnh hưởng giây chuyền về cả thời gian và không gian... Hàng rào, cổng và tường ngăn cách giữa Tòa giám mục và Tòa Khâm sứ cũng sẽ trở nên vô dụng.. sẽ bị mở tung ra! Các buổi cầu nguyện cho công lý không những chỉ tổ chức tại Hà nội mà còn lan rộng ra các giáo phận tại Việt nam khác nữa.

    Trước đây, có người cũng đã đặt câu hỏi, tại sao chỉ có các vị giám mục ngoài Bắc là đã lên tiếng ủng hộ Đức TGM Hà nội mà không thấy các giám mục trong Nam, ngoài Trung, hay là tiếng nói của Hội đồng Giám Mục Việt nam lên tiếng về vụ việc này? Theo chúng tôi được biết, các vị giám mục Việt Nam cho rằng, vụ Tòa Khâm Sứ Hà nội, nên tạm để trong tầm mức địa phương Tổng giáo phận Hà nội (nghĩa là các giáo phận Miền Bắc) chung nhau giải quyết trước. Làm như vậy sẽ không làm cho chính quyền phải lo lắng mà sinh nghi ngờ một cuộc tổng nổi dậy đòi đất và đòi công lý lan tràn khắp nơi mà không đi đến kết quả thực tế. Sự lựa chọn này đáp ứng nhu cầu tình lý và trong những điều kiện hành động mà không gây rối loạn theo đúng chủ trương ôn hòa và bất bạo động của Giáo hội. Đàng khác nó cũng đã mạnh mẽ đủ đề nói lên khao khát chính đáng của giáo dân Công giáo Việt nam, và cũng đã có kế hoạch và đường lối làm cho đòi hỏi của Giáo hội Việt nam có tiếng vang trên thế giới, và được nền ngoại giao và báo chí quốc tế ủng hộ những đòi hỏi chính đáng của người công dân và người Công giáo Việt Nam.

    Nguồn tin của chúng tôi cũng báo cho biết: Nếu trong hạn kỳ mà chính quyền Hà nội đã hứa mà không thực thi nghiêm chỉnh thì lần này cuộc đòi hỏi bằng các buổi cầu nguyện cho công lý sẽ không bị giới hạn trong điều kiện không gian, thời gian và khí hậu nữa.

    Nguồn tin còn cho biết là thêm chi tiết như sau: hiện nay, các nhóm giáo dân, một số giáo xứ trong giáo phận Hà nội đang bàn nhau dự tính sẽ có các buổi cầu nguyện cho công lý trước Tòa Khâm Sứ trở lại, sẽ được bắt đầu lại từ Tuần Thánh năm nay, tức là từ ngày Chúa Nhật Lễ Lá ngày 16/3/2008 và sẽ kéo dài liên tục với số người đông hơn và cương quyết hơn nhiều.

    Những ngọn nến của cả hàng 10 ngàn người đã được thắp lên từ ngày 18 tháng 12 năm 2007 đến ngày 1/2/2008 ở Hà nội vẫn chưa bao giờ tắt, những ngọn lửa đó còn đang bừng sáng và lửa thiêng được giữ vững tại Thái Hà và Hà đông, cũng như tại các giáo xứ Hà nội chỉ chờ ngày bừng sáng trở lại mà thôi. Người giáo dân đã vượt qua “nổi sợ” dù bị đe dọa đến mạng sống trong ngày 27/1/2008 khi mà chính quyền và quân đội định tảo thanh và “làm sạch” những ngưòi cầu nguyện ở Tòa Khâm sứ, cho thấy cả ngàn người đã không hề sợ bị đàn áp hay sợ chết.

    Thời tiết giá buốt bất thường đột nhiên đến với Hà nội vào cuối tháng Giêng nên vì lý do “nhân đạo” mà các buổi cầu nguyện đã được tạm cho đình chỉ lại, với hy vọng thiện chí đôi bên sẽ thực thi lời hứa. Nhưng vào Tuần Thánh giữa tháng Ba sắp tới tới, không còn tiết giá mùa đông nữa, sẽ là khởi đầu lại cho một cuộc hành trình đức tin đòi công lý quyết liệt hơn.

    Khởi đi từ bài “Ca lên đi” trong ngày nhạc hội Mừng Chúa Giáng Sinh với chủ đề “Kinh Hòa Bình” đòi “Công Lý”: tượng Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh giá Chúa được dựng lên tại khung viên Tòa Khâm Sứ, thì sắp tới đây, giáo dân Hà nội cương quyết sẽ đi lại con đường Thập giá và thương khó Chúa đã đi trong Tuần Thánh, để đốt lên “Ánh Lửa Phục Sinh” tiếp tục soi vào một thế giới đen tối, lỗi lầm, thất hứa và thiếu công lý. Ánh Lửa Phục Sinh sẽ bùng sáng trở lại để công lý, nhân quyền, tự do và chân lý được thể hiện.

    Tuần Thánh là tuần mà tất cả mọi người Công giáo khắp nơi, suốt cả tuần lễ, sẽ tụ tập bên nhau, cầu nguyện, suy niệm và tưởng nhớ đến sự chết và những chặng đường chông gai khổ nhục của Chúa trong chương trình cứu độ hầu giải án tội lỗi cho nhân thế và giải phóng con người khỏi gông cùm trói buộc mọi cách, hoàn lại cho con người quyền làm con Thiên Chúa. Đó chính là con đường mà các tín hữu Công giáo mỗi năm đều mỗi suy niệm làm giá trị cho cuộc sống của mình.

    Lần này đây không những giáo phận Hà nội cầu nguyện mà cả toàn các giáo phận Việt nam cũng cầu nguyện, cả thế giới đều cầu nguyện và thắp lên “Ánh Lửa Phục Sinh”. Ánh lửa thắp lên lần này sẽ không tắt nữa!

    Ánh sáng và ngọn lửa của sự thật của Đức Kitô, công lý cho con người, và quyền tự do nhân phẩm giá trị thiêng thiêng của mỗi một người là động lực thúc đẩy không những chỉ người tín hữu Công giáo phải dấn thân, mà cũng là lời mời gọi mọi thành phần thuộc mọi tôn giáo Việt Nam cùng đứng lên tranh đấu cho công lý và cho sự thật vậy.
     
    VietCatholic Network
     

    Lại tiếp tục vào vai Nhà nước để nhận định

     
    VietCatholic News (Thứ Ba 26/02/2008 22:42)
     
    Lại tiếp tục vào vai Nhà nước để nhận định

    1- Vài chuyện bên lề

    Trước hết xin cảm ơn bạn đọc xa gần đã quan tâm tới bài viết của “thảo dân” này. Thích nhất là có một tốp thợ mới xuất hiện như Thợ Nề New York, Thợ Cầy làm cho Thợ Gặt thấy không bị lẻ loi. Bao giờ thuận lợi, đề nghị VietCatholic cho “hiệp hội thợ” này có dịp hàn huyên với nhau thì vui biết mấy. Xin cảm ơn tác giả Trương Phú Thứ đã có lời chúc tết đến gia đình Thợ Gặt. Thợ Gặt cũng có lời đáp lễ cầu chúc chân tình tới tất cả Quý bạn đọc của VietCatholic.

    Tuy nhiên, cũng có bạn đọc nghi ngờ: hình như Thợ Gặt là quân sư quạt mo, quạt điện hay “dây mơ, rễ má” với bà Phó Chủ tịch thành phố nên bênh ghê quá. Điều này xin thưa là, thảo dân cũng đôi ba lần được bắt tay bà dịp hiếu hỷ nào đó chứ nếu có “dây mơ rễ má” thì có khi đã chễm chệ ở cái ghế Trưởng ban Tôn giáo thành phố từ lâu rồi. Vì bà đang là nhân vật “nguồn cốt cán” đấy. Có lần, Thợ Gặt theo một Đức TGM ra chào thành phố. Nghe bà đọc diễn văn “sao y bản chính”, liền ghé tai một vị cán bộ hỏi nhỏ: “Người đẹp ở xứ nào ra vậy?” Vị ấy trả lời: Tài năng do Tổng Bí thư Đỗ Mười tiến cử đó. Câu chuyện nhiều sếp ở ta đọc văn mẫu thì cả thế giới đều biết chứ đâu phải riêng bà. Hồi những năm 80, có một vị lãnh tụ văn chương, lý luận nổi như cồn. Khi Thợ Gặt nói chuyện với ông nhà thơ- thư ký của vị lãnh tụ đó, ông ta bảo: Khen cụ đó thì khen cả ngày. Nhưng cụ đó chỉ đọc những điều tớ viết ra mà thôi. Lúc đó, tôi nghĩ ông nhà thơ này ngạo mạn quá. Xong có mấy dịp chứng kiến thì đúng thật. Có lần trong lễ mít tinh lớn, một vị lãnh đạo đọc diễn văn khá hùng hồn. Nhưng đến đoạn: “Đọc đến đây thì dừng lại vỗ tay” vị này cũng đọc ra luôn. Mọi người ngẩn ra một lúc rồi cười ồ lên. Lại tay thư ký ẩu. Lẽ ra chỗ đó phải in đậm hoặc gạch đỏ chứ.

    Bởi vậy, tôi vẫn đinh ninh bà Phó Chủ tịch thành phố không soạn 2 công văn gửi Chủ tịch HĐGMVN và Tòa TGM Hà Nội hôm 11 và 26-1 vừa qua. (ở đây không bàn đến trách nhiệm của người ký). Cái công văn đó chính tả sai be bét, đứa trẻ lớp 3 cũng biết. Ví dụ các danh từ riêng như “Đức Mẹ, Thánh Giá” không hề được viết hoa. Nếu gửi cho người Hồi giáo kiểu này thì nguy to. Hơn nữa, bà đã tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị nên biết rõ quyền hạn của HĐGM, ai lại yêu cầu GM Chủ tịch can thiệp vào vụ việc ở 42 Nhà Chung hay giáo xứ Thái Hà. Đặc biệt, bà thuộc lòng các câu kinh điển của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh nói về thái độ của Đảng đối với tôn giáo. Bà không thể “mệnh lệnh” với tôn giáo được vì đó là cách ứng xử mà Mác đã chửi thẳng “Đồ ngu, tôi đã nói với các anh từ 200 năm trước rồi cơ mà”.

    2- Trở lại vụ Tòa Khâm sứ

    Văn thư của Hồng y Bertone gửi TGM Hà Nội ngày 30-1-2008 đã làm cho giới chính quyền Hà Nội có thể kê cao gối ngủ ngon trong dịp Tết Mậu Tý vừa qua. Mặc dù việc cầu nguyện ở Thái Hà, Hà Đông vẫn còn rầm rộ nhưng ở xa Bờ Hồ cả chục cây số. Ông Chủ tịch quận Hoàn Kiếm lên tivi kể công “thuyết phục” giáo dân. Nhưng ai cũng thừa biết, nếu không có văn thư trên và sự vâng lời của giáo sĩ, giáo dân Hà Nội nghe theo lời khuyên của chủ chiên thì chắc sự việc đã rất khác. Một vị Bộ trưởng nói với tôi, chính Thủ tướng Việt Nam đã yêu cầu Vatican can thiệp. Nhưng một cán bộ cao cấp khác lại bảo, chính Vatican chủ động nêu vấn đề vì lo ngại bị chính trị lèo lái. Dù ai đặt vấn đề trước, theo tôi, như đôi trai gái yêu nhau, ai ngỏ lời trước cũng chẳng quan trọng. Vấn đề là họ chấp nhận yêu nhau.Vâng, xu thế đối thoại đang là xu thế của thời đại ngày nay.

    Sau sự kiện Tòa Giám mục rước Thánh giá về và quận Hoàn Kiếm đóng cổng Tòa Khâm sứ lại, hình như sự vụ không tiến lên một bước nào. Có vài hiện tượng “lạ” như linh mục Trương Bá Cần viết bài trên Công giáo và Dân tộc số 1644 và 1645, rồi Hòa thượng Thích Trung Hậu gửi văn thư cho Thủ tướng yêu cầu phải cho Giáo hội Phật giáo Việt nam tham gia vào việc giải quyết vụ Tòa Khâm sứ. Nhiều bài viết phê phán gay gắt hai hiện tượng này, cho đó là do Nhà nước giật dây.

    Theo tôi biết thì có thể là oan cho Nhà nước. Nhà nước Việt Nam thừa khôn ngoan chính trị. Họ có thể sai lầm nhiều thứ nhưng không sai lầm ngớ ngẩn với hai “vật thể lạ” này. Thật ra, những vị này cũng muốn “chia lửa” với Nhà nước lúc khó khăn, vì Nhà nước nuôi bao năm nên cũng muốn “đền ơn, đáp nghĩa”. Chỉ có điều họ “kính không bõ phiền”. Nói như linh mục Trương Bá Cần hóa ra Nhà nước này lẩm cẩm hay sao mà đất của Tòa thánh lại để cho linh mục Nguyễn Tùng Cương hiến tặng? Thật phi lý cũng giống như cơ sở 370 Cách mạng tháng Tám của báo CG&DT mà để cho Hòa thượng Thích Trung Hậu ký giấy nhượng cho báo Giác Ngộ vậy.

    Nguy hiểm nhất là vị linh mục này lại khởi xướng cho việc những người di cư năm 1954 và di tản năm 1975 quay lại đòi nhà “trông coi giúp”. Mặc dù đúng là Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói thế trong thư chúc mừng Noel năm 1954 “Đối với những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, chính phủ đã ra lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho những người trở về” (HCM tập 7, CTQG 2002, tr.417). Báo CG&DT chắc chắn bị Ban Tuyên giáo phê phán trong buổi giao ban thứ ba tới vì đã vi phạm lệnh cấm đăng tin bài liên quan đến vụ Tòa Khâm sứ và làm mất cả “uy tín” của “ủy ban đàn két công giáo” (theo cách gọi của Nguyễn Ngọc Lan). Một linh mục trong ủy ban này bảo sẽ “cạo trọc đầu” linh mục Trương Bá Cần trong phiên họp Đoàn Chủ tịch của Ủy ban vào ngày 27 và 28-2-2008 tại Hà Nội. Nhưng tôi cược là linh mục Trương Bá Cần sẽ cáo ốm không đi.

    Có bạn đọc kêu gọi tẩy chay báo CG&DT và Ủy ban ĐKCGVN. Xin thưa, bạn đọc ở trong nước cũng thông minh lắm. Có giáo phận nhận được báo biếu, người ta gửi trả lại “vì nhầm địa chỉ”. Linh mục Võ Thành Trinh, Nguyễn Thái Bá là Chủ tịch của ủy ban này mà phải làm đơn kiện báo “Người Công giáo Việt nam”- anh em với báo CG&DT vì báo công giáo mà chửi cả Giáo hoàng và còn tuyên bố: “Và một lúc nào ai biết/ Nó sẽ cuốn phăng mọi lời Chúa răn” (Bài thơ Thỉnh Chúa số 4 ngày 28-2-1993). Tổng biên tập báo này nhiều đời không phải người Công giáo và ông Tổng biên tập hiện nay cũng chỉ đổ nước trên đầu lúc bé chứ lấy vợ cũng có phép tắc gì đâu và linh mục Võ Thành Trinh đã dứt khoát không cho vào ủy ban. Các linh mục Trương Bá Cần, Vũ Đình Bích, Phan Khắc Từ, định tẩy chay ông này vì cho là “công giáo không tử tế” và còn dọa “hoặc là có ông này hoặc là không có chúng tôi”. Nhưng ông đáp lại, ông còn tử tế hơn nhiều “đám linh mục ABC”. Kết quả, các linh mục trên lần lượt rời xới, còn ông hiện là Đảng ủy viên Mặt trận, Phó Tổng thư ký kiêm Tổng biên tập báo “Người công giáo Việt nam”. Và Nhà nước vẫn bỏ mỗi tháng 50 triệu đồng để nuôi tờ báo không có người đọc này.

    Về văn thư của Hòa thượng Thích Trung Hậu còn nguy hiểm hơn bởi nó kích động thù hằn tôn giáo là điều cấm kỵ với xã hội. Nó khơi lại lịch sử Chân Lạp, Chiêm Thành, Giao Chỉ mà Nhà nước muốn khép lại từ lâu. Nó phủ nhận Nhà nước Việt nam được tạo dựng từ năm 1945 với pháp luật hiện hành. Mấy giáo sư nghiên cứu tôn giáo khi nghe tôi nói đến văn thư này đều bực tức nói: "Đây đúng là tay sai của Bắc Kinh hay CIA". Chắc chắn, cơ quan an ninh sẽ “sờ gáy” vị Hòa thượng này. Thời gian vừa qua có khá nhiều “sáng kiến, kiến nghị” của nhóm “Giao Điểm” gửi các vị lãnh đạo Nhà nước về “âm mưu của Công giáo” và như một ông giáo sư họ Chương viết trong “Về ý nghĩa của một bài học lịch sử” tháng 4-1995 đề nghị trang bị cho mỗi người 1 khẩu AK với 10 ngàn viên đạn để tiêu diệt hết dân Công giáo. Ông cũng đề nghị “lập Công giáo tự trị”, ai không theo thì trục xuất đi Philippin - hay một tác giả là Trần Văn Anh lại viết: “Jesus và các đệ tử của ông tàn ác hơn nhiều bạo chúa trong lịch sử” (Đối thoại với Bùi Tín ngày 27-2-1994)- Nói như thế là phạm thượng đấy vì Hồ Chí Minh nhiều lần ca ngợi lòng bác ái của Chúa Giêsu và còn xin “làm học trò nhỏ của Chúa Jesus Christ”. Một cán bộ nói thẳng, mấy ông muốn kiếm “” về nước thì cứ đặt vấn đề, còn kiến nghị kiểu đó, chẳng ai thèm nghe đâu. Bởi vậy, xin bạn đọc đừng mất thời giờ bàn về những “vật thể lạ” này nữa. Nhà nước Việt nam đâu phải trẻ con nít mà xui dại được.

