CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    March 30

    Cùng nhau lên tiếng với các Nữ Tử Bác Ái

     
    VietCatholic News (Chúa Nhật 30/03/2008 12:21)
     
    Cùng nhau lên tiếng với các Nữ Tử Bác Ái

    Những ngày vừa qua, độc giả VietCatholic đã được đọc nhiều bài viết về ngôi nhà số 32 Bis đường Nguyễn Thị Diệu là tài sản của hội dòng Nữ Tử Bác Ái bị Nhà Nước “mượn” làm cơ sở kinh doanh và đã có những ngày tháng ngôi nhà đáng lẽ phải được dùng làm nơi dậy dỗ giáo dục các trẻ nhỏ trở nên những người công dân ưu tú lương thiện thì lại là nơi sản xuất ra một bọn trộm cắp nghiện ngập đĩ điếm.

    Quyền thủ đắc và sở hữu bất động sản số 32 Bis đường Nguyễn Thị Diệu của hội dòng Nữ Tử Bác Ái được tóm lược như sau:

    1- Ngày 23 tháng 7 năm 1958 một hợp đồng thuê mướn nhà (Contrat de location) đã được ký kết giữa đại diện của hội Hồng Thập Tự Pháp và vị nữ tu đại diện hội dòng Nữ Tử Bác Ái. Hợp đồng này đặc biệt có một điều khỏan là hội Hồng Thập Tự Pháp sẵn sàng hiến tặng nhiều bất động sản tọa lạc tại nhiều địa điểm khác nhau cho hội dòng Nữ Tử Bác Ái nếu được sự chấp thuận của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ có điều khỏan này vì chánh quyền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam có nhiều luật lệ khắt khe đối với bất động sản sở hữu bởi ngọai kiều.

    2- Điều khỏan hiến tặng trên đã được Tổng Thống VNCH thanh thỏa bằng nghị định số 533-TC ngày 27 tháng 12 năm 1958 có nghĩa là hội Hồng Thập Tự Pháp được quyền hiến tặng và hội dòng Nữ Tử Bác Ái được phép thủ đắc và sở hữu những bất động sản ghi trong hợp đồng thuê mướn nhà.

    3- Hiện nay sở đất số 32Bis đường Nguyễn Thị Diệu được đăng bạ địa chính số 632 SàiGòn-Độc Lập xác nhận quyền sở hữu của tu hội Nữ Tử Bác Ái.

    Qua các văn kiện trên, chúng ta không còn có gì để phải đặt câu hỏi về quyền sỡ hữu của hội dòng Nữ Tử Bác Ái trên sở đất số 32 Bis đường Nguyễn Thị Diệu. Vấn đề đặt ra là khi lên tiếng xin được hòan trả lại sở đất này chắc chắn các Nữ Tử Bác Ái đã bị các quan chức nại ra nhiều luật lệ cũng như đòi hỏi về thủ tục để làm cho sự việc tưởng như rất đơn giản trở nên khó khăn. Cuối cùng thì cũng chỉ vì cái túi tham của một số quan chức mà từ tòa Khâm Sứ ở Hà Nội đến sở đất của các Nữ Tử Bác Ái ở Sài Gòn phải trầy trụa trong một vũng bùn không có lối thóat. Nhìn từ góc cạnh này thì quyết định của tập thể tức là của đảng Cộng Sản Việt Nam đã không có một chút áp lực nào dù nhỏ nhoi trên quyền lợi của những người có phần ăn chia trên những phương tiện làm ra tiền bạc đổ vào cái túi tham của một số quan chức.

    Giáo dân Hà Nội đã quyết liệt đứng dậy đòi lại tài sản cho giáo phận. Ông thủ tướng và các bộ phận cấp cao có khuynh hướng giải quyết vấn đề một cách êm thắm nhưng lại bị những cán bộ cấp dưới ở địa phương là những người có lợi lộc trên một mảnh đất tìm đủ cách để làm cho sự việc trở nên rắc rối. Những tranh cãi và xung đột của các viên chức có quyền lợi trên một miếng đất rất có thể mang đến những hậu quả xấu xa đến độ bế tắc. Độc giả có thể đặt câu hỏi rằng tại sao trong một hệ thống cầm quyền mà lại có tình trạng “trên bảo dưới không nghe”. Câu trả lời mà ai cũng biết là từ trên xuống dưới, hàng ngang cũng như hàng dọc, ông to bà lớn nào không nhiều thì ít cũng có một bề dầy tham nhũng, đục khóet công qũy, hối mại quyền thế. Do vậy người nào cũng cũng phải giữ thế thủ để không bị tấn công. Ông bà nào cũng đáng tội “dựa cột” thì còn lấy ai xử ai! Bên cạnh cái thực trạng nhơ nhớp này thì thứ bậc đẳng cấp trong đảng cũng là một ngăn cản việc thi hành luật pháp cũng như các quyết định hành chánh. Một ông giám đốc nhưng đẳng cấp trong đảng lại ở dưới nhiều nhân viên thuộc quyền thì gần như chỉ là một con lật đật ở ngay chính cơ quan trách nhiệm.