    Trở lại vụ Tòa Khâm sứ, Thủ tướng đã giao cho Ban Tôn giáo Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội và mấy cơ quan chức năng nữa cùng xem xét để giải quyết. Nhà nước cũng muốn kết thúc vụ việc trước khi 2 phái đoàn Việt Nam và Vatican do 2 Thứ trưởng ngoại giao gặp nhau tại Roma vào đầu tháng 4 tới (mỗi bên có 4 người). Tin hành lang cho biết, quận Hoàn Kiếm đề nghị cấp cho giáo hội một mảnh đất khác có diện tích lớn hơn 42 Nhà Chung cũng được, còn vẫn để Tòa Khâm sứ cho quận Hoàn Kiếm sử dụng. Làm như vậy, quận Hoàn Kiếm không lo bị bồi thường hợp đồng xây dựng cao ốc ở đây và Nhà nước tránh được hiện tượng domino “đòi đất” ở nhiều nơi khác. Một cán bộ hỏi tôi về giải pháp này, tôi nói, chắc chắn Giáo hội không chấp nhận. Bởi lẽ đơn giản, Tòa khâm sứ không phải là đất bị quản lý hay hiến tặng thì làm sao xử lý như vậy được. Hơn nữa, tại sao quận Hoàn Kiếm không lấy mảnh đất rộng sắp cấp cho giáo hội để xây mà cứ nhất định lấy Tòa Khâm sứ? Nhân đây, cũng nói thêm là cả đất Khâm sứ và đất Thái Hà đều nói hiến ngày 24-11-1964. Chẳng lẽ, linh mục Bích, linh mục Cương rủ nhau đi hiến đất cùng ngày? Đây chính là ngày kê khai đất mà chính quyền yêu cầu và ít nhất đã 3 lần phải kê khai như vậy.

    Liệu người Công giáo có đủ kiên nhẫn để chấp nhận một giải pháp thiếu công bằng như thế không và điều gì sẽ xảy ra khi Tuần thánh đang đến gần?
     
    Thợ Gặt
     
    February 26

    Đằng sau một cuộc tranh cãi về lịch sử

     
     

    Đằng sau một cuộc tranh cãi về lịch sử

    JB Nguyễn Hữu Vinh

    Những lời hứa đang chờ thực hiện

    Khi những buổi cầu nguyện trong Tòa Khâm sứ được tạm rút, để dọn đường một cách hòa bình cho Nhà nước thực hiện những lời hứa của mình là trả lại Tòa Khâm sứ cho Giáo hội – một cách thể hiện tính nghiêm túc và đầy ôn hòa của Giáo hội Công giáo Việt Nam với Nhà nước. Thời gian chờ đợi càng kéo dài, nhiều suy tư trăn trở của giáo dân và những người quan tâm được đặt ra: Nhà nước có thực tâm để thực hiện những lời đã hứa với cả danh dự của mình không? Nếu không, phải chăng Giáo hội và TGP Hà Nội đứng đầu là TGM Josepht Ngô Quang Kiệt đã bị lừa?

    Những suy tư trên không phải là không có cơ sở, chắc cũng bởi đã sống lâu với chế độ Cộng sản, nên những người dân đã có dạn dày kinh nghiệm. Có người chép miệng: “Chỉ khổ mấy ông Linh mục, Giám mục, cứ nghĩ ai cũng nói thật như mình nên bị lừa như chơi, làm gì có danh dự hay danh tiếng gì ở đây, hãy chờ xem những chiêu tiếp theo”. Thậm chí, có người còn lớn tiếng: Giáo hội đã thất bại?

    Khi Giáo dân đang nóng lòng chờ đợi việc Nhà nước thực hiện lời hứa thì trên khu đất Tòa Khâm sứ hình ảnh búa và liềm vẫn ngự trị, câu khẩu hiệu “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng Đất nước” đang giăng đầy hàng rào và đường phố Nhà Chung dưới tiết trời lạnh lẽo và mưa sa (Thì ra, Đảng to hơn cả Xuân của đất trời và tất nhiên là to hơn cả Đất nước nên sự mừng cũng được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên?). Điều đó như một sự trêu ngươi trước con mắt các giáo dân Hà Nội và những người khách vãng lai càng thêm sốt ruột.

    Tuy nhiên, TGM Josepht Ngô Quang Kiệt chắc vẫn có lòng tin những lời hứa trên có thể sẽ được thực hiện, nhưng với nền hành chính “rùa bò” của Việt Nam, việc thực hiện ngay là điều chưa có được? Ngài vẫn hy vọng những lời hứa trong danh dự kia sẽ được thực hiện trong nay mai.

    Có thể đang có những động thái cần thiết nào đó để mọi việc tốt đẹp hơn, giữ được mối quan hệ loại trừ những căng thẳng không cần thiết. Tất cả chúng ta cần phải chờ đợi như đã từng chờ đợi bao năm nay?

    Nhưng, Giáo hội đã không thất bại trong “Lễ hiện xuống” 40 ngày đêm qua. Điều dễ thấy nhất, đó là hàng ngũ giáo dân, vốn đã sống trong hoàn cảnh khốc liệt của thể chế Cộng sản với những sự khiếp nhược truyền kiếp, thì nay đã dám đứng lên, đương đầu với súng đạn, công an và cả viễn cảnh tù đày, chết chóc để đòi hỏi Công lý được thực thi.

    Đã đến lúc, người dân biết mình có những quyền gì và cơ chế XIN – CHO đã ngang nhiên cướp đoạt của họ những gì, đã làm đảo lộn xã hội ra sao. Những người ăn lương phục vụ nhân dân đã trở thành ông chủ, những ông chủ thật sự bỏ tiền nuôi đầy tớ lại trở thành những kẻ ăn xin. Đó là một nghịch lý được Đảng và Nhà nước nuôi dưỡng bao năm nay. Một nhà nước ăn tiền của dân để phục vụ dân thì không thể chấp nhận tình trạng này mới là một Nhà nước pháp quyền.

    Đó là điều không dễ có, khi đã qua gần hai phần ba thế kỷ người dân Việt Nam đã chịu đựng sống chung với nỗi sợ hãi.

    Đó là sự khởi đầu của một “cuộc cách mạng” trong tư tưởng người giáo dân và người dân Việt Nam nói chung trên con đường phấn đấu, làm chứng cho Công lý và sự thật. Đó cũng là điều mà đất nước này, dân tộc này rất cần để xây dựng một xã hội “Công bằng, dân chủ, văn minh” như Nhà nước thường xuyên kêu gọi.

    Những chất “giọng lạ” và những tiếng nói quen

    Trong khi sự chờ đợi đang dồn lên ngày càng căng thẳng đầy sự nghi ngờ, thì có những “giọng lạ” cất lên liên quan sự việc này, gây sự chú ý của dư luận – Lạ vì những chất giọng lạc điệu này đến nay mới chuẩn bị xong để lên tiếng về sự kiện Tòa Khâm sứ, lại lên tiến trên báo chí Nhà nước, dù sự việc đã xảy ra cả hai tháng qua.

    Đó là tiếng nói của LM Trương Bá Cần mà tôi đã có dịp đề cập trong một bức tâm thư gần đây. LM Trương Bá Cần đã không quản ngại làm người lính xung kích cho Đảng và Nhà nước trong việc bóp méo sự thật, dù vẫn là một linh mục? Phải chăng, LM Cần muốn những những tài sản của Giáo hội kia vẫn để Nhà nước quản lý (!) nếu Nhà nước vẫn còn thấy thích quản lý? LM Cần thừa biết Giáo hội đã bao lần viết đơn XIN mà vẫn chưa “Chưa được đáp ứng” – Lời LM Cần. Nên Giáo hội cần phải cứ tiếp tục XIN và… XIN nữa?. Bài viết của LM Cần cũng đã góp phần làm rối thêm cái gọi là “Thiên Chúa giáo đã kết hợp thực dân lấy chùa Phật giáo” như một số kẻ cơ hội hiện nay đang ra sức kêu gọi, cổ vũ cho một cuộc xung đột tôn giáo nhằm làm bia đỡ đạn cho Nhà nước trước sự khó xử hiện nay.

    Có lẽ LM Cần đã căn cứ câu Kinh Thánh “Ai xin sẽ được, ai gõ cửa sẽ mở”? Nhưng LM Cần đã sai đối tượng. Nhà nước Cộng sản vô thần Việt Nam, không phải là Chúa nên câu Kinh Thánh này không có tác dụng.

    Hay LM Cần muốn có một mảnh đất dụng võ cuối cùng, khi mà Tòa soạn tờ báo “Công giáo và dân tộc” hiện nay - theo một số nguồn tin - thì đó đang là đất của những giáo dân di cư Giáo phận Vinh đã mua để dùng cho những việc của Giáo phận tại Sài Gòn từ lâu. Mà hiện nay, người ta đang có kế hoạch đòi lại?

    Nhiều tiếng nói khác đã đáp lại, thể hiện sự bất bình với những bài viết nô dịch, với những cách nhìn và cách nghĩ ngược chiều sự thật có truyền thống của một số nhân vật thuộc “Giáo hội quốc doanh”.

    Rồi bài viết của ông Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ ra đời không phải ngẫu nhiên, người ta không lạ những bài viết này có mục đích gì.

    Tiếp theo là bức thư gửi ông TT Chính phủ của Hòa thượng Thích Trung Hậu, một chức sắc trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam với định hướng “Đạo pháp và Chủ nghĩa Xã hội”. Bức thư đã lên những chứng cớ lịch sử mơ hồ, không có cơ sở, không đúng sự thật đã được các nhà sử học chứng minh. Và nêu lên một yêu cầu mà người nghe đã biết vì sao HT đã nói về nó chỉ trong dịp này, trong vụ này.

    Nếu Nhà nước thấy cần thiết, có thể sẽ còn những tiếng nói khác đồng giọng, sẽ được đăng trang trọng trên trang nhất các báo tại Việt Nam? Miễn là đạt được những gì họ muốn.

    Đến đây, tôi lại nhớ đến cách mà Hoàng đế Nero đã làm sau khi đốt cháy thành Roma là tìm người Công giáo để làm vật thiêu thân cho dân chúng hả giận trước những tội lỗi của Hoàng đế. Bằng cách vu cáo cho họ những tội lỗi như đầu độc nguồn nước, giết trẻ em, đốt thành Roma hòng tránh sự trừng phạt phẫn nộ của dân chúng.

    Khi những “giọng lạ” đó vừa cất lên, ai cũng hiểu đằng sau đó là gì, bàn tay của ai đã giật những sợi dây của vở rối được đạo diễn vội vàng này.

    Bằng cách điểm lại quá trình lịch sử vừa qua, người ta không khó chứng minh được một điều: Những “giọng lạ” này đã có truyền thống và bề dày hết mình phục vụ sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản vô thần lãnh đạo. Và trong quá trình đó, nhiều người đã bán rẻ chính bản thân mình, thay đổi mục đích chính của cuộc đời mình là phục vụ Giáo hội như lời tuyên thệ của họ?

    Cũng nhân sự kiện và nhân vật đáng quan tâm này, nhiều bài báo mới và cũ đã được đem ra để kiểm chứng, chứng minh vai trò của các con rối trong những vở diễn gượng gạo mà người ta buộc phải mua vé vào xem xưa nay.

    Cần khách quan khi đánh giá một con người

    Nhiều nhân vật trong Giáo hội được xem là thuộc nhóm “quốc doanh”, là “xanh vỏ, đỏ lòng”, đã bị (hay được) đưa ra chứng minh, mổ xẻ thẳng thắn. Trong đó, đau lòng thay, có cả hàng ngũ Linh mục và Giám mục? Trong số những người được nhắc đến nhiều nhất từ xưa đến nay, điển hình như các linh mục Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích, Huỳnh Công Minh, Thiện Cẩm… và ngay cả các Giám mục như GM Bùi Tuần, GM Nguyễn Văn Sang cũng đã từng được đánh một dấu hỏi lớn là những “Giám mục đỏ”?

    Giáo hội Công giáo xưa nay, kể cả giáo hội Hoàn vũ vẫn có những nỗi đau về những mục tử đã không hành xử đúng chức năng của mình cần có. Thậm chí, đã phản bội lại chính Giáo hội và gây bao hậu quả tang thương. Việc chứng minh, mổ xẻ đó có thể là một việc cần thiết để Giáo hội phải đối mặt với chính nỗi đau của mình đang hiện hữu mà có những canh tân, sàng lọc cần thiết.

    Với đất nước, với dân tộc, để có thể đi lên kịp thế giới văn minh, không thể sống bùng nhùng trong sự dối trá lan tràn từ thấp đến cao, từ cao xuống thấp như hiện nay. Vì vậy, việc phân biệt rõ ràng đen trắng cũng là một việc hết sức cần thiết.

    Nhưng, cũng cần xem xét các khía cạnh hoàn cảnh, lịch sử cũng như một quá trình nhất định để đảm bảo tính khách quan và trung thực, tránh những xúc động cá nhân. Nếu chỉ vì một hành động, một lời nói trong những hoàn cảnh tế nhị nhất định, đã quy kết thành bản chất là điều hoàn toàn không nên. Nhiều khi chỉ là cách hành xử, xưng hô vài hành động cá nhân đã được nhắc lại, trích dẫn để chứng minh những nhận định của mỗi người mà chưa có những quá trình thẩm tra cần thiết, dẫn đến những quy kết có thể sai lạc và oan uổng.

    Điều đó cũng không khác mấy với việc đặt lên những người tu hành vốn đã nặng nhọc và vất vả thêm một Thánh giá mới từ chính sự quy kết của mình.

    Đặc biệt, khi chúng ta nhìn nhận hàng Giáo phẩm dưới con mắt chính trị thì càng dễ đi xa sự thật hơn. Bởi Giáo hội Việt Nam không là một tổ chức chính trị, càng không thể phục vụ bất cứ thể chế hoặc phe nhóm chính trị nào.

    Việc mổ xẻ này, cũng là một cơ hội để cho những ai thuộc Giáo hội nhưng đã đi theo hướng khác lối đi ngay chính của Giáo hội, có những khoảnh khắc tự nhìn lại mình trong con đường thống hối, ăn năn. Tấm gương tày liếp của một số vị trong Hàng giáo phẩm Balan và các nước Cộng sản cũ ở Đông Âu là những bài học đắt giá cho những người đã trót làm tôi hai chủ.

    Chính trong những cơn hoạn nạn của Giáo hội, là một cơ hội tốt để ơn kêu gọi được phát huy mạnh mẽ nhất, để thức tỉnh lương tâm của những người lạc lối và kiểm chứng những gương mặt giả hình.

    Cũng có những con người, tùy theo cách sống của họ, đã có thể có những điều gây nên cách hiểu khác nhau, thậm chí là hiểu lầm đáng tiếc. Nhưng khi Giáo hội cần, bằng cách này, hay cách khác, đã có những đóng góp nhất định và cần thiết chứng tỏ lòng tin kính của mình.

    Giám mục Bùi Tuần, Giám mục Nguyễn Văn Sang và một vài vị khác là những người hay viết lách, được báo chí Nhà nước ca ngợi nhiều, có phải là đích ngắm của những người không ưa sự hợp tác với Nhà nước Cộng sản?

    Theo tôi, sự hợp tác chưa hẳn đã là đích ngắm, cái chính là các vị đã viết những gì ở đó. Nhiều khi chỉ là những tâm sự thật nhưng nhạy cảm, mà mỗi người nhìn theo góc nhìn của mình sẽ được hiểu khác nhau.

    Ngày 28/9/2005 trên tờ Thanh Niên của Nhà nước Việt Nam, có đăng bài viết của Trần Bạch Đằng “Sự đồng nhất quý giá” có đoạn: “Tôi chia sẻ nỗi day dứt với đức giám mục Bùi Tuần trả lời trên Báo Công giáo Dân tộc nhân ngày Quốc khánh nước ta. Đức giám mục Bùi Tuần nói rõ về những khó khăn riêng của lương tâm một "chủ chăn": "Một đàng, độc lập và hòa hợp dân tộc luôn là lý tưởng tôi khao khát. Một đàng, chống Cộng lại là một mệnh lệnh của Bề trên trong đạo mà tôi phải vâng. Khó khăn lớn nhất là ở chỗ: thời điểm lịch sử tập trung vào việc giành độc lập và xây dựng đoàn kết chống ngoại xâm lại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Có những lúc, lương tâm tôi cảm thấy diễn ra những xung đột gay gắt. Xung đột có chiều sâu thăm thẳm và có chiều rộng mênh mông. Xung đột lại kéo dài từ năm này sang năm khác. Vì thế, xin thú thật là quá khứ của tôi trong quá khứ của đất nước có nhiều nỗi nặng nề và đau đớn riêng khó tả". (link)


    Có thể đó là một sự thật của không chỉ GM Bùi Tuần, mà là của nhiều người, nhưng GM Bùi Tuần là người đã nói ra, nhất là được nói ra trên báo Nhà nước và được nhìn khác đi? Thực tế, những người nói ra được, lại còn hơn những người không hề nói, nhưng đã làm những việc còn tệ hại hơn.

    Giám mục F.X. Nguyễn Văn Sang mà nhiều người đã cho là một “Giám mục đỏ” là một thí dụ. Tôi đã thấy trên các bài viết nói nhiều về vị Giám mục này với những lời lẽ khen chê khác nhau.

    Ngoài những lời khen về một vị Giám mục tuổi cao vẫn minh mẫn, chịu khó, chăm lo Giáo phận, xây dựng ngôi Thánh đường lớn lao và đẹp đẽ… thì cũng không thiếu những lời chê: Chẳng hạn trong việc “đi nước ngoài như đi chợ” – chắc thân nhà nước Cộng sản vì đã được huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân? Hoặc Ngài hay viết và nói thường tự đề cao chính bản thân mình từ những việc nhỏ nhặt như quả chuông mang tên hiệu Thánh F.X. - tên Thánh của Ngài? Lễ hội trọng thể kết hợp với lễ mừng Tổng Giám mục cho hoành tráng. Trong các bài viết, thư chung… ít khi khiêm hạ dùng chữ “tôi” như các Giám mục khác, mà thường là “Đức Giám mục Giáo phận”, “Ngài”… để tự gọi mình như một sự kiêu hãnh…? Hoặc những bài thơ của thi sĩ Bạch Lạp – GM Sang – luôn được lạm dụng nhiều nơi như tự đề cao tác giả? Trong bài cảm ơn khi khánh thành Nhà thờ Thái Bình, ngoài các ân nhân Hàng giáo phẩm, Ngài đã quên mất Giáo dân là những người đã góp công của mà chủ yếu là cảm ơn ông Huỳnh Đảm - Chủ tịch MTTQ, chính quyền hành chính các tỉnh, các cấp, bộ Công an.. . và những lời khen được giành cho Tòa GM và Đức Giám mục được quảng cáo quá nhiều? Hoặc đơn giản là tại sao phải xin ở lại Tòa Giám mục trong các căn phòng cũ làm gì khi đã mãn nhiệm? phải chăng vì nó quá tiện nghi? Có phải đó là gây khó cho người kế vị mới?

    Ngay cả việc Tòa Khâm sứ, chính Ngài đã đưa trích dẫn đầu tiên về việc Tháp Báo Thiên theo tài liệu của Nguyễn Xuân Khánh với một vài suy luận của mình, dù đó là một tư liệu, nhưng vẫn gây những điều khó hiểu…?

    Xa hơn, có người nói rằng Ngài đã có những phát biểu nhằm biện hộ cho Nhà nước Cộng sản  bằng câu nói nổi tiếng “nếu nói tự do tôn giáo, thì ngay cả ở Apganixtan cũng không thể có”? … Xa hơn nữa, là cuốn sách “Bước đường hành hương” đã nói lên những xúc động của bản thân Ngài khi được tường mặt những vị chức sắc cao cấp của Cộng sản? …

    Quả thật nếu chỉ nhìn để đánh giá một con người qua chừng đó chi tiết thì chúng ta thấy có nhiều dấu hỏi ở vị Giám mục này. Những điều đó, cần được góp ý thẳng thắn, chân thành. Nhiều khi chỉ là bản tính đơn giản của một con người thẳng thắn mà thôi. Vì những điều Ngài nói đã nêu trên, thực tế cũng không phải là quá nghiêm trọng để có thể đánh giá cả cuộc đời một con người, có thể đó chỉ là một tính cách.

    Một thực tế nữa là nhiều khi, ngồi ở cương vị cao trọng, người ta ít có điều kiện tiếp xúc những lời phê phán, góp ý, chủ yếu là những lời khen, mà bản thân Giám mục, thì cũng là con người như chúng ta, chưa phải là thần thánh.

    Nhiều khi, cách xưng hô đúng nhưng chưa hẳn đã là hay, vì trong đó không chứa đựng sự khiêm hạ, sự tôn trọng người khác. Tôi cũng đã gặp nhiều linh mục còn rất trẻ, dù lần đầu gặp mặt, chưa biết tôi có phải là người Công giáo không và ít tuổi hơn tôi rất nhiều nhưng vẫn xưng hô “Cha – con” rất tự nhiên.

    Tôi chấp nhận điều đó như một lẽ tự nhiên, nhưng nếu là người khó tính hoặc không công giáo, sẽ có lúc vị linh mục ấy được hỏi: Tôi là con của ông từ khi nào? Đa số các linh mục, đều rất hoà nhã và khiêm hạ khi gặp những người khác kể cả cách xưng hô. Điều đó không làm giảm uy tín của những vị đó, mà trái lại, người khác càng tôn trọng những vị linh mục hiểu biết và khiêm tốn hy sinh.

    Câu Kinh Thánh: “Ai nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên” luôn luôn là bài học mỗi ngày cho mỗi người khi giao tiếp.

    Nhưng điều chính yếu là chúng ta cần đánh giá, xem xét một quá trính tu hành cũng như những thành quả mà Ngài đã làm được, quả là không nhỏ cho Giáo hội. Tôi nghe rằng, ở Thái Bình không có UBĐK Công giáo mà các tu sỹ phải tham gia? Xin đừng nói rằng Ngài đã kiêm luôn chức đó.

    Ngay cả vụ Tòa Khâm sứ, Ngài dù tuổi cao sức yếu, cũng đã dành khá nhiều thời gian và công sức cho việc bênh vực công lý, hiệp thông với Giáo hội rất kịp thời và dũng cảm. Xin đừng cho rằng những việc làm của Ngài là để làm việc cho Nhà nước theo lệnh của ai đó hoặc Ngài đang muốn kiếm thêm một chiếc Huy chương thứ 2.

    Tôi chưa có dịp được gặp Ngài lần nào, nhưng có lần nói chuyện với TGM Ngô Quang Kiệt, TGM Ngô Quang Kiệt cười bảo tôi: “ Đức Cha Sang là một người thẳng thắn kiểu “ruột ngựa”, có sao nói thế nên có khi gây hiểu lầm thôi”.

    Tôi cũng đã từng đọc nhiều bài viết của LM Thiện Cẩm, nghe khá nhiều về Ngài qua những bài viết về “Nhóm linh mục quốc doanh”. Nhưng trên diễn đàn bảo vệ Giáo hội trong vụ Tòa Khâm sứ, Ngài đã viết thẳng thắn và bảo vệ công lý, sự thật. Phải chăng đã đến lúc, Ngài hiểu được những hành động cộng tác với tờ “Công giáo và dân tộc” nay cần xem xét lại chứ không thể dùng đó làm nơi gieo trồng những giống tốt của Chân lý?

    Mục đích chính của việc tranh cãi là gì?

    Việc tranh cãi, đưa các bằng chứng lịch sử và thực tiễn chứng minh việc đòi lại đất đai của Giáo hội bị chiếm đoạt là điều cần thiết. Nhưng chúng ta không sa đà vào ma hồn trận mà những bàn tay nào đó đã giật dây gây nên để làm những việc mà vô hình trung đã hướng tới việc tranh chấp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đó chính là âm mưu của kẻ giật dây kia.

    Với những cứ liệu lịch sử, những người quan tâm, các luật sư, các nhà sử học trong và ngoài Công giáo có chính kiến và lương tâm nghề nghiệp, đã chứng minh rằng: những luận điểm, đòi hỏi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là vô lý.

    Dù những tài sản trên, đã qua thăng trầm như thế nào trong lịch sử, thì điều hiển nhiên hôm nay là: Giáo hội đòi lại tài sản mà mình đang sử dụng ngay tình, thì bị chiếm đoạt ngang nhiên không có cơ sở pháp lý. Giáo hội có những bằng chứng, những cơ sở pháp lý không thể chối cãi bằng giấy tờ hợp luật được công nhận qua các thời kỳ chứ không phải qua một trang sách, một câu văn mơ hồ nào.

    Tuyệt nhiên, đây không phải là việc tranh chấp giữa hai tôn giáo về tài sản. Giáo hội Phật giáo Việt Nam hôm nay, không phải là chủ thể để tranh chấp những tài sản trên với Giáo hội Công giáo Việt Nam. Đây chỉ là chuyện giữa Giáo hội Việt Nam và Nhà nước Việt Nam. Xin đừng nhầm lẫn chủ thể và mục đích, để những bàn tay đang giật dây kia hiểu rằng: Những trò đó không làm cho Giáo hội lúng túng.

    Bởi vì, Nhà nước đã chiếm đoạt tài sản đó từ tay Giáo hội mà không có căn cứ pháp lý, thì trước hết cần phục hồi nguyên trạng, trả lại người sử dụng trước khi bị chiếm đoạt cho hợp lẽ công bằng.

    Vì vậy, cần xác định rõ mục đích của việc tranh luận này là làm rõ ràng một vấn đề đã thuộc lịch sử bị xuyên tạc một cách cố ý mà thôi.

    Việc tranh cãi để chứng minh tính pháp lý và lịch sử khu đất Tòa Khâm sứ thuộc Giáo hội Việt Nam, không thể là nguyên cớ biện minh cho việc Nhà nước trì hoãn việc thực hiện lời hứa của mình.

    Với quyết tâm sắt đá của mình, những người Công giáo Việt Nam hôm nay đã khẳng định ý nguyện phấn đấu cho Công lý và sự thật được sáng tỏ. Điều đó đến nhanh hay chậm, đơn giản hay phức tạp, hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước Việt Nam.

    Hà Nội, Ngày 26 tháng 2 năm 2008
     
    Nguồn : DCCT VN

    Tờ Công giáo và Dân Tộc không còn lý do để tồn tại

     
    VietCatholic News (Thứ Ba 26/02/2008 06:46)
     
    Tờ Công giáo và Dân Tộc (CGDT) ra đời ngày 10/7/1975 trong một bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị với những đặc trưng và định hướng hoàn toàn khác biệt với thực tại của Việt Nam ngày nay, một thực tại ghi đậm dấu sự hội nhập vào thế giới, thị trường tự do, cạnh tranh kinh tế quốc nội và quốc tế, và trên hết bởi kỹ thuật truyền thông tức thời, vượt qua mọi biên giới và mọi rào cản. Nên chăng nhà nước đánh giá lại sự tồn tại của tờ CGDT và dần khép lại dấu ấn của một thời bế quan tỏa cảng, bao cấp, nghi kỵ và lèo lái để mở ra một chân trời mới cho sự tôn trọng lẫn nhau và đối thoại thẳng thắn giữa nhà nước và Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.

    Chúng tôi muốn nhắc lại ở đây, một nhận định của đài Chân Lý Á Châu (Veritas), đã được nhiều vị nhắc đến:

    “Trong 12 số liên tục, Nguyệt san Công giáo và Dân Tộc đã lên tiếng bênh vực cho Đức Cha Gaillot, giám mục giáo phận Evreux (Pháp), dĩ nhiên với luận điệu công kích Giáo hội ra điều như trong Giáo hội không có dân chủ, không có tự do phát biểu, ra điều như Giáo hội bách hại một số người. Nhiều người có thể hoang mang và bị lung lạc vì những bài báo ấy. Thật ra, một giọng điệu như thế không có gì đáng làm chúng ta phải ngạc nhiên. Thời Cựu ước, có những tiên tri cung đình chuyên hụ họa cho các vua thay vì nói Lời của Chúa. Ngày nay cũng không thiếu những tiên tri như thế: thay vì nói Lời Chúa, lên tiếng tố cáo những bất công đầy dẫy trong một chế độ độc tài thì người ta lại chỉ làm tiên tri để công kích và chỉ trích Giáo hội của mình.” (Veritas 19/01/1996).

    Nhận định của đài Veritas tuy đề cập đến một vụ việc cụ thể nhưng nhận xét này có thể coi là tiêu biểu để phê phán một đường lối nhất quán đã được CGDT theo đuổi trong 33 năm qua: không bỏ qua dịp nào để vẽ ra một bức tranh rất u ám về Giáo hội Công giáo. Đường lối ấy được thể hiện rất rõ trong vô số những vụ việc lớn nhỏ mà tiêu biểu là vụ án Phong Thánh cho 117 vị Tử Đạo Việt Nam (năm 1988), vụ Tổng Giám Mục Marcel-François Lefebvre.., và gần đây nhất là vụ Tòa Khâm Sứ.

    Việc mô tả bất công về Giáo hội Công giáo, một Giáo hội tự bản chất là thánh thiện, và trong thực tế luôn năng động, không ngừng đổi mới để vượt lên chính mình trên con đường lữ thứ trần gian hướng về quê trời như vậy, cố nhiên, không khỏi không gây ra những phản ứng, những nghi kỵ của người tín hữu đối với những ai chịu trách nhiệm đẻ ra và duy trì tờ báo này: đó là Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP HCM – là Mặt trận Tổ quốc và tối hậu là đảng Cộng sản Việt Nam.

    Những mô tả như thế cũng để lại trong lòng người tín hữu những vết thương liên tục bị sát muối, những khổ đau tinh thần như đã được nêu trong các phát biểu của Đức Giám Mục Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân trong cũng như ngoài nước.

    Những mô tả như thế cũng đã được đáp trả cụ thể qua việc ngày càng nhiều các linh mục coi xứ cấm không cho bán tờ báo trong khuôn viên nhà thờ.

    Có một thời nhà nước tung ra những Bão Biển, Cha và Con, Tóc Mây, Xóm Đạo, Tây Dương Giatô Bí Lục. Những thứ đó không đóng góp gì cho xã hội, cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa người Công giáo và người Cộng sản mà chỉ gây thêm đau thương và nghi kỵ trong lòng người Công giáo. Cũng may, nhà nước cuối cùng cũng nhận thức ra điều đó và chấm dứt những trò ấu trĩ này. Người Công giáo ghi nhận thiện chí đó và cũng mong nhà nước giờ đây đi thêm một bước nữa để đặt dấu chấm hết cho tờ CGDT, một ấn phẩm, nói theo một nghĩa nào đó, cũng đã và đang mang lại những đau thương không kém trong lòng người.

    Nếu tờ báo được duy trì bằng mọi giá qua cơ chế bao cấp bù lỗ thì người Công giáo không thể không thấy ở đây một dấu chỉ của sự bách hại tiếp tục.

    Thật vậy, trong những năm qua, Hội đồng Giám mục Việt nam đã có Ủy ban Truyền thông Xã hội (hiện nay do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ lãnh đạo) với đầy đủ nhân sự thích hợp. Thật là một nghịch lý khi nhà nước cho phép tới hơn 600 tờ báo về đủ mọi thể loại Hình sự, An ninh, Thể thao, Du lịch, Phụ nữ … trong khi người Công giáo với 10% dân số lại không được phép có một tuần báo cho chính mình.

    Việc Giáo hội Công giáo không có được một tuần báo của chính mình trong khi nhà nước tiếp tục dùng tờ CGDT như một thứ giả danh Công giáo để lũng đoạn là một bằng chứng hiển nhiên của sự thiếu tự do tôn giáo.

    Biện pháp đó đã không hợp tình lại không hợp lý. Trong hoàn cảnh kỹ thuật truyền thông vượt qua mọi biên giới và mọi rào cản như hiện nay, biện pháp đó, nói cho cùng chỉ khích lệ người ta vào những trạm tin mà nhà nước vô phương kiểm soát được.

    Ngược lại, nếu Ủy ban Truyền thông Xã hội của Hội đồng Giám mục Việt nam có được một tuần báo phát hành rộng rãi trong khuôn khổ luật định thì đó sẽ là một dấu chỉ cụ thể của tiến bộ trong tự do tín ngưỡng, của đoàn kết dân tộc, của tôn trọng lẫn nhau, của tư duy thực tiễn biết hành động phù hợp với những quy luật tiến lên của xã hội.

    Trong khi chờ đợi sự chấp thuận của các cơ quan chức năng nhà nước, chúng con mạnh dạn đề nghị quý Đức cha, quý cha và anh chị em giáo dân (thật ra con số cũng rất ít) đừng gởi bài cho tờ CGDT nữa để tránh hoang mang, ngộ nhận trong anh chị em giáo dân, để nhà nước thấy được nhu cầu cấp thiết của chúng ta có được một tờ báo riêng nói lên tiếng nói chân chính của giáo quyền và những nguyện vọng chính đáng của người Công giáo. Không gởi bài cho tờ CGDT nữa là quý Đức cha, quý cha và anh chị em giáo dân hỗ trợ thiết thực cho nguyện vọng chính đáng của Ủy ban Truyền thông Xã hội của Hội đồng Giám mục Việt nam. Vả lại, ngày nay thực tế là người Công Giáo đã có nhiều lựa chọn hơn để xuất bản những bài viết của mình.

    Linh mục Trương Bá Cần năm nay đã 78 tuổi. Ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy” này, ngài thực sự cần có thời gian để nghỉ ngơi, để suy tư về chặng đường 50 năm linh mục đã qua của mình, và chuẩn bị ra trước tòa án Chung Thẩm của Chúa. Tờ CGDT, nên được đình bản vì nó không còn cần thiết cho ai, cả Giáo hội, nhà nước Việt Nam, và bản thân linh mục Cần.

    Ông Phó Thiết Sơn, “giám mục dỏm” của Bắc Kinh, khi sinh tiền đã được hưởng “tiêu chuẩn” dành cho “phó chủ tịch Ủy Ban Thường Trực Quốc Hội Trung quốc”. Là một nhân vật thuộc hàng “top ten” trong một đất nước vĩ đại như thế, Ông Sơn được “bồi dưỡng” tối đa những sâm nhung đại bổ đắt tiền của Trung quốc và Hàn quốc. Ông ăn sâm nhung như ta ăn khoai mì, khoai lang vậy. Ông lại còn trẻ hơn cha Cần một tuổi. Thế mà hai năm trước ngày chết ông đã được yêu cầu “tịnh khẩu” để đừng phát biểu nhảm nhí, linh tinh. Từ cuối năm 2004, ông chỉ còn như một bóng mờ dật dờ trong nhà thờ Nam Đường ở Bắc Kinh.

    Cha Cần nhà ta, sống ở một nước nghèo, ngạch trật thì cùng lắm là cán bộ Khoa Giáo Trung Ương với chức vụ tổng biên tập của một tờ báo bù lỗ trong số hàng 600 tờ báo, “tiêu chuẩn bồi dưỡng” chắc không thế nào bằng được với Phó Thiết Sơn, lại già hơn nữa, thì cũng nên “tịnh khẩu” là vừa.

    Trong bài “Nhà Chúa hay nhà Chùa?” đã đăng trên VietCatholic, cha Thiện Cẩm viết:

    “Trong bài viết của linh mục Trương Bá Cần, đăng trong Tuần san Công giáo và Dân Tộc, số 1644, ra ngày 15-2-2008, có một câu mà tôi thắc mắc, và nghe nói nhiều người rất bất bình, phản đối kịch liệt. Tác giả bài báo viết: ‘Trong cuộc di cư năm 1954-1955 cũng như trong cuộc di tản sau 30-4-1975, tất cả các ngôi nhà vắng chủ mà không có người được sở hữu chủ ủy quyền, trên nguyên tắc, đều do Nhà nước quản lý, cả những ngôi nhà cho người nước ngoài thuê.’ (Trang 8). Nguyên tắc nào vậy? Của Nhà nước hay của linh mục Trương Bá Cần? Nếu là nguyên tắc Nhà nước cách mạng ra thì vào ngày tháng, năm nào?”

    Thực là nguy to. Rõ ràng là cha Cần nhà ta đã có những biểu hiện của tuổi già, nói năng linh tinh, nhảm nhí. Viết lách kiểu này, khi cần một con dê tế thần, nhà nước ta dám lôi ngài ra tòa về tội “Xuyên tạc đường lối chính sách nhà nước”, hay “phá hoại đoàn kết dân tộc”, là những tội danh với khung hình phạt rất nặng nề. Tuổi già mà vào tù thì khổ thân ngài.

    Thành ra, tờ CGDT không những không còn cần thiết cho ngài mà có khi còn là cái họa cho ngài. Chúng ta nên để cho ngài được nghỉ. Mục đích ngài theo đuổi đúng sai ra sao có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có câu trả lời nhưng xin để lịch sử phán xét. Phần chúng ta, trong tình anh chị em đồng đạo, có lẽ nên làm hết sức cho tòa báo được đóng cửa nhanh để ngài sớm được hưu dưỡng hầu có thời gian suy tư về quãng đời đã qua và chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu – nếu ngài còn tin có cuộc sống ấy.
     
    Thérèse Mai Anh
     
    February 25

    GIÁ TRỊ LICH SỬ VÀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI QUYỀN SỞ HỮU BẤT ĐÔNG SẢN CỦA TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NÔI

     
    Điểm nhấn :
     
    Điều 256 Bộ Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11: quyền đòi lại tài sản

    "Chủ sở hữu, người chiếm hữu hớp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người xử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đôí với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó..."
     