    Giáo dân địa phận Hà Nội và những người thành tâm thiện chí trên thế giới đang mỏi cổ chờ quyết định của Nhà Nước trao trả lại “quyền sử dụng đất” tòa Khâm Sứ. Các em cô nhi ở Sài Gòn đang nước mắt ngắn dài tìm một chỗ trú nắng che mưa. Các em không dám và không có cao vọng đánh động lương tâm của những cán bộ chức quyền. Các em chỉ cầu xin được hòan trả lại những gì đã mất. Các Nữ Tử Bác Ái là những phụ nữ yếu ớt chỉ biết phụng sự xã hội qua những công tác nhân đạo bác ái như chính tên gọi của các ngài chắc hẳn sẽ không đủ sức lực để đối đầu với một hệ thống đục khóet tham nhũng ngang dọc. Những nạn nhân của trấn lột và áp bức đang trông chờ tiếng kêu cứu góp sức của những người đồng đạo, những người tôn vinh hòa bình và công lý trên khắp thế giới.

    Tôi có một ý kiến nhỏ là xin đề nghị mỗi độc giả hãy viết một điện thư gửi về các cán bộ viên chức có trách vụ và quyền hạn giao trả lại sở đất số 32Bis đường Nguyễn Thị Diệu cho các Nữ Tử Bác Ái để các nữ tu có nơi nuôi nấng dậy dỗ các trẻ mồ côi. Địa chỉ email: gopyhdndtp@tphcm.gov.vn.

    Điện thư của tôi như sau:

    Kính thưa các vị cán bộ,

    Qua báo chí và các trang tin tức điện tử, tôi được biết nhà cầm quyền thành phố đã “mượn” sở đất số 32Bis đường Nguyễn Thị Diệu của hội dòng Nữ Tử Bác Ái từ nhiều năm qua. Cơ sở này đã được các quan chức khai thác vào các mục đích thương mại, một thời gian dài là vũ trường. Hội dòng Nữ Tử Bác Ái có đầy đủ giấy tờ hợp pháp trên quyền sở hữu và “sử dụng” sở đất nói trên cũng như hợp đồng thỏa thuận cho Nhà Nước “mượn”. Vì nhu cầu họat động nhân đạo của các Nữ Tử Bác Ái, như qúy vị đã biết và đề cao, nên sở đất này phải được giao trả lại cho những người đã hy sinh gánh vác con bệnh xã hội thay cho Nhà Nước. Các vị nữ tu sẽ dùng cơ sở này để cứu giúp những người sa cơ họan nạn hoặc dậy dỗ con trẻ trở nên những công dân ưu tú và đạo hạnh của một nước Việt Nam văn minh tiến bộ.

    Trân trọng kính chào qúy vị.
     
    Trương Phú Thứ
    March 29

    Dư luận trong-ngoài nước nghĩ gì về tình hình nhân quyền tại VN?

     

    Dư luận trong-ngoài nước nghĩ gì về tình hình nhân quyền tại VN?

    2008.03.29

    Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA

    Phản ứng của một số lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các nhân vật tranh đấu cho dân chủ đối với phúc trình thường niên của Bộ Ngoại Giao Mỹ về tình hình nhân quyền trên thế giới.

    nghe audio ở đây.

    Tải xuống để nghe ở đây.

    Vẫn còn bị đàn áp, sách nhiễu

    Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Hội Trưởng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, từng ngồi tù trên 25 năm, cho biết hiện giờ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn gặp khó khăn, bị đàn áp và giới hạn hoạt động. Mọi sự nới lỏng từ phía nhà nước chỉ là để tuyên truyền, nói hay, nói tốt, đánh bóng cho chế độ.