     Điều 247: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:

    1- Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thi trở thành sở hữu chủ tài sản đó, kể từ thới điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp qui định tại khoản 2 này. (Khoản 2 :  Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.)
     
    Ls Trần Lê Nguyên : "Việc HT Thích Trung Hậu quyết đoán vô bằng cớ rằng GHPGVN, là chủ ngôi chùa và tháp Báo Thiên là không có cơ sở, không đúng với thực tế cũng như dữ liệu lịch sử." ...
     
    "Đã không phải là chủ bất động sản hay có lợi ích gì liện quan đến phần đất cũ xa xưa của chùa Báo Thiên từ 1051 năm (1057-2008) nay, GHPGVN, đã tỏ ra ý đồ không minh bạch trong việc đòi đựơc tham vấn vụ việc."
     

     
     
    VietCatholic News (Thứ Hai 25/02/2008 07:25)
     
    GIÁ TRỊ LICH SỬ VÀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI
    QUYỀN SỞ HỮU BẤT ĐÔNG SẢN CỦA TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NÔI


    Từ gần hơn tuần nay, nhiều bài viết và ý kiến được phát biểu trên các phương tiện truyền thông khá dồi dào và đôi khi có những lý giải hoàn toàn trái ngược nhau trên cùng một sự kiện lịch sử, khởi đầu từ khi công bố Văn Thư của HT Thích Trung Hậu, thừa ủy nhiệm Hội Đồng Trị Sư Giáo Hội Phật Giáo Việt nam (GHPGVN) gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng với lập luận rằng khu đất Tòa Khâm sứ tọa lạc từng thuộc quyền sở hữu của Phật giáo và yều cầu GHPGVN cần được tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên (1).

    A- Trước tiên chúng tôi thử phân tách những luận cứ trong Văn Thư nói trên và đem so sánh với những tư liệu lịch sử hiện có nhằm tìm ra sự thật của nhửng sự kiện lịch sử đã xẩy ra như thế, không thêm bớt.

    Những luận cứ trong Văn Thư của GHPGVN:

    1. Mở đầu Văn Thư cho biết rằng căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong bốn di sản văn hóa lớn của Phật giáo được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông", sau đó HT Thích Trung Hậu tự đồng hoá Phật giáo với Giáo Hội Phật Giáo Việt nam (GHPGVN) đã là sở hữu chủ liên tục chùa Báo Thiên trong suốt 825 năm, tức từ năm 1057 cho đến năm 1883.

    2. Tiếp theo HT Thích Trung Hậu quyết đoán rằng vào năm 1883, chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    3. Sau cùng HT Thích Trung Hậu diễn giải Chùa Báo Thiên tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó và HT kết luận là GHPGVN cần được tham khảo trước khi Thủ Tướng có quyết định ( thỏa thuận trao trả đã được Toà Tổng Giám Mục và Chính quyền đồng ý trên nguyên tắc và theo một tiến trình bắt đầu từ hai tuần trươc Tết Mậu Tý).

    Những Chứng Từ Lịch Sử:

    - Về sở hữu chủ chùa Báo Thiên

    • Sách Việt nam Danh Lam Cổ Tự, Võ Văn Tường, Nhà Xuật Bản Khoa Học Xã Hội 1992, trang XIV: Vua Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất của thiền phái Thảo Đường; trang XV: các chùa tháp lớn ở Thới Lý phần lớn do nhà vua hay các quan bỏ tiền xây dụng, nhất là những nơi có cảnh đẹp nuí non. Trong ngoài Thành Thăng Long chùa được xây dựng khắp nơi.

    Vậy sở hữu chủ chùa Báo Thiên có tháp cao ngất khoảng trên dưới 100 mét, nằm gần cạnh Hố Hoàn Kiếm, một cảnh đẹp thiên nhiên là của tư nhân, vua hay quan lớn.

    Việc HT Thích Trung Hậu quyết đoán vô bằng cớ rằng GHPGVN, là chủ ngôi chùa và tháp Báo Thiên là không có cơ sở, không đúng với thực tế cũng như dữ liệu lịch sử.

    Hơn nữa chính bản thân GHPGVN chỉ mới được thành lập và có tư cách pháp nhân vào ngày 7 tháng 11 năm 1981, làm sao mà Hoà Thượng bạo gan dám xác quyết GHPGVN là sở hữu chủ liên tục bất động sản Chuà Báo Thiên từ 825 năm để đòi được tham khảo ý kiên về việc trao trả lại bất động sản thuộc quyền sở hữu của Toà Tổng Giám Mục.

    - Về việc Chính Quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm

    Mốc thời gian 1883, Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp nhưng vẫn do quan chức của Triều Đình Huế quản trị hành chánh. Vị Tổng Đốc Hà Nội lúc bấy giờ là ông Nguyễn Hữu Độ.

    Chính vị Tổng Đốc này sau khi không tìm ra các thừa kế bất động sản chùa Báo Thiên, đã bị hoang phế đổ nát do thời gian và chiến tranh đã cấp quyền sở hữu chủ cho Giám Mục Puginier, cai quản giáo xứ Hà nội.

    Ông Bonnal, lúc bấy giờ là Công Sứ Pháp Hà Nội đã từ chối lời yều cầu xin cấp đất xây Nhà Thờ Lớn ( Saint-Joseph) lấy lý do là ông không có thẩm quyền.

    • Xin Xem Hanoi pendant la période héroique. 1873-1888 ” trang 125, của tác giả André Masson. Librairie Orientaliste Paul Genthner. 13 rue Jacob (VIe). 1929’, Masson-Hanoi và Souvenir de Bonnal.

    • Xin xem tình trạng hoang tàn của chùa Báo Thiên: Hà Nội Nghìn Xưa, trang 177.

    Sau 4 năm xây dựng, Ngôi Thánh Đưòng Nhà Thờ Lớn được khánh thành ngày 23 tháng 12 năm 1887.

    Vậy việc HT Thích Trung Hậu cáo buộc bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo vào 1883 là không xác thực và vô căn cứ.

    Đó là những dữ kiện và tài liệu lịch sử dễ dàng kiểm chứng.

    Đã không phải là chủ bất động sản hay có lợi ích gì liện quan đến phần đất cũ xa xưa của chùa Báo Thiên từ 1051 năm (1057-2008) nay, GHPGVN, đã tỏ ra ý đồ không minh bạch trong việc đòi đựơc tham vấn vụ việc.

    Sự kiện nền đất chuà Báo Thiên có liên quan tới Bất Động Sản nay thuộc Quyền Sở Hữu thuộc Tòa TGM Hà Nội cũng chỉ có tính cách dấu vết lịch sử giống như việc đổi chủ của bất cứ bất động sản nào tại Việt nam hay trên thế giới.

    Tuyệt nhiên không mang lợi gì hay quyền gì cho những vết tích lịch sử đó.

    Chỉ người chủ đích thực của bất động sản mói có đầy đủ các quyền lợi phát sinh từ quyền sở hữu theo quy định của các Điều 192, 193,, 195, 197 vv... của Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11.

    B- Luât pháp Việt nam qui định thế nào về Bất Đông Sản trong tình huống trên.

    Bộ Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11;

    Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

    Điều 246: Quyền sở hưũ có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

    Vị Tổng Đốc Hà Nội lúc bấy giờ là ông Nguyễn Hữu Độ, đại diện Triều Đình Huế cấp quyền sở hữu chủ cho GM Puginier, quản trị giáo xứ Hà nội là đúng pháp luật.

    Điều 247: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:

    1- Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thi trở thành sở hữu chủ tài sản đó, kể từ thới điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp qui định tại khoản 2 này.

    Nếu như Chính Quyền thực dân Pháp có làm áp lực vói Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ trong việc cấp quyền sở hữu bất động sản cho GM Puginier thì quyền sở hữu này cũng không bị ảnh hưởng gì vì thời hiệu tới này đã 125 năm.

    Ngoài ra Điều 1 phần cuối: Bộ Luật Dân Sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức...; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự...

    Tóm lại việc thủ đắc bất động sản số 40 Phố Nhà Chung của GM Puginier từ Vị Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ là hoàn toàn hợp pháp.

    Tài sản naỳ được chiếm giữ và truyền kế liên tục qua các vị GM nối tiếp khác nhau kể từ 1883 cho tới nay là TGM Ngô Quang Kiệt.

    Việc Giáo Phận Hà Nội cho Đức Khâm Sứ John Dooley mượn một toà nhà (chính Quyền quận Hoàn Kiếm Hà Nội cho gắn vào số 42) làm Toà Khâm Sứ cho đến khi Ngài bị trục xuất vào năm 1959 không thể coi là bất động sản thuộc quyền sở hữu của Toà Thánh Vatican.

    Việc một giáo phận cho Đức Khâm Sứ mược làm Toà Khâm Sứ tại một quốc gia có bang giao với Toà Thánh Vaican là một thông lệ trên toàn thế giới chứ không riêng Tổng Giáo Phận Hà nội.

    Người thuê nhà luôn luôn vẫn là người thuê nhà.

    Ngày nay việc Tổng Giáo Phận Hà Nội đòi laị tài sản của giáo phận mình, bị chiếm dụng trong thời điểm Chính Quyền cai trị bằng vũ lực, vô luật lệ từ hơn 50 năm nay cũng là tuân thủ theo luật pháp.

    Thực vậy:

    Điều 256: quyền đòi lại tài sản


    Chủ sở hữu, người chiếm hữu hớp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người xử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đôí với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó...

    Điều 259: Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp...


    Điều 260: quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

    Kết Luận:

    Giá trị pháp lý Quyền Sở Hữu Bất Động Sản số 40 Phố Nhà Chung bao gồm Toà Khâm Sứ rõ ràng là chắc chắn minh bạch và bất khả tranh cãi.

    Việc trì hoãn trả lại bằng cách dàn dựng những lý do không chính càng làm mất uy tín và niềm tin trong dân chúng. Cả nước và cả thế giới đang chăm chú theo dõi cách ứng xử của Chính quyền.

    Ls Trần Lê Nguyên

    Ghi Chú: [1]

    Nội dung Văn Thư:

    Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó.

    Vừa qua, một số người lên tiếng đòi Chính phủ giao trả Tòa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.

    Trân trọng kính chào Cụ Thủ tướng.

    Kính thư

    T.U.N. BAN THƯỜNG TRỰC HĐTS GHPGVN
    TRƯỞNG BAN VĂN HÓA TRUNG ƯƠNG
    (đã ký)
    Hòa thượng THÍCH TRUNG HẬU
    Ls Trần Lê Nguyên
     
     

    Tinh thần người Công giáo VN hưởng ứng cuộc Cách mạng tháng 8-1945

     

    Điểm nhấn :

    Thượng Tọa Thích Không Tánh : "...vai trò GHPGVN trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà Nước...Còn đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử, đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. Còn cái việc của GHVN đã làm đó, mình chẳng có để ý gì cái việc đó.”  (BBC)

    Tinh thần người Công giáo VN hưởng ứng cuộc Cách mạng tháng 8-1945

    Trích lại vài đoạn trong bài viết "Ba mươi năm lịch sử người Công Giáo giáo phận Vinh dưới ngòi bút của Lm Trương Bá Cần", của tác giả Bố Chính Nhân, được đăng trên VietCatholic . Những đoạn trích dẫn này nhắm phê phán thái độ lên án cách hồ đồ và phi lịch sử rằng Công giáo theo thực dân, không đồng hành với dân tộc... Và kết quả của sự đồng hành này được trả giá thế nào ?

    ........

    "Riêng tinh thần người Công giáo Việt Nam hưởng ứng cuộc Cách mạng tháng 8-1945 trong ngày Tuyên ngôn Độc lập 2-9-45: thật là hồ hởi. Tại quảng trường Ba Đình, các linh mục với chủng sinh và đồng bào giáo hữu Hà Nội và các vùng lân cận đã có mặt để, cùng đồng bào các giới hô to các khẩu hiệu nói lên tinh thần bất khuất của cả dân tộc. Ngày 23-9-45, tức 3 tuần lễ sau khi chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt, bốn giám mục Việt Nam do Đức giám mục niên trưởng Nguyễn Bá Tòng thay mặt, đã gởi điện văn xin Đức Thánh cha Pio Xll “chúc phúc, cầu nguyện cho nền độc lập mà dân tộc Việt Nam vừa mới thâu hồi được, và sẵn sàng bảo vệ với bất cứ giá nào, đồng thời nài khẩn Đức Thánh cha, Toà thánh Rôma, các Đức Hồng y, các Đức Tổng giám mục và toàn thể Kitô hữu thế giới, nhất là nước Pháp, ủng hộ nền độc lập yêu qúi của Việt Nam. Trong tuần lễ vàng tổ chức từ 17 đến 24 tháng 9-1945 để quyên góp ngân qũy cho quốc gia, Đức giám mục Hồ Ngọc Cẩn, đại diện Tông tòa Bùi Chu đã cởi dây vàng đeo ở ngực, dâng dây vàng cho Tổ quốc và giữ lại Thánh giá cho mình” (trg 72).

    Cũng vậy, một cuộc mít tinh vĩ đại chưa từng thấy ở thành phố Vinh, xuất phát từ nhà chung Xã Đoài, trung tâm Giáo phận Vinh, do hàng giáo phẩm và chủng sinh hai trường Tiểu và Đại chủng viện Xã Đoài tổ chức ngày 13-10-45, với rừng cờ và biểu ngữ, đã nói lên tinh thần yêu nước của người Công giáo, đồng thời này tỏ tình đoàn kết của toàn dân bảo vệ tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ.

    Thêm vào đó, tại Giáo phận Vinh còn có tổ chức “Công giáo yêu nước” là một bộ phận của MTVM, hoạt động tích cực trước và sau ngày cách mạng bùng nổ, còn có “Liên đoàn Công giáo Vinh”[2] là một bộ phận của Liên Đoàn Công giáo Việt Nam, được tổ chức và hoạt động trong hơn 100 giáo xứ của Giáo phận Vinh, đã góp phần bày tỏ tinh thần trách nhiệm và bổn phận của người công dân Công giáo trước vận hội mới của Tổ quốc và Giáo hội.

    Rõ ràng, trong thời bình cũng như trong thời chiến, nguời Công giáo nói chung và người Công giáo Giáo phận Vinh nói riêng, một lúc có hai nhiệm vụ phải chu toàn: đó là phục vụ Tổ quốc và bảo vệ Giáo hội. Tổ quốc có kẻ thù, họ phải quyết tâm tiêu diệt, Giáo hội có kẻ phá hoại, họ phải dũng cảm bảo vệ tôn giáo của họ như tiền nhân đã nêu gương. Bởi vậy, thấy người Công giáo Giáo phận Vinh tự cảnh giác trước thời cuộc, nhất là khi chính họ đã có kinh nghiệm sau vụ Tràng Đình 1931 thì có nên cho rằng: “Sự kiện Tràng Đình được truyền tụng trong dư luận Công giáo Nghệ Tĩnh Bình như một minh họa cho luận điểm Cộng sản chủ trương tiêu diệt tôn giáo” (trg 78).

    Cộng sản có chủ trương tiêu diệt tôn giáo hay không thì lịch sử thế giới đã có đủ bằng chứng để trả lời. Duy có một điều khá ngạc nhiên là tác giả, tức linh mục Trương Bá Cần, 65 năm sau, đã đóng vai luật sư biện hộ, nhưng không trưng dẫn bằng chứng, khi nói những lời sau đây với giáo dân Công giáo Nghệ Tĩnh Bình: “Vụ nầy (tức vụ Tràng Đình) thực ra là một vụ xung đột địa phương do các bên thiếu thận trọng, chứ không phải do chủ trương chung (trg 76), hoặc “diễn tiến sự việc trong vụ Tràng Đình cho thấy rằng đây chỉ là những phản ứng tự vệ và tự phát” (trg 78).

    Cùng vậy, dù tình hình khá yên ổn của Giáo phận Vinh trong 9 năm chống Pháp như đã tường thưật ở trên, ngày 17-01-1954, toàn bộ Tòa giám mục và hai chủng viện Xã Đoài có trên 200 nhân sự, được lệnh phải tản cư lên Vạn Lộc, nói là đề phòng quân Pháp đổ bộ. Nhận định hoàn cảnh nầy, tác giả viết: “Ở Nghệ An và Hà Tĩnh, chính sách tiêu thổ kháng chiến đã được áp dụng triệt để từ mấy năm trước, về cơ sở vật chất được xây kiên cố, chỉ còn lại nhà chung Xã Đoài với Tòa giám mục, nhà Tây, nhà Dài với hai chủng viện đồ sộ, có lẽ chính phủ kháng chiến sợ rằng quân đội Pháp sẽ nhảy dù xuống để biến khu vực nhà chung thành một khu an toàn như ở Phát Diệm. Phải chăng vì thế chính phủ đã ra lệnh cho nhà chung phải tản cư về Vạn Lộc trong huyện Nam Đàn”? (trg 101).

    Cứ tin rằng, giả thiết của tác giả có thể xảy ra, nhưng thử hỏi, việc ra lệnh tản cư toàn bộ nhà chung Xã Đoài có phải là lý do duy nhất để chận đứng cuộc đổ bộ của quân đội Pháp vào thành phố Vinh không? Bên dưới những sự kiện lịch sử, có rất nhiều yếu tố chính trị, xã hội, thời cuộc, chính sách đã làm nên động lực thúc đẩy người lãnh đạo rạ tay hành động. Ở đây không phải do tình hình khách quan mà do chủ quan quyết định, nhân danh chiến tranh, người cầm quyền dễ dàng dùng biện pháp trấn áp và bắt buộc người dân phải tuân hành.

    Riêng đối với mấy chữ: ”cực kỳ ác liệt và gian khổ” hay “bị đánh phá ác liệt” có nên dùng cho toàn thời gian hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ hay không? Viết như vậy, nhưng chính tác giả cũng biết rõ, nó chỉ “cực kỳ ác liệt” trong khoảng thời gian có cuộc ném bom từ ngày 7-2-1965 đến ngày 31-3-1968 mà thôi, nghĩa là trong vòng 3 năm.

    Ngoài ra “hậu phương lớn“ [miền Bắc] có thực sự chịu đựng cực kỳ ác liệt, to hơn nỗi hãi hùng của chiến trường miền Nam từ tháng 12-1960 đến ngày 30-4-1975 hay không? Phải chăng đã có một biến cố như Tết Mậu thân,1968 (điển hình cho sự tàn sát khủng khiếp là thành phố Huế), đã cùng xảy ra ở hậu phương lớn mìền Bắc Việt Nam? Có trưng dẫn những bằng chứng xác đáng, mới nên nói đến lẽ hơn, thua. Chính bộ phận Cộng sản quốc tế ở miền Bắc Việt Nam đã trở thành công cụ thực hiện cuộc chiến tranh dưới chiêu bài giải phóng, gieo kinh hoàng, chết chóc cho đồng bào miền Nam Việt Nam, vì “hậu phương lớn” đã trở thành kho vũ khí khổng lồ do Liên Xô và Trung Cộng tiếp tế để liên tục đi đánh miền Nam Việt Nam ròng rã trong 15 năm..

    Tóm lại, tường thuật một giai đoạn lịch sử chiến tranh liên quan đến cả hai miền của đất nước, không lẽ người viết sử lại có thể quên những tang chứng của từng sự kiện để đối chiếu và so sánh? Và dù muốn dù không, khi đã so sánh, thì cần thiết phải có sự công bằng trong nhận thức. Bởi vậy, nói “miền Bắc là hậu phương lớn, bị đánh phá ác liệt hơn chiến trường miền Nam” mà không trưng dẫn bằng chứng, người đọc có thể nghi ngờ sự chính xác của việc tường thuật lịch sử."

    2. Ân lộc của Cách mạng

    Giáo phận Vinh thuộc vùng trách nhiệm của Liên khu lV, một nơi mà cả đạo lẫn đời đã có những sinh hoạt bình thường, vì an ninh được bảo vệ chặt chẽ trong thời chống Pháp 1945-1954. Đến thời chống Mỹ cũng vậy. “Có thể nói rằng…ở Nghệ Tĩnh Bình quan hệ đạo đời đã đi vào thế ổn định: hoạt động của Đức giám mục…và của các linh mục trong giáo hạt, giáo xứ cũng như hoạt động của các chủng viện vẫn diễn ra bình thường” (trg 124).

    Có một sự ổn định như vậy, phải hiểu là nhờ Cách mạng che chở. Tiêu biểu cho sinh hoạt Công giáo của Giáo phận Vinh lúc bấy giờ là Liên Đoàn Công giáo Nghệ Tĩnh Bình, cũng gọi là Liên Đoàn Công giáo Vinh (LĐCGV) một tổ chức trực thuộc Liên Đoàn Công giáo Việt Nam, được chính phủ VNDCCH cho phép hoạt động công khai. Liên Đoàn Công giáo Nghệ Tĩnh Bình thành lập ngày 3 tháng 6 năm 1946, sinh hoạt được 4 năm và bị bắt buộc giải thể giữa năm 1950.

    Nói là tiểu biểu, vì LĐCGV là một tổ chức lớn, có chủ trương và đường lối hoạt động rõ ràng với tôn chỉ Thiên Chúa và Tổ Quốc, đã tập hợp thành phần thanh niên trí thức của hơn 100 giáo xứ trong toàn Giáo phận, có Trung tâm sinh hoạt tại Xã Đoài, cạnh Tòa Giám mục của Giáo phận. Liên đoàn hoạt động mạnh mẽ, phát huy tinh thần tiến bộ và thăng tiến đời sống đạo đức của người giáo dân, trở thành động lực sinh hoạt Công giáo trong giáo phận; là tiếng nói chính đáng của người giáo dân, khi Liên đoàn hành xử tư cách pháp nhân được ủy thác, trước chính quyền cũng như trước giáo quyền và các tổ chức khác trong và ngoài Giáo phận. Nhưng LĐCGV đã mắc nạn, vì chống Cộng sản vô thần.

    Bên cạnh 30 năm gian khổ của toàn dân trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, LĐCGV là một tổ chức non trẻ, có thời gian sinh hoạt mới trên dưới 4 năm, thế nhưng đã phải trả một giá không kém ác liệt trong tay người đã cưu mang của mình, đó là Cách mạng, tức chính phủ Việt Minh. Các bản án dành cho LĐCGV liệt kê sau đây là tài liệu của linh mục Trương Bá Cần và từ báo Luyện Thép (1956-1960) là cơ quan ngôn luận của Hội Tương trợ Nghệ Tĩnh Bình, xuất bản tại Sàigòn.

    -Vụ nhà chung Xã Đoài 14-4-1950: hai bản án tử hình dành cho phó chủ tịch Liên đoàn và Trưởng Ban Tuyên huấn, một bản án 25 năm khổ sai dành cho một cán bộ của Liên đoàn.

    -Vụ Trang Nứa 24-4-1952: 4 bản án tử hình, tịch thu 3/4 gia sản,

    * 6 bản án 20 năm tù,tịch thu 3/4 gia sản,
    * 8 bản án 15 năm tù, tịch thu 2/3 gia sản,
    * 14 bản án 10 năm tù, tịch thu 1/2 gia sản,
    * 6 bản án 5 năm tù, tịch 1/3 gia sản,
    * 1 bản án 5 năm tù treo,
    * 13 bản án 3 năm tù treo.

    -Vụ Nghi Lộc 21-5-1952: linh mục chánh xứ cùng với một số cán bộ chủ chốt của Liên đoàn Công giáo xứ Tràng Lưu bị bắt giam (không rõ con số chính xác).

    Tổng kết sơ lược các biến cố trên đây, linh mục Trương Bá Cần viết: “Vụ Hưng Yên (Trang Nứa), Nghi Lộc, Tây Hồ (Tràng Lưu) là những vụ nổi cộm. Nhưng một số xứ đạo khác đã âm thầm ủng hộ tổ chức Liên hương chống cộng, nên một số linh mục và giáo hữu có liên hệ đã bị bắt. Số linh mục bị bắt sau vụ Hưng Yên khoảng 50 người” (trg 93). Nhà nước cho phép LĐCBV công khai hoạt động, hóa ra Liên đoàn đã trở thành cái rọ, sập bắt tất cả những cán bộ nòng cốt của Liên đoàn. Nhưng thử hỏi, LĐCGV đã làm gì nên tội? Khi đứng trước tòa án Liên khu lV, các ông Phạm Tuyên, Bùi Quỳnh, Lê Thế Cao đã có dịp tuyên bố rõ ràng: “Chúng tôi không theo Pháp, chúng tôi chỉ chống Việt Minh Cộng sản” , cũng như Giám mục Lê Hữu Từ đã từng tuyên bố: “Phát Diệm chống cả Pháp, cả Việt Minh Cộng sản” .

    Các ông Phạm Tuyên, Bùi Quỳnh, Lê Thế Cao đã đổi sinh mạng mình để được dỏng dạc tuyên bố như vậy, nhưng thử hỏi có hàng ngàn giáo dân Công giáo Nghệ Tĩnh Bình đã bị hành quyết, đã bị thủ tiêu, đã chết rục trong tù, chỉ vì muốn bảo vệ tôn giáo mà họ tin tưởng, bảo vệ đức tin mà họ trân trọng, mà nào đã có ai thay cho họ nói lên nỗi oan ức của mình? Hay họ phải đợi cho đến cuối thế kỷ (20) để được một linh mục sử gia luận rằng: “Chống Việt Minh Cộng sản, trong lúc Việt Minh Cộng sản đang lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp thì phải chăng là vô hình chung làm một việc mà Pháp cũng đang làm” (trg 104). Dùng luận lý qui nạp ở chỗ nầy thật logic, nhưng qui nạp như vậy, hóa ra linh mục Trương Bá Cần muốn dạy: Thà mất tôn giáo, thà mất đức tin, chứ không thể cùng một lúc vừa phục vụ tổ quốc (chống Pháp), vừa bảo vệ tôn giáo (chống Cộng sản) được!

    ..... 
     

    Vụ chùa và tháp Báo Thiên

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 25/02/2008 03:36)
     
    Vụ chùa và tháp Báo Thiên

    Lữ Giang

    Trong khi Giáo Phận Hà Nội và nhà cần quyền Hà Nội đang thảo luận về việc trả lại khu đất Tòa Khâm Sứ ở số 42 phố Nhà Chung, Hà Nội, Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc đã huy động hai cơ quan tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước là tờ Công Giáo và Dân Tộc của nhóm Công Giáo quốc doanh và trang nhà phattuvietnam.net, cơ quan ngôn luận chính thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) , thường được gọi là Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh hay Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, bày trò phá rối. Đây là chiến thuật “vùa đánh vừa đàm” rất quen thuộc của Đảng CSVN.

    NHỮNG TRÒ PHÁ RỐI

    Ngày 15.2.2008, tờ “Công Giáo và Dân Tộc” số 1644 do Linh Mục Trương Bá Cần, một cán bộ tôn giáo vận quản lý, đã chạy tít lớn đăng một bài loan truyền tin đồn thất thiệt về mâu thuẫn giữa Công Giáo và Phật Giáo hải ngoại, xuyên tạc lịch sử về vấn đề chủ quyền Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội, bênh vực cơ chế tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, phê phán cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội, và xuyên tạc lá thư của Đức Hồng Y Bertone gởi cho Giáo Phận Hà Nội.

    Tiếp theo, ngầy 17.1.2008, báo điện tử “phattuvietnam.net” cho đăng “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ" của một người ở trong nước dấu tên cho rằng khu Tòa Giám Mục Hà Nội và Tòa Khâm Sứ hiện nay trước đây là chùa và tháp Báo Thiên của Phật Giáo, bị Pháp chiếm đoạt và đập phá đi rồi giao cho Công Giáo xây Tòa Giám Mục và nhà thờ lớn Hà Nội.

    Ngày hôm sau, 18.1.2008, trang nhà này đăng tiếp một bài thứ hai dưới đầu đề “Tâm thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đòi Toà Khâm Sứ” với tên người viết được ghi là Phật tử Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng, cũng đưa ra luận điệu tương tự như bài trước.

    Các websites thân cộng ở hải ngoại hoặc các thành phần theo “Nhóm Thân Hữu Già Lam”
    đều ủng hộ lập luận này. Chúng ta nhớ lại, trrong buổi thuyết pháp trong chương trình “Tiếng Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh Little Saigon, Hòa Thượng Thích Chơn Thành ở Chùa Liên Hoa, Garden Grove, California, đã từng tuyên bố: “Thiên Chúa Giáo Việt Nam cũng như vậy. Dưới thời thực dân Pháp, họ dựa vào Pháp chiếm các chùa rồi xây dựng nhà thờ trên nền chùa, như nhà thờ Đức Bà Hà Nội nguyên là tháp Báo Thiên, được xây dựng từ thời nhà Lý. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn xây trên nền chùa. Nhà thờ Cây Mai trước kia cũng là ngôi chùa. Nhà thờ La Vang trước kia cũng là ngôi chùa tên là chùa Lá Vằng, vân vân.”

    Ai cũng biết, GHPGVN ở trong nước chỉ là một cơ quan ngoại vi của Đảng CSVN, đặt trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Trong Đại Hội VI được tổ chức năm 2007 vừa qua, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, vốn trực thuộc Giáo Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây, được tái bầu làm Chủ Trịch Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ 2007 – 2012. Nhưng ông chỉ đóng vai trò bù nhìn. Người lãnh đạo thật sự của giáo hội này là Hòa Thượng Thích Thanh Tứ, một đảng viên Đảng CSVN, giữ vai trò Phó Chủ Tịch.

    Trên nguyên tắc, hai cơ quan ngoại vi nới trên không thể nói, viết hay làm gì mà không có sự chỉ đạo hay chấp thuận trước của Mặt Trận Tổ Quốc hoặc Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Do đó, chúng tôi tin rằng đây là một trò xảo thuật của Đảng CSVN.

    Những sự kiện và những lập luận do các bài nói trên đưa ra đều hoàn toàn trái với lịch sử và pháp lý, nhưng chúng tôi không trả lời ngay, vì tin rằng đây chỉ mới là những bước thăm dò: Nếu thấy có những phản ứng bất lợi, Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ sẽ tuyên bố rằng đó chỉ là ý kiến riêng của độc giả hay quan điểm riêng của cơ quan ngôn luận đã phổ biến. Nếu thấy không có phản ứng gì đáng kể và được nhóm thân cộng ở hải ngoại tiếp ứng, họ sẽ cho đưa ra tiếng nói chính thức.

    Sự tiên đoán của chúng tôi đã đúng. Ngày 18.2.2008, Website phattuvietnam.net đã công bố văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, hiện là Trưởng Ban Văn Hóa Trung Ương của GHPGVN, đã thừa ủy nhiệm Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của Giáo Hội này, gởi đến Thủ Tướng Nguyễn Tiến Dũng yêu cầu “xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo” trước khi có quyết định về việc trao Tòa Khâm Sứ cho Giáo Phận Hà Nội!

    NHỮNG LỜI XUYÊN TẠC

    Trước khi đưa ra một vài nhận xét, chúng tôi xin trích đăng lại những điểm xuyên tạc chính mà các cơ quan ngôn luận ngoại vi của Đảng CSVN đã cho phổ biến:

    Trong “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ", một độc giả giấu tên đã viết như sau:

    “Khi giặc Pháp đánh cướp Hà Nội, dùng thủ đoạn để cướp đoạt, san phẳng khu chùa Báo Thiên rồi “dâng” cho nhà thờ Ca tô giáo, do đã cúc cung tận tụy phục vụ ngoại xâm, xây lên đó là nhà thờ Lớn bây giờ. Như vậy, sẽ là hồ đồ khi đòi lại và bất công khi trao lại...

    “Sự thật lịch sử đó là hiển nhiên tuyệt đối. Lý do, lực lượng và quá trình để khu đất đó rơi vào tay Giáo hội Thiên chúa còn là một sự thật hiển nhiên hơn nữa. Tất cả các sự thật đó không ai và không bằng chứng nào có thể biện bác, thưa Ngài?”


    Phật tử Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng, trong “Tâm thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đòi Toà Khâm Sứ” , còn đi xa hơn:

    “Đến năm 1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay. Rồi những ngôi chùa khác quanh hồ Hoàn Kiếm, chùa thì bị Pháp triệt hạ (như chùa Báo Ân), chùa thì bị Pháp lấn chiếm cấp đất cho giáo dân (như chùa Bà Đá – trụ sở THPG Hà Nội ngày nay).”

    Văn thư đề ngày 18.2.2008 Hòa Thượng Thích Trung Hậu gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cững đã lặp lại những luận điệu tương tự. Văn thư viết:

    “Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    “Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó.


    “Vừa qua, một số người lên tiếng đòi Chính phủ giao trả Tòa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.”


    Trong vụ này, chúng tôi sẽ trình bày về cả phương diện lịch sử lẫn pháp lý để độc giả có thể nhận ra đâu là sự thật.

    VỀ PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ

    Để trả lời những luận điệu do các cán bộ tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước đưa ra, chúng tôi thấy tốt hơn cả là dùng những tài liệu lịch sử do Đảng và Nhà Nước cho phổ biến

    Cuốn “Tự Diển Hà Nội Địa Danh” do Bùi Thiết biên soạn và do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 1993 với giấy phép mang số 503-CT/VHTT, đã nói về Chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên như sau:

    Chùa Báo Thiên: “Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm, hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá hủy hoàn toàn.” (tr. 26).

    Tháp Báo Thiên:
    “Tòa tháp dựng năm 1057 trước Chùa Báo Thiên, tên chữ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp có 13 trượng (chừng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên bằng đồng. Đỉnh tháp bị trận bảo năm 1258 làm đổ, và phần đồng bị sét đánh bạt năm 1332.

    “Tháp Báo Thiên là một trong những vật báu của Đại Việt thời Lý – Trần. Năm 1427, khi bị vây hảm ở Đông Quan, giặc Minh đã tháo gỡ hết đồng ở tháp để đúc súng đạn. Năm 1547 tòa tháp bị dổ sập nốt phần đá. Cuối thế kỷ XVIII tháp bị phá hủy. Trên nền chùa – tháp họp chợ Báo Thiên.”
    (tr. 26).

    Như vậy, theo tài liệu Đảng và Nhà Nước cho phổ biến, Chúa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên đã bị phá hủy hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII và khu đất đó đã được dân chúng dùng làm nơi họp chợ. Thế thì tại sao bây giờ Đảng và Nhà Nước lại cho các cán bộ tuyên giáo vận nói rằng Chùa và Tháp Báo Thiên bị người Pháp phá rồi lấy đất cấp cho Công Giáo xây nhà thờ và Tòa Giám Mục Hà Nội?

    CẦN NÓI RÕ THÊM

    Sau khi trình bày về Chùa và Tháp Bảo Thiên theo tài liệu của Đảng và Nhà Nước phổ biến năm 1993, chúng tôi thấy cần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề

    Về Tháp Báo Thiên: “Đại Việt Sử Ký” của Lê Văn Hưu và “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên cho biết: Năm Đinh Dậu (1057), mùa xuân, tháng 3, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên, 30 tầng (có sách ghi 12 tầng). Tháp nằm bên cạnh ngôi chùa xây trước đó một năm, tức năm 1056, nhằm năm Long Thụy Thái Bình. Ở tầng thứ ba, nơi cửa tháp có khắc chữ “Thiên tử vạn thọ” (Vua sống trường thọ). Trên chót đỉnh tháp có hàng chữ “Đạo Lý Thiên” , có nghĩa là Đạo Lý của Trời chiếu khắp thiên hạ.

    Về Chùa Báo Thiên: Sách “Đại Việt Sử Ký” cho biết: Dựng Chùa Sùng Khánh Báo Thiên. Lấy 11.000 cân đồng (nhiều sách ghi 12.000 cân) ở trong phủ ra đúc chuông đặt tại chùa ấy... Sự việc xảy ra sau khi vua được nhà Tống phong làm Quận Vương (!) và tiếp sứ Chân Lạp sang cống (tháng 8 năm 1056).

    Sách “Hà Nội Nghìn Xưa” cho biết đời Tiền Lê "đắp núi đất phủ lên nền cũ. Chùa bỏ hoang, cuối thế kỷ XVIII làm chợ Báo Thiên, núi làm chỗ xử tử người có tội. Năm 1791, đào lấy những gạch đá nền tháp để tu bổ thành Thăng Long.” (tr. 177).

    Cuốn “Souvenirs” (Hồi Ký) của Bonnal, Công Sứ Hà Nội lúc đó, có ghi lại rằng khi thấy ngôi Chùa Báo Thiên bỏ hoang, dân chúng trong vùng đã họp nhau lại bàn bạc và nhận thấy ngôi chùa đã bị bỏ hoang phế từ lâu không người quản lý và hiện thời đã biến thành phế tích, có thể đổ sập gây tai nạn cho người qua lại bất cứ lúc nào. nên đã đề nghị chính quyền rỡ bỏ và thu hồi đất đai vô chủ. Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ đã chấp thuận cho phá bỏ ngôi chùa.