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh : Giáo Hội Phật Giáo của nhà nước Việt Nam mới thành lập năm 1981 thôi, cho nên nếu tăng ni hay các ngôi chùa nào mà trước năm 1981 đều là của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cả, và kể cả Hoà thượng Thích Trí Thủ tham gia Phật Giáo nhà nước cũng với tư cách cá nhân, cho nên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn còn có tư cách pháp lý.

    Hiện tại Giáo Hội dưới sự lãnh đạo của nhị vị đại lão hoà thượng tức là Đức Tăng Thống Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang và Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Hai vị này bây giờ cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị hoàn toàn bị cô lập, bị sách nhiễu và bị khủng bố.

    Việc nhà nước Việt Nam tổ chức đăng cai Lễ Tam Hợp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là điều đúng đắn, Tất cả giáo đồ đều hoàn toàn ủng hộ, nhưng giáo hội chúng tôi vẫn còn bị cô lập, bị đàn áp; nhị vị lãnh đạo của giáo hội vẫn trong tình trạng bị quản thúc, cho nên việc tổ chức đại hội tam hợp này theo tôi xét thấy chỉ là hình thức đánh bóng bề ngoài của chế độ mà thôi.

    Cái mục đích chính là tô điểm cho chế độ, tức là lợi dụng những người tu của Phật Giáo Việt Nam để tô điểm cho chế độ.

    Mặc dầu Việt Nam bây giờ trở thành thành viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ nhưng sự vi phạm nhân quyền vẫn tiếp tục ở trong đất nước Việt Nam, tôn giáo vẫn bị sách nhiễu, bị đàn áp, và những người đấu tranh chính trị cũng như bất đồng chính kiến vẫn còn tiếp tục bị sách nhiễu bởi nhà cầm quyền.

    Chúng tôi vẫn bị đàn áp, bị sách nhiễu. Họ khủng bố tinh thần bằng cách cho những người công bố rằng "chùng chốt chiếc xe", tức là họ sẽ cài người cho xe tông hoặc là ám hại tôi bằng một hình thức nào đó. Tôi đang đối phó vớí vấn nạn này trước mắt đó.

    080325-NguyenVan%20LyTrial_200

    Liên quan đến quy luật nhân quả

    Từ Paris, Pháp, bà Penelope Faulkner, tức Ỷ Lan, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, nhấn mạnh rằng, trong nước, những hành động bắt bớ, cầm tù, xử phạt nặng nề , vẫn tiếp diễn đối với những tiếng nói công khai, yêu cầu tự do tôn giáo, cải tiến dân chủ, tôn trọng nhân quyền. Đến nay, những người bị giam cầm vì lý do chính trị, chưa ai được trả tự do, trong số đó có nhiều phụ nữ:

    Bà Penolope Faulkner: Để hiểu vấn đề nhân quyền Việt Nam cần liên quan tới quy luật nhân quả. Gây nhân như thế nào thì gặt quả như thế ấy.

    Cái nhân của nhân quyền có thể thấy rõ qua các phiên toà năm ngoái. 22 người đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ bị kết án tổng cộng 90 năm tù giam, chưa kể những năm quản chế sau khi ra tù, trong số này có 11 người phụ nữ.

    Cái nhân của năm 2007 như vậy thì cái quả 3 tháng đầu của năm 2008 là gì? Là những người bị xử chưa có ai được giảm án hay được trả tự do, trong khi ấy vẫn tiếp diễn việc đàn áp và bắt bớ những ai bất đồng chính kiến với nhà nước cộng sản Việt Nam.

    Từ khi được làm thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, nhà cầm quyền muốn chứng tỏ sự hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng thế giới bằng cách tuyên truyền rằng Việt Nam tôn trọng tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ, nhưng trên thực tại thì cuộc đàn áp vẫn tiếp diễn ngày càng mạnh mẽ nhưng tinh vi hơn trước.

    Người Tây Phương sẽ thấy là nhà nước Việt Nam nới lỏng tự do cho tín đồ Phật Giáo, nhưng thực tại thì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn bị đàn áp hoặc bị cấm hoạt động.