    Công Sứ Bonnal cho biết thêm: Cuối năm 1883, Giám mục Puginier có xin ông khu đất vô chủ đó để xây nhà thờ lớn Hà Nội, nhưng ông trả lời rằng vấn đề đó không thuộc thẩm quyền của ông vì Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ chứ không phải thuộc địa của Pháp. Ông yêu cầu Giám mục Puginier trình bày vấn đề này với quan Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ, một quan chức do Triều Đình Huế bổ nhiệm. Giám mục Puginier đã nêu lên ước muốn của ông với ông Tổng Đốc Độ. Ông Độ đã cho mở một cuộc điều tra tìm con cháu những người trước đây là sở hữu mảnh đất, nhưng mấy trăm năm đã trôi qua, hơn nữa chiến tranh loạn lạc, xã hội biến động, nên không tìm được ai là chủ miếng đất đó. Vì thế, ông đã quyết định cấp cho Giám mục Puginier xây cất nhà thờ.

    Qua một số sử liệu nói trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

    (1) Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là nơi tế trời của vua như Nam Giao ở Huế, nên không liên hệ gì đến Phật Giáo.

    (2) Khu đất có Chùa Bảo Thiên trước đây chỉ còn là một khoảng đất tróng đang được dùng để họp chợ và được Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ cấp cho Giám mục Puginier, chứ không phải Tây đã cho đập phá Chùa Bảo Tháp rồi lấy đất cấp cho Công Giáo.

    (3) Chùa Báo Thiên nằm ở thôn Báo Thiên Thị, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, do vua Lý Thánh Tông dùng tài sản quốc gia để xây dựng vào năm 1056. Như vậy, chùa này tuy được dùng để thờ Phật nhưng không thuộc quyền sở hữu của bất cứ tông phái Phật Giáo nào. Nói theo danh từ ngày nay, đây là “Chùa quốc doanh” . Vậy Hòa Thượng Thích Trung Hậu lấy tư cách gì để đòi lại? Phải chăng ông đã chính thức nhìn nhận GHPGVN là một giáo hội quốc doanh (state-run Church), tức một công cụ tôn giáo vận của Nhà Nước chứ không phải là một tôn giáo?

    (4) Tại sao vua Lý Thánh Tông lấy đất dân xây Chùa Báo Tháp cho Phật Giáo thì không bị gọi là ưu đãi Phật Giáo, còn Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ lấy đất đó cấp cho Công Giáo xây nhà thờ thì bị coi là ưu đãi Công Giáo? Phải chăng chỉ một mình Phật Giáo mới được quyền ưu đãi mà thôi sao?

    VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ

    Trong thời Pháp thuộc, hai Bộ Dân Luật Trung và Bắc đều quy định thời hiệu để thủ đắc quyền sở hữu bất động sản vô chủ là 100 năm. Dân Luật Việt Nam sau này rút xuống còn 20 năm.

    Điều 1452 của Bộ Dân Luật Việt Nam quy định; “Sự chấp hữu một bất động sản trong 20 năm, nếu hội đủ điều kiện đã định ở điều 1444, sẽ là người chấp hữu thủ đắc quyền sở hữu về bất động sản ấy.”

    Điều kiện án định nói ở điều 1444 như thế nào? Điều này nói: “Muốn được thủ đắc thời hiệu, cần phải chấp hữu liên tiếp yên ổn, công khai và minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ.”

    Những trường hợp nào bị coi là không chấp hữu liên tiếp yên ổn? Theo điều 1460, bị coi là gián đoạn thời hiệu, một trong 3 trường hợp sau đây:

    Trường hợp 1: Có trát đòi người chấp hữu ra trước tòa về sự chấp hữu ấy.

    Trường hợp 2: Có sự sai áp đồ vật (ở đây là đất) chấp hữu.

    Trường hợp 3: Có sự đốc thúc người chấp hữu phải trả lại đồ vật (ở đây là đất) bằng một văn thư do một công lại hữu quyền tống đạt.

    Nếu trong 20 năm không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, sự chấp hữu được coi như là “liên tiếp và yên ổn” nên đương nhiên có quyền thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản.

    Nói chung, các luật pháp thuộc hệ thống Roman Law như ở hầu hêt các nước Âu Châu và Việt Nam trước đây, đều quy định tương tự như thế. Chỉ có chế độ cộng sản mới áp dụng luật man rợ mà thôi.

    Tòa Giám Mục Hà Nội đã chấp hữu khu đất làm Tòa Giám Mục và Tòa Khâm Sứ hiện nay “liên tiếp và yên ổn” từ năm 1884 đến nay, tức 122 năm, không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, nên phải được coi là người thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản đã chấp hữu.

    Ngoài ra, về phương diện pháp lý, chỉ có sở hữu chủ của sở đất nói trên trước năm 1884 và các thừa kế hợp pháp của họ mới có quyền đứng đơn khiếu nại. Giáo Hội Phật Giáo Nhả Nước và tất cả các tổ chức Phật Giáo khác không có tư cách để khiếu nại.

    Đây là đều GHPGVN phải biết.

    ĐIỀU ĐÁNG NGẠC NHIÊN

    Chúng tôi tự hỏi: Trong lịch sử, các vua Việt Nam đã ban cho Phật Giáo vô số tài sản, nhất là dưới thời Lý – Trần và dưới thời các Chúa Nguyễn, nhưng sau đó đã bị Hồ Quý Ly và vua Quang Trung “cướp” sạch. Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước không đòi lại các tài sản đó mà chỉ đòi khu đất Tòa Khân Sứ ở phố Nhà Chung, Hà Nội, mà thôi?

    Trong lịch sử Trung Hoa cũng như Việt Nam, Phật Giáo luôn trải qua những thời kỳ thịnh suy nối tiếp nhau: Vua nào thích Phật Giáo thì xây chùa, cấp đất và nông nô cày ruộng cho chùa, đem nhiều báu vật của quốc gia dâng cho chùa. Vua nào không thích Phật Giáo hay thấy việc chu cấp cho Phật giáo gây nhiều tổn thất cho quốc gia, lại ra lệnh đập phá chùa và thu hồi tài nguyên quốc gia, gây ra “Pháp nạn”.

    Tại Trung Hoa, có ba Pháp nạn lớn nhất, thường được gọi là “Tam Võ Nhất Tôn Pháp Nạn” . Ở Việt Nam, Phật Giáo đã phải trải qua hai “Pháp nạn” kinh hoàng nhất trong lịch sử, đó là “Pháp nạn” dưới thời Hồ Quý Ly và “Pháp nạn” dưới thời vua Quang Trung.

    Thời Lý – Trần, Phật Giáo được các vua cấp đến 1/3 đất đai và tài nguyên của quốc gia. Trong bài Ký Tháp Linh Tế, Trương Hán Siêu đã ghi: “trong thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ dứt luân thường, hao tổn của báu...” . Nhưng sau đó, để có tài nguyên chống lại giặc Minh, Hồ Quý Ly (1400 – 1407) đã quyết định áp dụng chế độ hạn điền và hạn nô, lấy lại phần lớn các tài sản đã cấp cho nhà chùa, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhập ngũ hay làm lao dịch. Tuy nhiên, ông hành động quá chậm và không triệt để nên Việt Nam bị mất vào tay nhà Minh.

    Để có tài nguyên chống lại giặc Thanh, vua Quang Trung (1788 – 1792) đã chơi bạo hơn: Ông ra lệnh đập phá hầu hết các chùa, đem tượng Phật và chuông chùa ra đúc vũ khí, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhâp ngũ hay đi lao dịch... Nhờ vậy, Quang Trung đã thắng trận vẽ vang. Tập “Tonkin et Cochinchine” của các nhà truyền giáo Pháp đã ghi: “Họ đã cướp phá chùa và họ đã đốt những ngôi chùa danh tiếng nhất của các cựu vương Bắc Hà.” Vua Quang Trung không không cho phép mỗi làng đều có chùa như trước. Ông ra lệnh phá hủy các chùa riêng và tuyên bố khoảng 200 làng mới có thể họp lại để xây một ngôi chùa chung.

    Việc kiểm kê các tài sản đã bị “cướp” này rất dễ dàng, vì trong cổ sử đều có ghi năm nào vua nào đã xây chùa nào cho Phật Giáo, chẳng hạn như Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu có ghi: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể...” Những đoạn như thế đươc gặp rất nhiều trong cổ sử, nên Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước có thể sưu tra và đòi Nhà Nước phải trả lại cho Phật Giáo. Miếng đất thuộc khu Tòa Khâm Sứ có đáng giá gì đâu mà đứng lên đòi được tham khảo?

    TÂY CHÈN ÉP PHẬT GIÁO?

    Trong các bài viết về Tòa Khâm Sứ, nhóm quốc doanh ở trong nước và nhóm thân cộng ở hải ngoại luôn rêu rao rằng dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã chèn ép Phật Giáo và nâng đỡ Công Giáo. Nhưng sự “xác tín” này hoàn toàn trái với các sử liệu. Vì bài báo có hạn, chúng tôi chỉ xin ghi lại một số điểm chính.

    Có thể nói, chính quyền Pháp đã yểm trợ Phật Giáo tối đa. Họ cho các viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa đứng ra thành lập các hội Phật Giáo và xuất bản các tâp san Phật Giáo trong cả ba Kỳ để giúp Phật Giáo phát triển.

    Trước hết, Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương đã ban hành Nghị Định ngày 28.1.1930 thành lập “Viện Nghiên Cứu Phật Giáo Tiểu Thừa Bản Xứ” (Institut Indigène d’Étude du Bouddhisme du Petit Véhicule) để truyền bá Phật Giáo Tiểu Thừa cho dân bản xứ. Sau đó, tại Nam Kỳ, năm 1931 Pháp đã thúc đẩy một số cư sĩ Tây học như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vinh, Trần Nguyên Chấn, Nguyễn Văn Cần, v.v. đứng ra thành lập “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” và xuất bản tạp chí “Từ Bi Âm” ... Ông Trần Nguyên Chấn đã mời Thống Đốc Nam Kỳ Khrautheimer làm hội trưởng danh dự của hội.

    Tại Trung Kỳ, năm 1932, Bác Sĩ Lê Đình Thám đã được chính quyền thuộc địa đưa ra Huế thành lập “Hội An Nam Phật Học” và xuất bản tạp chí “Viên Âm Nguyệt San” , sau đó lập ra “Trường An Nam Phật Học” tại chùa Trúc Lâm để đào tạo các tăng sĩ.

    Tại Bắc Kỳ, ngày 23.12.1934, Tổng Đốc Nguyễn Năng Quốc đã chính thức tuyên bố thành lập “Phật Giáo Bắc Kỳ Hội” , lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở và cho xuất “Tập Kỷ Yếu số 1” và sau đó là tạp chí “Đuốc Tuệ”. Tạp chí này cho biết trong vòng một năm đã có 2.000 tăng ni và hơn 10.000 Phật tử là hội viên.

    Trong bộ “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” , Tập III, Nguyễn Lang, tức Thiền Sư Nhất Hạnh, đã cho biết: “Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đã lan ra hầu khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ.” (tr. 168)

    Trong “Việt Nam Phật Giáo tranh đấu sử” Tuệ Giác đã công nhận: “Phải nói rằng từ năm 1920 đến hết năm 1956, Phật giáo Việt Nam thật là một thời kỳ hưng thịnh. Số Phật Tử càng ngày càng đông các tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh Phật tử đều được sắp xếp quy củ.” (tr. 77)

    Trên đây là những sự ghi nhận của các sử gia Phật Giáo. Như thế mà bảo Phật Giáo bị Pháp chèn ép sao?

    MỘT VÀI NHẬN XÉT

    Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23.2.2008, Thượng Tọa Không Tánh thuộc GHPGVNTN không được công nhận, đã nhận xét về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu gởi cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau:

    “Cái vấn đề là mình phải biết rằng bây giờ là do ai thúc đẩy mà Hòa Thượng Trung Hậu đã làm cái văn thư đó, là do cái lệnh của ai, và người ta đã mượn tay Hòa Thượng Trung Hậu làm cái văn thư đó nhắm mục đích gì. Mình phải biết cái chuyện đó.

    “Bây giờ biết cái tài sản đó là của Tòa Khâm Sứ từ thời xa xưa rồi. Cái chuyện đó ai cũng biết. Từ cái thời xa xưa đó, lúc đó Hòa Thượng Trung Hậu cũng chưa sinh ra, và cái GHVN cũng chưa có. Bây giờ người ta lại mượn tay Phật Giáo.

    “Có những cái luật bất hồi tố. Thí dụ như có những tài sản, theo quốc tế người ta quy định, thí dụ như là những cái đất đai, những cái tài sản mà nó có từ Đệ Nhất hay Đệ Nghị Thế Chiến, thí dụ như vậy, hay là những cái thời điểm nào đó thì nó đã trở thành bất hồi tố. Cho nên bây giờ nó đã qua như vậy rồi.

    “Bây giờ thì Nhà Nước Cộng Sản họ thấy họ khó đáp ứng theo cái đòi hỏi, cái đấu tranh, cái nguyện vọng của bên Công Giáo, thì họ mượn tay của Phật Giáo Việt Nam, rồi cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể giải quyết hay là đình lại, hay là thế nọ thế kia gì đó. Như vậy, vai trò GHPGVH trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà Nước, trước cái hoàn cảnh Nhà Nước không có cái cách để mà giải quyết.

    “Còn đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử, đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. Còn cái việc của GHVN đã làm đó, mình chẳng có để ý gì cái việc đó.”


    Trong cuộc phỏng vấn ngày 21.2.2008, ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó Vụ Trưởng Vụ Công Giáo thuộc Ban Tôn Giáo Chính Phủ Việt Nam đã nói về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu như sau:

    "Nếu nói nguồn gốc của tổ chức cá nhân này, thì tổ chức cá nhân khác, người ta cũng có các căn cứ, các chứng lý, để nói đó là của người ta."

    Ông nói sẽ xử lý các vấn đề trên tinh thần của Luật Đất Đai năm 2003 đã được Quốc Hội thông qua và phía Chính phủ sẽ giải quyết các nhu cầu của cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng về nhà, đất lâu dài và ổn định trên cơ sở thấu tình đạt lý.

    Ông Thịnh bênh vực GHPGVN là chuyện đương nhiên, vì tổ chức này là một công cụ tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước. Nhưng ông đã ngụy biện. Như chúng tôi đã nói ở trước, GHPGVN mới được thành lập năm 1981, không phải là sử hữu chủ hay thừa kế hợp pháp của sở đất mà vua Lý Thánh Tông đã lấy để xây chùa và tháp Báo Thiên trên đó, nên về phương diện pháp lý, Giáo Hội này không có tư cách và thẩm quyền để khiếu nại. Do đó, không cần phải xét đến văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu làm gì.

    Chúng tôi tin rằng nhà cầm quyền thừa biết rằng không hề có chuyện Pháp đã cho đập chùa Báo Thiên rồi lấy đất cấp cho Công Giáo và Giáo Phận Hà Nội đã thủ đắc hợp pháp quyền sở hữu của sở đất này theo thời hiệu. Nhưng họ vẫn dùng tờ Công Giáo và Dân Tộc và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để quấy rối, với mục đích nói với phía Công Giáo rằng yêu cầu của các ông có sự chống đối của Phật Giáo. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xét và cấp đất cho Giáo Hội theo sự quy định của Luật Đất Đai năm 2003. Đây là một trò chơi lá mặt lá trái rất quen thuộc của Đảng CSVN.

    Về sự ưu đãi: Nếu Thiên Chúa Giáo Việt Nam có được một chính quyền nào đó ưu đãi một vài thừ gì đó thì những ưu đãi đó cũng chưa bằng 1/10.000 những ưu đãĩ mà các chính quyền đã dành cho Phật Giáo trong quá trình lịch sử. Dưới thời Lý – Trần, chính quyền đã dâng hiến cho Phật Giáo một số tài sản lên đến bằng 1/3 tài sản quốc gia, khiến nền kinh tế bị kiệt quệ.

    Trong 32 năm qua, nhà cầm quyền CSVN cũng đã và đang xây nhiều chùa và trung tâm rộng lớn cho Phật Giáo ở Vũng Tàu, Sài Gòn, Đà Lạt... Một ngôi chùa tuyệt đẹp vừa được chính quyền địa phương dựng lên ở Tiên Sa, Đà Nẵng. Trong khi đó, chính quyền chẳng những không xây một nhà thờ nào cho Thiên Chúa Giáo, trái lại còn đập phá hay ngăn cản không cho sửa chửa các ngôi thánh đường đã quá cổ và hư nát.

    Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước thử suy nghĩ xem: Tại sao chỉ một mình Phật Giáo được hưởng các sự ưu đãi tối đa, còn các tôn giáo khác không được? Ở các nước Tây Phương, nơi có đông Thiên Chúa Giáo, có quốc gia nào áp dụng thứ luật kỳ thị đó đối với Phật Giáo đâu?
     
    Lữ Giang
    February 24

    ĐỪNG ĐÁNH LẠC MỤC TIÊU, ĐỪNG ĐÁNH TRÁO CHỦ ĐỀ

     

    MẶC GIAO

    VIẾT TỪ CANADA

    Bài này không có mục dích tranh cãi hơn thua và gây bất hòa giữa đồng bào Phật tử và đồng bào Công Giáo. Tôi luôn luôn chủ trương hòa đồng dân tộc, vì trước khi được rửa tội dể có đức tin Công Giáo, tôi được sinh ra là một người Việt Nam. Vì thấy có một số người đi vào con đường tranh luận nguy hiểm, tỏ mờ xuất hiện âm mưu chia rẽ và gây hận thù giữa hai khối tôn giáo lớn nhất Việt Nam, có thể gây nguy hại khôn lường cho dân tộc, chẳng những trong cuộc đấu tranh chống độc tài hiện tại mà còn cả cho công cuộc xây dựng lại đất nước trong mai sau, tôi buộc lòng phải phát biểu đôi điều.

     

    80225PhuLy2
    Hình ảnh Lễ khởi công xây cất nhà thờ Phủ Lý, Hà Nam, giáo phận Hà Nội 22/02/2008 ( hình VietCatholic)

    Trong khi hàng ngàn giáo dân Hà Nội liên tiếp tụ tập trước trụ sở tòa Khâm Sứ Tòa Thánh cũ, từ cuối tháng 12-2007, để cầu nguyện cho việc nhà cầm quyền cộng sản trả lại khu nhà đất này, trong khi đồng bào trong nước và ngoài nước nhìn về cuộc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động này với niềm ưu tư và hy vọng, nôn nóng chờ đợi kết qủa để xem cộng sản sẽ giải quyết ra sao, để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm và tiền lệ nào cho cuộc đấu tranh đòi công lý, không phải chỉ cho Công Giáo, mà còn cho các tôn giáo khác, nếu không nói là cho toàn dân, thì Nhóm Giao Điểm ở Mỹ, khét tiếng thù hận Công Giáo, tung ra những luận điệu kết án Công Giáo đã triệt hạ và cướp đất chùa Báo Thiên để xây nhà thờ Thánh Giuse, khu nhà chung và tòa Khâm Sứ ở Hà Nội. Nhóm này cho rằng Phật Giáo mới là chủ nhân của khu đất tranh chấp và kêu gọi Phật tử đứng lên đòi lại. Để đánh động tâm lý của Phật tử, có ông còn chơi trò ghép hình gian, lấy tấm hình đẹp đẽ của một chùa khác, chùa Báo Ân (tức chùa Liên Trì), ghép bên cạnh hình nhà thờ lớn Hà Nội với ngầm ý là ngôi chùa trong hình chính là chùa Báo Thiên, đã bị đập phá để xây nhà thờ. Đòn khích động của nhóm Giao Điểm không nhiều thì ít đã gây tác hại cho tình đoàn kết dân tộc, thí dụ web Huongtran “hatnangusa@yahoo.com”, vẫn hàng ngày phổ biến tin tức và bài vở bênh vực Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, ngày 21-01-2008 đã đăng một số lời kêu gọi và kết án có nội dung rất “cạn tầu ráo máng”, khởi đầu bằng một khẩu hiệu in chữ lớn đậm: “Bà con Phật Tử hãy đến nơi gọi là “tòa khâm sứ” đòi bọn Việt gian Catô trả lại chùa Báo Thiên cho PGVN”. Đọc khẩu hiệu khích động này, người ta có thể hiểu đó là một lời kêu gọi thánh chiến, báo trước một cuộc chiến tranh tôn giáo sắp xảy ra. Đó là một cuộc chiến tranh giữa Phật Giáo và Công Giáo, không phải là cuộc tranh đấu giữa các tôn giáo và chế độ độc tài vô thần. Tôi tin rằng các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đa số đồng bào Phật tử không mong muốn có một cuộc chiến tranh như vậy, nhất là khi các vị và các Phật tử chân chính đang cần sự hỗ trợ của toàn dân để đấu tranh cho sự sống còn của Giáo Hội trước mưu chước triệt tiêu Giáo Hội của nhà cầm quyền hiện nay.

    Người ta lại càng có lý do nghi ngờ việc đánh lạc mục tiêu cuộc đấu tranh của giáo dân khi ông Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng Ban Tôn Giáo nhà nước, người đã từng nhiều năm đứng đầu một cơ quan chuyên lo triệt hạ, kiểm soát, cấm đoán, kềm kẹp, gây chia rẽ và lợi dụng các tôn giáo, đứng ra đỡ đòn cho nhà nước bằng việc gây mâu thuẫn giữa Phật Giáo và Công Giáo với hy vọng làm cho hai tôn giáo này đánh đấm lẫn nhau thay vì đánh chế độ độc tài. “Đao phủ thủ” của các tôn giáo Lê Quang Vịnh cho phổ biến ngày 03-02-08 một bài ngắn có tựa đề “Lịch sử Phố Nhà Chung” kể lại việc ông được vị sư trụ trì chùa Lý Quốc Sư “đưa cho đọc những tư liệu qúy giá mà nhà chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa. Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chứng tích rằng toàn bộ khu đất rộng 300 mét vuông ấy, ngày nay gọi là Phố Nhà Chung (Công giáo), ngày xưa là một ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính, tráng lệ, đồ sộ vào bậc nhất nước ta. Chùa có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự, gọi đầy đủ là là Sùng Khánh Báo Thiên Tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp cao vời vợi (12 tầng), cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt hồ Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp, gọi tắt là Báo Thiên Tháp…”. Chưa cần bàn tới tài liệu này chính xác tới đâu, chỉ nguyên việc ông Vịnh nói dóc đã đủ gây nghi ngờ về sự trung thực của ông. Trước hết, ông nói ông “đọc” những tư liệu của vị sư trụ trì. Những tư liệu này chắc chắn phải được viết bằng chữ Nho, lại là chữ Nho cổ. Một giáo sư Hán học của trường đại học văn khoa chưa chắc đã đọc thông liền tại chỗ, có khi còn phải lập cả một ủy ban để nghiên cứu và dịch thuật mới có thể tìm hiểu tận tường. Chữ nghiã của ông cán bộ Lê Quang Vịnh được bao nhiêu mà ông thoáng đọc đã hiểu hết mọi chi tiết? Thứ hai, ông nói tháp Báo Thiên cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt nước hồ Hoàn Kiếm. Ai cũng biết nhà thờ chánh tòa không nằm gần bờ hồ Hoàn Kiếm. Nếu đúng tháp Báo Thiên nằm ở địa điểm nhà thờ lớn ngày nay có thể soi bóng trên mặt hồ thì tháp phải cao cả cây số, còn cao hơn tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới đang được xây ở Dubai, Trung Đông. Sự thật, theo tài liệu sưu tầm của Hội Khoa Học Lịch Sử VN, tháp chỉ cao 20 trượng, tức 80 mét. Phét lác như thế mà được “Giaodiem online.com” của các ông “trí thức” vồ lấy đăng ngày 13-02-08, cùng ngày phổ biến bài này trên web Báo Đại Đoàn Kết, cơ quan Trung Ương của Mặt Trận Tổ Quốc, cơ quan ngoại vi của đảng cộng sản. Tuy nhiên, nói về việc ông cộng sản gộc nhẩy vào cuộc để chỉ đạo một cách vụng về không có nghiã là phủ nhận các sự kiện lịch sử.

    THẢO LUẬN TRÊN DIỄN ĐÀN TALAWAS

    Trên diễn đàn điện tử TALAWAS ngày 20-01-08, ông Lê Tuấn Huy đã có bài “Xin hãy dừng lại trước khi qúa muộn” bàn về vấn đề một số người muốn khích động việc tranh chấp đất đai giữa Phật Giáo và Công Giáo. Tác giả tự xác nhận là người vô thần 100%, nhưng “sống bằng lẽ phải và lương tâm, không hề thấy đúng nói sai hay thấy sai nói đúng”. Ông giật mình lo ngại trước nguy cơ tranh chấp giữa hai tôn giáo chỉ vì chuyện đất đai. Ông nhìn thấy có sự lẫn lộn giữa lịch sử và hiện thực. Theo ông, khi một trong các bên chủ thể của tranh chấp không còn tồn tại, hoặc khi đã qua một thời gian đủ lâu, lúc mà các chủ thể trực tiếp đã biến thành các chủ thể hậu duệ, thì xem như lịch sử đã được xác lập. Không ai thay đổi được lịch sử và không ai có thể giải quyết được mọi hậu qủa của lịch sử. Trong khi đó hiện thực là cái ta phải đối mặt và có thể thay đổi. Về lịch sử, chính quyền thực dân Pháp, chủ thể phát đất cho Công Giáo xây nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác, đã trở thành cát bụi từ lâu rồi. Những người bị lấy đất cũng không còn để có thể khiếu nại. Không thể viện quyền thừa kế vì khi đó chỉ có các cá nhân tu sĩ và Phật tử, chưa có Giáo Hội Phật Giáo, nên chưa có tập đoàn có tư cách pháp nhân. Vả lại Phật Giáo và Công Giáo vẫn sống hài hòa từ đó tới nay, chẳng ai thắc mắc, chẳng ai đòi gì của ai, tại sao bây giờ lại moi ra vấn đề đã đi vào lịch sử? Về hiện thực, ngược lại, chính quyền cộng sản lấy nhà đất tòa Khâm Sứ năm 1959 vẫn còn đó, những người thừa kế quyền sở hữu vẫn còn đó với giấy tờ đầy đủ, nên việc khiếu nại có cơ sở. Vì vậy, ông e ngại việc khích động Phật Giáo đòi đất chỉ là cớ chống Công Giáo. Ông kêu gọi những nhóm người thuộc “tôn giáo” nào đó hãy ý thức “lợi ích dân tộc là lợi ích của toàn thể khối nhân dân, của tất cả các tôn giáo và người không theo đạo sống trên mảnh đất hình chữ S này, không phải của riêng ai, riêng một đảng phái hay tôn giáo nào. Vì lợi ích riêng mà bất chấp viễn cảnh được giả định của một cuộc xung đột tôn giáo và xã hội, vốn sẽ đi kèm – không tránh khỏi trong thời đại ngày nay - với giải pháp khắc chế lẫn nhau giữa các tôn giáo, sẽ dẫn đến một đại họa, và là một tội ác! Xin hãy dừng lại trước khi qúa muộn!”

    Chỉ ba ngày sau khi bài của ông Lê Tuấn Huy xuất hiện, ông Nguyễn Hữu Liêm nhảy vào cuộc với bài “Một lịch sử đã muộn” (Góp ý với Lê Tuấn Huy về vấn đề Phật Giáo và Công giáo ở Việt Nam), được đưa lên Diễn Đàn Talawas ngày 23-02-08. Thật ra ông Nguyễn Hữu Liêm không có góp ý trực tiếp với vấn đề và những luận điểm ông Lê Tuấn Huy nêu lên. Ông chỉ mượn cớ để đổ thêm dầu vào lửa bằng lối nói cố làm ra vẻ trí thức và hòa nhã. Trước hết, ông viện dẫn Ludwig Feuerbach đả kích đạo Công Giáo rồi lại dùng Barth để đả kích Feuerbach đã lún sâu vào tín lý Công Giáo khi phủ định đạo này. Kế đến ông cho rằng những “người trí thức Phật Giáo Việt Nam đã nảy sinh một tinh thần hận thù Công Giáo như là một năng thức phủ định đối với một bản sắc văn hóa mới, ngoại lai trong ý chí bảo tồn truyền thống của mình”. Liền đó ông lại chê các trí thức Phật Giáo VN chưa có, hay không có khả năng tạo nên cơ hội để biến niềm căm phẫn đối với Công Giáo thành ra một phản biện thuần lý luận (như Feuerbach chuyển hóa niềm bất mãn nội tại thành ngôn từ triết học). Chỉ hơn một thập niên qua, nhóm Giao Điểm mới có những công trình biên khảo phê phán đạo Công Giáo. Trong số những tác giả ông ca tụng và kê tên, có cả cây viết cộng sản Hoàng Văn Giàu. Ông cho rằng ông dùng chữ “hận thù” là không qúa đáng vì Công Giáo, nhiều hay ít đã nhờ vào thực dân Pháp mà bành trướng. Đó cũng là lý do “người trí thức Phật tử Việt Nam cảm thấy họ gần gũi với người cộng sản trong bản chất phản đề và phủ định đế quốc phương Tây”.

    Sau khi xử dụng trích đoạn Thánh Kinh bị ông cắt vụn và giải thích sai lạc: “Ta đến để nổi lửa trên thế gian… để mà gây chia rẽ” (Luke 12) dể chứng minh Công Giáo bành trướng bằng sức mạnh chinh phục, ông chê Phật Giáo ngây thơ đối với vấn đề tôn giáo và quyền lực và dậy các trí thức Phật tử “phải có khả năng và ý chí để nhân danh truyền thống dân tộc Việt, tạo nên một một năng lực phản đề và phủ định đối với đạo Chúa một cách có hiệu năng hiện thực”. Ngoài việc kết án Công Giáo xây nhà thờ Thánh Joseph trên nền Tháp Báo Thiên, ông Liêm còn tạo thêm tội vương cung thánh đường La Vang được xây trên nền chùa Lá Vàng ở Quảng Trị. Ông cho rằng “Đây là, và phải là một cáo trạng nặng nề đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” “ít nhất là trên bình diện đạo đức lịch sử của người Công Giáo, khi đòi lại cơ sở của họ, Giáo Hội Công Giáo phải trả lời cáo trạng này”.

    Cũng trên diễn đàn Talawas, ngày 08-01-08 ông Nguyễn Mai Sơn cho đăng bài “Xin đừng bi quan bởi không có gì qúa muộn”. Bài này không có gì đặc biệt ngoài việc tác giả chỉ trích Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt là ngây thơ, có thái độ khiêu khích khi phát động cầu nguyện để đòi lại nhà đất. Lý do là Tổng Giám Mục Kiệt đã coi thường phản ứng của Phật Giáo và xem nhẹ khả năng “đáp trả” của chính quyền. Ông viết thêm: “Điểm đáng chú ý và cũng gần như là mấu chốt của vấn đề chính là phần nhiều người Công Giáo vẫn xem Vatican là “nước Mẹ”, khiến mọi người nghĩ rằng người Công Giáo Việt Nam đặt lợi ích tín ngưỡng của mình lên trên lợi ích dân tộc”.

    Phải ghi nhận diễn đàn Talawas đã có thiện chí mở cửa cho cuộc thảo luận rộng rãi về vấn đề tranh chấp đất đai, nhờ đó nhiều người có dịp đọc được những ý kiến trái ngược, có cơ hội nhận định tâm trạng của những người viết cũng như những tính toán của nhà cầm quyền qua những ngôn từ và những ẩn ý.

    NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ VÀ NHỮNG NGHI VẤN

    Bỏ qua những xác định khơi khơi của ông Lê Quang Vịnh, chúng ta có một số tài liệu lịch sử nói về chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên với nhiều chi tiết bổ túc cho nhau và đáng để cho người sau suy nghĩ.

    Trước hết, sự hiện diện của chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên ở khu gần nhà thờ lớn hiện nay đã được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên và Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815) xác nhận. Tháp được xây trước (1056), chùa được xây sau một năm (1057), đều do lệnh của vua Lý Thái Tông (1054-1072).

    Về sự xụp đổ của tháp Báo Thiên, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Việt Sử Lược, những tầng trên của tháp được ghép bằng đồng nên dễ bị sét đánh. Vì thế tháp đã xụp đổ và được sửa lại nhiều lần. Lần đổ cuối cùng, theo Tang Thương Ngẫu Lục, “khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng Đế tiên triều (Lê Lợi) tiến binh vây Đông Đô, viên quan giữ thành là Thành Sơn Hầu Vương Thông phá hủy cây tháp (lấy vật liệu) chế ra súng đồng để giữ thành (1414). Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên” (Talawas 04-02-08).

    Theo tài liệu của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, trong bài Nghĩ về Thăng Long Hà Nội (Nhà Xuất Bản Trẻ 2001, TP. HCH, tr 100-105) thì sau khi tháp Báo Thiên bị tướng nhà Minh là Vương Thông triệt hạ để lấy đồng, từ đó chùa Báo Thiên cũng bị bỏ hoang. Triều Lê cho đắp núi đất phủ lên nền cũ. Cuối thế kỷ 18, nơi sân chùa thì họp chợ gọi là chợ Báo Thiên. Núi dùng làm nơi xử chém những tội nhân bị kết án tử hình. Năm 1791, người ta đào lấy những gạch đá nơi nền tháp để tu bổ thành Thăng Long.

    Như vậy sử liệu đã ghi rõ tháp Báo Thiên bị quân Minh phá sập dể lấy đồng khi Lê Lợi bao vây thành Thăng Long, chùa Báo Thiên bị bỏ hoang phế sau đó, dân chúng họp chợ trên sân chùa, núi đất được dùng làm pháp trường, gạch đá được moi lên để tu bổ thành. Vậy mà ông Nguyễn Quốc Dũng hò hét trên Giaodiem online (18-01-08) “Thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay”. Phá tháp, phá chùa là tội lớn lắm. Nếu tin lời ông Nguyễn Quốc Dũng và những người thích vu khống và thù hận như ông thì những người công giáo VN phải là những tội đồ số 1 của dân tộc. Ông Nguyễn Hữu Liêm nói rằng trí thức Phật tử cảm thấy gần gũi với người cộng sản, chẳng lẽ các ông lại muốn hô hào Phật tử hãy mau tiếp tay với cộng sản để cùng trừng trị đám “tội đồ số 1” này (!?)

    Chưa xong vụ Báo Thiên, ông Nguyễn Hữu Liêm lại lôi ra vụ chùa Lá Vàng ở Quảng Trị: “chùa Lá Vàng trở thành thánh địa La Vang, từ một ngôi chùa “không tên” trở nên Vương cung Thánh đường”. Khác với trường hợp Tháp và Chùa Báo Thiên, không có một tài liệu lịch sử nào chứng minh có một Chùa Lá Vàng ở địa điểm nhà thờ La Vang hiện nay. Có chăng là một am nhỏ đã được dân địa phương nhường lại cho đồng bào công giáo khi biết Đức Mẹ đã hiện ra gần đó. Ông Nguyễn Lý Tưởng, người gốc Quảng Trị, đã viết về khu đất này như sau: “La Vang ngày xưa là một xóm đạo thuộc giáo xứ Trí Bưu (gọi là xóm Lá Vằng)… Toàn vùng La Vang ngày xưa là đất thuộc làng Thạch Hãn (chỉ trừ xóm Lá Vằng tức La Vang bây giờ là do giáo dân Trí Bưu vào rừng làm củi đã khai phá ra đất đó, nên La Vang thuộc giáo xứ Trí Bưu). Đọc lịch sử Đức Mẹ La Vang chúng ta biết ba làng Thạch Hãn, Ba Trừ và Cổ Thành, sau khi tìm hiểu về chuyện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang vào cuối thời Tây Sơn, đã đồng thuận trao di tích Cây Đa (nơi dân đi rừng đã làm một cái am để thờ Một Bà Hiển Linh nào đó mà họ không biết tên) lại cho người bên đạo”http:/ttntt.free.fr 25-01-08). Như vậy làm gì có chuyện giáo dân phá chùa Lá Vàng để xây Vương Cung Thánh Đường lên đó. (Nguyễn Lý Tưởng 05-12-2005, đăng lại trên

    ĐÁNH LẠC MỤC TIÊU

    Trong khi cuộc đấu tranh bằng cầu nguyện của giáo dân Hà Nội có mục đích đòi hỏi nhà nước cộng sản trả lại nhà đất của Giáo Hội để xử dụng vào những việc công ích, thay vì để mở tiệm phở, quán nhạc, bán và giữ xe gắn máy, thì một số người nhận mình là trí thức Phật tử lại phát động chiến dịch khơi lại hận thù với Công Giáo, xuyên tạc Công Giáo phá chùa, chiếm đất để xây nhà thờ. Nếu Lê Quang Vịnh làm điều này, chúng ta không có gì thắc mắc vì đó là bổn phận của ông ta trong việc “ăn cây nào rào cây nấy”. Biết đâu ông chẳng được lệnh từ trên phải thi hành mánh khoé gỡ rối cho đảng và nhà nước bằng cách xúi cho Phật Giáo và Công Giáo đánh lẫn nhau thay vì đánh cộng sản. Có bao nhiêu người rơi vào âm mưu này vì vô tình? Có bao nhiêu người tiếp tay với nhà nước cộng sản thực hiện âm mưu này một cách cố ý? Đọc những lời lẽ của một số người tự nhận là Phật tử, chúng ta chỉ toàn thấy hận thù, tố cáo, xuyên tạc, mạ lỵ, lập cáo trạng để hỏi tội Công Giáo, không hề thấy một chút từ bi hỷ xả nào của tinh thần Phật Giáo. Họ còn chê những trí thức Phật tử khác dốt, không biết lý luận rốt ráo và cao cấp khi chống đối Công Giáo, chê đa số Phật tử thụ động và hiền lành, không chịu nghe lời xách động của họ để nổi lên hỏi tội Công Giáo.