    Một ví dụ khác là vấn đề dân oan, là những người nông dân bị cán bộ nhà nước cướp đất, cướp tài sản. Khối dân oan này đã lên Sài Gòn hay ra Hà Nội khiếu kiện từ những năm 1988 đến nay, nghĩa là suốt 20 năm qua, nhưng nhà nước không hề giải quyết trả lại đất đai bị cưỡng chiếm. Theo số liệu của nhà nước thì 10 năm qua nhà cầm quyền Hà Nội đã nhận 2 triệu lá đơn khiếu kiện của dân oan toàn quốc.

    Đây là một vài ví dụ để cho ta thấy rằng chưa có gì thay đổi tại Việt Nam trên phương diện tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ.

    Chỉ là những hình thức giả tạo

    Kế đó ông Nguyễn Chính Kết, đại diện Khối 8406 trong nước, hiện đang hoạt động ở hải ngoại, khẳng định rằng Hà Nội chỉ cho dân chúng hưởng chút ít sự thoải mái trong cuộc sống, để mong đạt tới mục đích chính trị, hay ngoại giao mà họ hướng tới, nhưng sự thật thì tình trạng dân chủ, nhân quyền vẫn còn xa vời, cho dù Việt Nam bị công luận quốc tế chỉ trích và phê phán :

    Ông Nguyễn Chính Kết : Cộng Sản Việt Nam không bao giờ lại thực tâm tôn trọng nhân quyền cả. Tất cả những gì xem ra là tôn trọng nhân quyền thì đều chỉ là những hình thức giả tạo bên ngoài để che mắt thế giới, để nín thở qua sông trước các áp lực của quốc tế, để hoả mãn điều kiện của thế giới tự do hòng đạt được những mục đích quan trọng mà họ đang nhắm.

    Chẳng hạn như để vào được WTO, để vào được Hội Đồng Bảo An LHQ thì họ gỉa bộ làm vài hành động nào đó để tỏ ra thiện chí tôn trọng nhân quyền của mình. Và trước những cải thiện nhân quyền giả bộ ấy của Cộng Sản Việt Nam như là thả vài tù nhân chính trị, quốc tế cảm thấy họ đã có chút ít tiến bộ về nhân quyền nên đã chấp nhận cho họ vào WTO hay là những tổ chức quốc tế khác.

    Nhưng, ngay sau khi đạt đựoc mục đích ấy rồi là họ trở mặt ngay tức khắc. Cụ thể là ngay sau khi vào được WTO họ đã càn quét các nhà đấu tranh cho dân chủ, bắt bỏ tù rất nhiều nhà dân chủ như là Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân, v.v… Nếu áp lực quốc tế bị gỡ bỏ hoàn toàn tôi chắc chắn rằng tình trạng nhân quyền Việt Nam sẽ trở lại tình trạng y hết như 20 - 30 năm trước đây.

    Phần ông Huỳnh Kim, Hội Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Trung Ương, nói rằng trái với phát biểu của lãnh đạo Hà Nội luôn xác nhận là không hề có tù nhân chính trị, tôn giáo hay bất đồng chính kiến bị xử phạt, và không có đàn áp tôn giáo, Nhưng thực tế cho thấy tài sản của tôn giáo còn bị nhà nước chiếm đoạt và trường hợp đánh đập, hủy hoại thân thể chức sắc Hòa Hảo vẫn xảy ra:

    Ông Huỳnh Kim: Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thường rêu rao với thế giới và mới đây Nguyễn Tấn Dũng - Thủ Tướng nước CHXHCN Việt Nam đã nói với Đài BBC rằng nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam không có bắt giam tù nhân tôn giáo hay tù nhân lương tâm cũng như những người đối lập chính trị.

    Thử hỏi tại sao tài sản của đạo Phật Giáo Hoà Hảo trưyền thống là bất động sản - vật vô tri vô giác không có làm gì nên tội mà nhà cầm quyền CSVN đã tịch thu sau ngày 30-4-1975 đến nay đã hơn 33 năm không chịu hoàn trả.

    Và gần đây, chúng tôi xin nhắc nhở một điều tàn ác chưa từng thấy là nhà cầm quyền CSVN đã bắt giữ tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo Nguyễn Văn Thiệp, và đến ngày hôm nay vẫn còn bị giam giữ tại Sa Đéc. Tôi xin được nhắc với tất cả quý vị rằng giáo hội của Mười Thôn - tức Nguyễn Văn Thôn, là cộng sản chính thức đưa qua để làm giáo hội trá hình.

    Giáo hội của Mười Thôn là giáo hội của cộng sản chớ không phải giáo hội của Phật Giáo Hoà Hảo. Cho nên tất cả tài sản cũng như những người tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo bị giam giữ đều là của Phật Giáo Hoà Hảo Truyền Thống.