    Ai cũng biết vụ giáo dân Hà Nội đòi nhà đất là một vấn đề rất khó giải quyết cho nhà cầm quyền cộng sản. Không trả thì những cuộc đấu tranh, dù bất bạo động, vẫn dai dẳng tiếp diễn, có thể lôi kéo người tham gia càng ngày càng đông, không phải chỉ riêng giáo dân, mà còn dân chúng thuộc các thành phần khác, không phải chỉ đòi nhà đất, mà còn đòi những thứ khác. Nhà cầm quyền VN hiện nay rất sợ những cuộc tụ tập đông người vì có thể biến thành những cuộc biểu tình chống nhà nước, sẽ khơi ngòi bất mãn bùng nổ khắp nơi. Khi đó liệu chính quyền có dám và có khả năng đàn áp các cuộc biểu tình này không? Nếu có máu đổ thì máu sẽ gọi máu, dân càng thêm căm phẫn và càng đấu tranh quyết liệt hơn. Nếu đàn áp xảy ra, quốc tế có nhắm mắt làm ngơ hay sẽ áp dụng những biện pháp chế tài, cụ thể là “đóng băng” (freese) tài sản của các công ty và của các ông bà lớn gửi tại các ngân hàng nước ngoài? Việc này đã có tiền lệ. Mới nhất là vụ đàn áp tại Miến Điện. Tại quốc gia này, đàn áp có thành công nhưng chế độ bị xỉ vả, bị chế tài, bị đóng băng trương mục, bị Liên Hiệp Quốc bắt phải nói chuyện với đối lập, thay đổi hiến pháp, lập chính phủ liên minh, đi đến việc thực hiện tự do dân chủ. Vì thế, khi thấy hàng ngàn giáo dân tụ tập cầu nguyện liên tục, nhà cầm quyền đã nhức đầu tìm cách gỡ ngòi nổ. Họ đã liên lạc thẳng với Vatican để xin can thiệp giải tán các buổi cầu nguyện đông người với lời hứa hẹn sẽ giải quyết thỏa đáng. Giáo dân đang chờ. Ngòi nổ được tạm quay ngược vòng cho chậm giờ nổ nhưng vẫn có thể được cho chạy lại (restart) bất cứ lúc nào. Không nhượng bộ không xong. Nhưng nhượng bộ chỗ này chỗ khác sẽ đòi hỏi. Điển hình là 7000 người tụ tập tại Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà ngày lễ minh niên mồng 3 Tết. Công Giáo đòi được, Phật Giáo và các tôn giáo khác cũng sẽ đòi, cá nhân bị chiếm nhà chiếm đất cũng sẽ gia tăng cường độ khiếu nại. Lúc đó nhà nước sẽ giải quyết ra sao? Cái mớ bòng bong này không có mối gỡ. Vì vậy, phải đánh lạc mục tiêu tranh đấu của giáo dân, phải có bộ phận nhập cuộc gây hận thù giữa Công Giáo và Phật Giáo để hai tôn giáo tấn công lẫn nhau, làm suy yếu hàng ngũ đấu tranh với nhà nước cộng sản. Chúng ta mong rằng giáo dân Công Giáo và đồng bào Phật Tử sẽ có ý thức cao độ về vấn đề này.

    ĐÁNH TRÁO CHỦ ĐỀ

    Chủ đề của những cuộc đấu tranh bất bạo động đang diễn ra là Công Giáo đòi nhà đất do nhà cầm quyền cộng sản chiếm giữ. Bỗng nhiên một đám người ngoài nhẩy vào đòi đổi chủ đề tranh đấu thành tranh chấp đất đai giữa Phật Giáo và Công Giáo. Trầm trọng hơn là họ còn muốn đổi chủ đề đất đai thành đề tài Công Giáo quan hệ với thực dân và Công Giáo phá hoại văn hóa dân tộc. Vì không có thời giờ thảo luận đến nơi đến chốn, tôi chỉ xin nhắc vài sự kiện để chúng ta cùng suy nghĩ

    1/ Công Giáo và thực dân: Đạo Công Giáo có mặt tại Việt Nam từ năm 1533. Ba thế kỷ rưỡi sau, năm 1884, với Hòa ước Giáp Thân, Pháp mới chính thức đặt nền đô hộ tại Việt Nam. Trong khoảng thời gian dài đó, Giáo Hội ít khi được yên hàn giữ đạo và mở đạo. Ngược lại toàn bị bách hại, hết bởi vua đến quan (Văn Thân). Trong 351 năm đó, có thực dân đâu mà cộng tác? Điều nghịch lý là sau 351 năm bị cấm, giết bởi chính những người cùng máu mủ với mình, Công Giáo Việt Nam chỉ được hồi sinh khi ngoại bang đến cướp nước. Khi cả triều dình dều khép nép tuân lệnh thực dân, khi cả nước phải làm theo ý của những ông chủ mới, người Công Giáo có thể đơn phương chống lại thực dân Pháp được không, hay phải tương kế tựu kế để sống còn? Đồng ý rằng dưới thời Pháp cai trị, có những người Công Giáo làm tay sai cho chính quyền thực dân, nhưng những tay sai khét tiếng như Hoàng Cao Khải, Vi Văn Định, Tôn Thọ Tường… thuộc tôn giáo nào? Có phải ông Hồ Chí Minh cũng đã viết đơn xin học trường Bảo Hộ để mong được làm quan bản xứ cho Pháp hay không? Mặt khác, Công Giáo trong thời này, nhờ điều kiện thuận lợi để phát triển, đã xây dựng được nhiều trường học, nhà thương, viện tế bần, viện mồ côi, trại cùi… phục vụ tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo. Đừng nên có thiên kiến và chỉ biết kết án. Hãy xét hoàn cảnh thời bấy giờ và hãy cân nhắc những điều tốt đạo Công Giáo đã đóng góp cho dân tộc Việt Nam.

    Về cách hành xử của nhà cầm quyền bảo hộ Pháp (tạm gác việc nói về những chính sách thực dân), họ có truyền thống thiết kế thành phố với việc xây cất ưu tiên ở trung tâm sáu cơ sở chính: tòa thị chính, tòa án, nhà tù, nhà bưu điện, nhà hát và nhà thờ. Chúng ta thấy rất rõ cách thiết kế này tại Hà Nội và Sài Gòn. Nếu không đủ đất để xây, họ dùng biện pháp truất hữu hay phá cái cũ để xây dựng cơ sở mới. Vì lý do này, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có thời được gọi là nhà thờ nhà nước, nhà thờ lớn Hà Nội được chính quyền bảo hộ Pháp cấp đất trên nền của chùa và tháp Báo Thiên đã bị xụp đổ và bỏ hoang phế. Họ không dại gì giao chùa và tháp còn đang đứng sừng sững của Phật Giáo cho Công Giáo phá đi để xây nhà thờ trên đó. Là người cai trị, dù là thực dân, họ cũng không muốn có sự xáo trộn xã hội. Những chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn ở ngay giữa trung tâm Hà Nội, có ai dám đụng tới đâu? Giám mục Puginier được chính quyền thời đó cấp đất để xây nhà thờ và nhà chung. Ông không chiếm đất của ai. Những người thừa kế của ông có bằng khoán hợp lệ. Nay nếu ai muốn đòi đất này thì phải đi kiện chính quyền thực dân trong khi chính quyền này đã đi vào lịch sử. Giả dụ muốn trả thì trả cho ai? Cho Giáo Hội Phật Giáo nào? Hay để hóa giải “hận thù” thì phải đập xập luôn nhà thờ lớn Hà Nội và toàn khu Nhà Chung để một số người được thỏa lòng? Có ai tìm được giải pháp thần diệu nào cho vấn đề này không, hay càng nói càng gây chia rẽ và hận thù giữa các thành phần dân tộc?

    2/ Công Giáo và dân tộc: Đây là một đề tài lớn, không thể trình bầy trong một bài viết. Tôi chỉ xin góp ý về một vài điểm đã được một số tác giả nêu lên trong cuộc tranh luận mà tôi đã trích dẫn ở phần trên. Trước hết, có một số người mang định kiến sẵn với Công Giáo, bất cứ cái gì của Công Giáo đều xấu, từ giáo lý đến giáo chủ. Ông Nguyễn Hữu Liêm mở đầu bài viết bằng việc dẫn Karl Barth và Feuerbach để đả kích thần học Công Giáo, gọi tín đồ Công Giáo là những cá thể “nửa thú vật, nửa thiên thần”, cần phải được giáo dục để trở về “làm người, toàn diện con người”. Đã có triết gia định nghiã con người là nửa thánh nửa qủy. Nay ông Liêm mượn lời của Barth để chửi đồng loại là nửa vật nửa thiên thần, vậy ông là gì? chắc không phải là nửa thiên thần nửa thánh? Ông lại xuyên tạc Thánh Kinh khi dẫn lời Chúa Giêsu nói: “Ta đến là để nổi lửa trên thế gian… để mà gây chia rẽ” để chứng minh rằng Công Giáo truyền đạo bằng bạo lực. Ông bẻ vụn hai câu 49 và 51, đoạn 12 của Phúc Âm Luca để làm sai ý và dịch sai nghiã của câu nói. Bản tiếng Anh của The Holy Bible, New International Version (Michigan 1984) viết : “I have come to bring fire on the earth, and how I wish it kindled… Do you think I came to bring peace on earth? No, I tell you, but division”. Bản dịch Tân Ước của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn (1997) như sau: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên… Anh em tưởng rằng Thầy đến để đem hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Lối nói của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu hay dùng những ẩn dụ, những hình ảnh. Câu này không có nghiã là Ngài đem lửa đến để gây chiến tranh, để đốt thế gian, nhưng là đem sự thật, áng sáng, hơi ấm và sự cứu độ cho nhân loại. Vì thế mới mong lửa bùng lên. Tôi cũng đã nghe nhiều lần Phật Giáo ca tụng “lửa từ bi”. Chắc chắn lửa này cũng không phải là lửa gây chiến tranh. Ở câu sau, Ngài nói Ngài đem chia rẽ đến trần gian chứ không phải đến để chia rẽ trần gian. Đó là một lời tiên tri, vì những ai theo Ngài sẽ bị ghét bỏ, bị người ta lăng nhục và nhiều khi bị chém giết. Nhân loại sẽ ganh ghét và chia rẽ vì sự có mặt của Ngài và của môn đệ Ngài. Điều này đã xảy ra đúng như vậy. Bằng chứng là những người Công Giáo ở thế kỷ 21 vẫn còn bị những người như ông Liêm lăng mạ. Mong ông “giáo sư” hãy chịu khó nghiên cứu để hiểu biết thêm một chút. Nếu đã hiểu rồi, xin ông hãy giữ lương thiện trí thức một chút.

    Còn việc ông Nguyễn Mai Sơn cho rằng phần nhiều người Công Giáo vẫn xem Vatican là “nước mẹ” thì đó là một sự hiểu lầm to lớn. Người Công Giáo VN chỉ liên hệ với Vatican về tôn giáo mà thôi. Vả lại, mỗi một giáo phận, chưa nói tới giáo hội Công Giáo cả nước, được coi như một giáo hội địa phương hoàn toàn độc lập, chỉ liên hệ với Vatican về tín lý và kỷ luật nội bộ của Giáo Hội. Người Công Giáo Việt Nam là công dân Việt Nam toàn phần (không phải công dân hạng hai), tôn trọng luật lệ VN, xả thân bảo vệ tổ quốc VN, không bảo vệ nước Vatican. Họ chỉ bảo vệ đức tin. Vì vậy đừng sợ người Công Giáo đặt lợi ích tín ngưỡng của mình trên lợi ích dân tộc. Đòi nhà đất bị chiếm một cách bất công có vi phạm lợi ích dân tộc không?

    Cũng liên quan đến vấn đề Công Giáo và dân tộc, ông Nguyễn Hữu Liêm đã nói huỵch toẹt lý do thù hận Công Giáo như sau: “Người trí thức Phật Giáo Việt Nam đã nẩy sinh một tinh thần hận thù Công Giáo như là một năng thức phủ định đối với một bản sắc văn hóa mới, ngoại lai trong ý chí bảo tồn truyền thống của mình”. Ông ca đi ca lại bài Phật Giáo là dân tộc. Không ai phủ nhận ảnh hưởng lớn lao của Phật Giáo trong truyền thống và văn hóa của dân tộc. Nhưng cũng không ai có thể phủ nhận những đóng góp của các tôn giáo khác trong đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Không kể Khổng Giáo và Lão Giáo đã cùng Phật Giáo tạo thành bộ ba “tam giáo đồng nguyên”, đạo thờ tổ tiên ông bà còn có gốc rễ sâu xa hơn và phổ biến trong dân gian rộng hơn bất cứ đạo nào khác tại Việt Nam. Đạo Công Giáo đã có mặt tại Việt Nam gần 500 năm nay, đã trở thành một phần tinh thần và máu thịt của dân tộc Việt Nam, tại sao vẫn còn bị kỳ thị, bị coi như đối tượng hận thù? Người Việt Công Giáo có khác gì những người Việt khác ngoài đức tin của họ? Họ cùng chia một nguồn gốc, một lịch sử, một tiếng nói, một văn hóa và phong tục với mọi người Việt Nam, họ cùng nổi trôi theo vận nước với toàn thể dân tộc. Hàng triệu người Công Giáo cũng đã ngã xuống trong công cuộc bảo vệ quê hương. Có ai phân biệt tôn giáo của các tử sĩ? Tại sao cứ nói đến hận thù, là tiếng không có trong giáo lý nhà Phật?

    Nếu Công Giáo đem lại chút gì khác cho dân tộc thì đó chính là việc giao lưu tất yếu khi các định chế chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội có khuynh hướng đi đến chỗ được tổ chức một cách hợp lý và tiến bộ trên toàn thế giới. Có một số người vẫn chỉ trích mô thức tổ chức này trong khi vẫn cố gắng làm theo vì trong thời buổi chúng ta đang sống, không ai có thể tiếp tục mặc áo the, đi guốc mộc, búi tó củ hành để “bảo tồn truyền thống dân tộc”. Bảo tồn truyền thống và văn hóa dân tộc mới chỉ là khía cạnh tĩnh, tiêu cực, dậm chân tại chỗ. Đời sống văn hóa còn có khía cạnh động. Chỉ nên coi cái tĩnh là cốt lõi, và phải có cái động để hội nhập với thời đại, tìm tiến bộ. Giỏi thì vẫn tiến cùng người trong khi vẫn giữ được bản chất của mình. Dở thì sẽ thành một thứ không giống ai, không cạnh tranh nổi với người, nên đòi quay về ôm lấy truyền thống dân tộc.

    Ở khía cạnh đóng góp cho văn hóa Việt Nam, những người Công Giáo cũng không phải là những người ngoài cuộc. Không kể chữ quốc ngữ, ai có thể phủ nhận công trình của những Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký của lịch sử cận đại, những giáo sư triết học Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Vũ Đình Trác, giáo sư ngữ học Việt Nam Lê Văn Lý… của thời hiện đại? Nêu tên những vị này không phải để khoe khoang hay kể công. Họ là người Việt Nam, đóng góp tài ba cho dân tộc Việt Nam là chuyện tự nhiên. Nhưng vì có người muốn gạt hết mọi người Công Giáo sang thành phần bị loại bỏ với tội vọng ngoại, phản bội văn hóa dân tộc, nên chúng tôi phải nhắc lại những tên tuổi này để mọi người thấy Công Giáo Việt Nam có phản bội văn hoá dân tộc không.

    Nói mãi cũng không cùng và càng gây thêm hiểu lầm. Tôi xin kết thúc bài này bằng kết luận sau đây:

    * Chúng ta có bằng chứng và lý do cho thấy nhà cầm quyền cộng sản rất bối rối trong việc giải quyết những vụ tụ tập cầu nguyện đòi nhà đất của giáo dân Hà Nội. Họ tìm cách gỡ bí bằng cách chuyển mặt trận sang địa bàn khác: biến nạn nhân đi đòi trở thành đối tượng bị đòi.

    * Một số “trí thức” Phật tử vô tình hay hữu ý nhảy vào cuộc, hành động đúng theo chiến thuật của nhà cầm quyền cộng sản. Họ còn đi xa hơn bằng việc biến cuộc tranh chấp đất đai thành cáo trạng hỏi tội người Công Giáo đi theo ngoại bang, phản bội truyền thống và văn hóa dân tộc.

    Đối với những người cố tình hành động theo sách lược của cộng sản, tôi không cần nói đến nữa. Họ đã có niềm tin và sự lựa chọn rất khác với tinh thần Phật Giáo dù vẫn núp dưới danh nghiã Phật Giáo. Nhưng đối với những người anh em Phật tử vô tình bị cuốn hút vào trận thiên la địa võng này, tôi xin anh em hãy tỉnh táo nhìn ra vấn đề, nhận ra đâu là đồng minh, đâu là đối phương, việc gì phải làm trước, việc gì nên làm sau. Nếu đất nước có tự do và công lý, anh em một nhà còn thiếu gì thời giờ và cơ hội để giải quyết những bất đồng qúa khứ và hiện tại trong tinh thần vô úy nhưng khoan nhượng. Tiếp tục chia rẽ và hận thù sẽ làm lợi cho ai? Phật Giáo vốn coi mọi sự là sắc không, là vô thường, há chi nặng lòng với những “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”, bởi vì như Bà Huyện Thanh Quan đã cảm khái

    Lớp sóng phế hưng coi đã mỏi

    Chuông hồi kim cổ lắng càng đau

    MẶC GIAO

    Nguồn Blog Sát Thát