    Trong phúc trình dày 52 trang, bộ ngoại giao Hoa Kỳ nhận định rằng, tại Việt Nam, các quyền căn bản của người dân vẫn bị xâm phạm, mọi cuộc vận động ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo đều bị ngăn cấm, các sinh hoạt truyền thông và ngôn luận bị kiểm soát gắt gao.

    March 28

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý (6)

     

    Nguyễn Đức Tuyên, CA, HK, tóm lược

     

    V. Hai Lá Thơ Chính Thức

    Ngày 31.1.2008 nghe phong thanh có nhiều tin vui, nhiều tiến bộ. Đến sáng nghe có văn thư chính thức của Tòa Thánh gửi ĐTGM Ngô Quang Kiệt, sau đó có người đọc được văn bản chính thức bằng tiếng Pháp. Sau này nhận được bản dịch bằng tiếng Việt của VietCatholic.

    5.1 . TOÀ THÁNH GỞI THƯ CHO TGM HÀ NỘI

    Phủ Quốc Vụ Khanh
    Số 915/08/RS/FAX

    Vatican, ngày 30 tháng giêng năm 2008

    Kính gởi
    Ðức Cha Giuse NGÔ QUANG KIỆT
    Tổng Giám Mục Hà Nội
    HÀ NỘI

    Kính thưa Ðức Cha,

    Phủ Quốc Vụ Khanh rất chú ý và quan tâm theo dõi những biến cố, trong những ngày vừa qua tại Hà Nội, liên quan đến những căng thẳng giữa Tổng Giáo Phận Của Ðức Cha và Chính Quyền sở tại về vấn đề quyền sở hữu và quyền sử dụng tòa nhà kế cạnh tòa giám mục, nơi mà, trong nhiều năm, đã là nơi làm việc của Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh ở Việt Nam.

    Tôi tràn đầy thán phục lòng quí mến nhiệt tình và sự gắn bó sâu xa của hàng ngàn giáo dân với Giáo hội và với Tòa Thánh vì họ đã liên tục biểu lộ bằng cách hòa nhã tụ họp nhau lại để cầu nguyện trước tòa nhà này, nơi đã trở thành một biểu tượng, để xin cho các cấp Lãnh Ðạo Dân Sự được biết xét đến những khẩn thiết của cộng đoàn công giáo.

    Nhưng, đàng khác, sự kiện mà những cuộc tụ họp như vậy cứ tiếp diễn không khỏi gây ra những lo lắng, bởi vì, như đã thường xẩy ra trong những trường hợp tương tự, có thể có nguy hiểm thực sự là người ta sẽ không kiểm soát được tình thế, khiến nó có thể biến thành biểu tình bạo ngôn hay bạo lực.

    Bởi vậy, nhân danh Ðức Thánh Cha, luôn luôn được thông tin về diễn biến của tình thế, tôi xin Ðức Cha can thiệp để người ta tránh những hành vi có thể gây xáo trộn trật tự công cộng mà có thể trở về trạng thái bình thường. Và như vậy, trong một bầu khí trang nghiêm hơn, có thể lại tiếp tục đối thoại được với Chính Quyền, hầu tìm được một giải pháp thích ứng cho vấn đề tế nhị này.

    Tôi xin cam đoan với Ðức Cha rằng về phần minh, Tòa Thánh, đã luôn làm như vậy, sẽ không bỏ lỡ việc giải thích cho Chính Phủ của quê hương Ðức Cha, những nguyện vọng chính đáng của người công giáo việt nam.

    Xin cám ơn sự cộng tác của Ðức Cha và Xin Ðức Cha nhận nơi đây lòng chân thành của tôi.

    Hồng Y Tarcisio BERTONE
    (đã ký)
    Ký tên Hồng Y Tarcisio Bertone,
    Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh

     

    5.2. Tiếp theo là lá thư của Đức Tổng Giám mục Hà Nội như sau:

     

    Kính gửi
    Các linh mục, tu sĩ, chủng sinh
    Và anh chị em giáo dân Tổng Giáo phận Hà Nội

    Hà Nội ngày 01 tháng 02 năm 2008
    Anh chị em thân mến,

    Hơn bốn mươi ngày qua chúng ta đã sống một lễ Hiện Xuống mới. Mọi người đồng tâm nhất trí với nhau, chuyên tâm cầu nguyện và hăng hái rao giảng Tin mừng hòa bình, bất chấp những khó khăn gian khổ, tạo nên một bầu khí hiệp thông rộng lớn không chỉ trong tổng giáo phận mà còn khắp nơi trên thế giới. Chưa bao giờ lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội dâng cao như thế. Chưa bao giờ tình cảm gắn bó giữa chủ chăn và đoàn chiên chặt chẽ đến thế. Chưa bao giờ tình bác ái huynh đệ chan hòa nồng nàn đến thế. Chưa bao giờ lời cầu nguyện chung cho lợi ích của Giáo hội tha thiết đến thế. Thật là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho chúng ta. Tôi không ngừng tạ ơn Chúa và cám ơn anh chị em về hồng ân cao quí này.

    Nhờ lời cầu nguyện tha thiết của anh chị em, công việc đã có kết qủa. Sau những căng thẳng, đã có đối thoại giữa Tòa Tổng Giám mục và Hội Đồng Giám mục Việt Nam với các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà Nước để đi đến một giải pháp tốt đẹp. Giải pháp này sẽ thực hiện qua những bước cụ thể trong tôn trọng lẫn nhau theo ý kiến của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Bước đầu tiên vừa hoàn thành đó là dịch vụ kinh doanh đóng cửa quán phở, giáo dân tháo gỡ lều bạt và cung nghinh Thánh giá về. Bước đầu tiên này cũng phù hợp vì hiện nay trời rất lạnh và anh chị em phải chuẩn bị đón Tết. Tôi không đành lòng nhìn thấy anh chị em phải lạnh giá giữa trời mùa đông rét mướt.

    Tuy không thường trực ở bên cạnh Đức Mẹ, nhưng xin anh chị em hãy giữ vững tinh thần cầu nguyện. Hãy cầu nguyện liên lỉ. Hãy cầu nguyện kiên trì. Hãy cầu nguyện tha thiết. Và hãy tin rằng tôi luôn ở bên anh chị em và mọi người ở mọi nơi cũng luôn ở bên chúng ta. Qua bức thư hiệp thông của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, anh chị em cũng biết rằng Đức Thánh Cha Bênêđichtô và Tòa Thánh luôn ở bên chúng ta. Và kết quả cuối cùng sẽ tốt đẹp như lòng chúng ta mong ước.

    Tôi nhiệt liệt ca ngợi sự can đảm trước mọi gian khó, tinh thần cầu nguyện sâu xa, tinh thần bác ái hòa bình và đức tin mãnh liệt sống động của anh chị em. Nhân dịp Xuân Mậu Tý, xin chúc anh chị em hưởng một mùa xuân tràn đầy ơn thánh Chúa, tràn đầy niềm bình an và niềm tin tưởng Chúa ban cho chúng ta những điều chúng ta đang tha thiết cầu xin.

    Thân ái chào anh chị em
    (Ký tên)
    + Giuse Ngô quang Kiệt
    Tổng Giám mục Hà nội

    *

     

    VI. Tạm Kết Thúc Một Chặng Đường

    6.1.Tuy không có ai được xem môt văn bản chính thức nào về phía chính quyền hoặc văn bản giữa nhà cầm quyền và Giáo hội Công giáo về việc trả lại Tòa Khâm Sứ, nhưng trong chỗ kín đáo người ta nghe có sư thỏa thuận, cho nên mới có việc đóng cửa tiệm phở, khu thương mại và việc sửa chữa căn nhà Tòa Khâm Sứ trước khi trao trả và việc Tòa Tổng Giám Mục cho di chuyển Thánh giá đi, thu dọn lều vải và ngưng việc cầu nguyện đông người. Tượng Đức Mẹ Sầu Bi vẫn để nguyên như cũ.

    6.2. Một linh mục trong TGP Hà Nội khi được hỏi về biến chuyển này, ngài đã cho biết quan điểm như sau: "Quả bóng hiện vẫn đang trong sân của chính quyền. Nếu chính quyền xét đến nhu cầu thực tế của Tổng Giáo Phận và biết tôn trọng pháp luật, thực sự muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và một đất nước dân chủ và văn minh, thì quyết định trả lại nhà đất Toà Khâm Sứ sớm được thực hiện và khi ấy sẽ tốt cho cả Nhà Nước lẫn Giáo hội. Còn nếu vì một lý do nào đấy mà vấn đề không được giải quyết thoả đáng khiến giáo dân mất lòng tin, thì hơn chỗ nào hết trên đất nước này, Toà Khâm Sứ sẽ tiếp tục là một nơi nhạy cảm mau chóng thu hút nhiều giáo dân đến tiếp tục đọc kinh cầu nguyện đêm này cho công lý".

    6.3. Với niềm tin tôn giáo, người tín hữu công giáo tin tưởng vào lời cầu nguyện của mình đem lại kết quả như sở nguyện, dầu rằng đã phải trải qua những khó khăn vất vả. Cũng trong niềm tin đó, người tín hữu chấp nhận thử thách và những lao nhọc như là những bó hoa thiêng dâng lên Đấng Tối Cao đi đôi với lời cầu nguyện của mình. Sự hỗ trợ của nhiều người theo nghĩa thường tình được coi như sự đoàn kết và hỗ trợ rất đáng quý. Nhưng cao hơn một chút, đó là sự hiệp thông giữa con cái Thiên Chúa, bất kể không gian và thời gian.

    6.4. Trong phần mở đầu lá thơ gửi tín hữu, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt viết : “Hơn bốn mươi ngày qua chúng ta đã sống một lễ Hiện Xuống mới”. Câu này làm cho nhiều người nhớ tới con số 40 trong lịch sử Cựu Ước và Tân Ước. Số 40 được coi như một chu kỳ thanh luyện để tiến tới một sự viên mãn: nạn lụt đại hồng thủy kéo dài 40 ngày đêm, dân Do Thái lang thang trong sa mạc 40 năm để trở về đất hứa, ông Maisen cầu nguyện trên núi Sinai 40 đêm ngày để được gặp gỡ Thiên Chúa, vua David được Thiên Chúa cho cai trị Do Thái 40 năm, Ngôn sứ Êlia đi suốt 40 ngày đêm tới Khôrếp là núi của Thiên Chúa, dân thành Ninivê tin lời Giona cảnh báo, ăn chay 40 đêm ngày, được Thiên Chúa bỏ ý định giáng phạt. Chính Chúa Giêsu, trước khi đi rao giảng Tin Mừng cúu độ, đã vào sa mạc ăn chay ròng rã 40 đêm ngày. Từ cõi chết sống lại, Ngài còn ở trần gian 40 ngày trước khi về trời.

    Có chăng một ý nghĩa nào của con số 40 đối với người tín hữu công giáo Hà Nội trong những ngày vừa qua?

    6.5. Sự kết thúc một chặng đường như trên làm cho một số người tỏ ra nghi ngờ, đàm tiếu. Trong quan niệm đấu tranh thuần lý và triệt để, người ta muốn có một kết qủa như trong ước muốn của họ. Đòi hỏi tôn giáo dầu sao cũng khác đấu tranh chính trị thuần túy. Mọi việc phải hành động theo cân nhắc của lương tâm, không vì sự “khích tướng” mà đi vào ngõ cụt. Vả lại, mục tiêu khác nhau nên phương pháp cũng khác nhau. Sau vụ Tòa Khâm Sứ, sự cầu nguyện ở Thái Hà hiện nay có lúc lên tới 7000 chứng minh điều kiên trì và nhẫn nại đó. Vấn đề còn lại là nội lực, ý chí và sự cân nhắc của mình để có những bước kế tiếp.

    *

     

    VII. Những Vấn Đề Lớn Còn Lại

     

    7.1. Đây là kết thúc bước một của việc cầu nguyện đòi công lý với bao hy sinh, tâm sức. Bước thứ hai là hiệp nhất để yêu cầu nhà cầm quyền giải quyết những vấn đề nóng bỏng đang xảy ra ở Thái Hà, Hà Đông, 11 Nguyễn Du, Sai gòn và đất đai dòng Thánh Giuse ở Nha Trang. Sau đó là toàn bộ đất đai của Giáo hội ở các Giáo phận phải được đặt trên cán cân công lý phù hợp với sự tiến bộ và hội nhập với thế giới văn minh của loài người.

    7.2. Bước chính yếu trong trách nhiện của Hội Đồng Giám mục và sự hỗ trợ của Tòa Thánh Vatican là lấy lại đất Trung Tâm La Vang và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. Xin nhắc lại, sau cuộc họp thường niên năm 2005, Hội đồng Giám mục đã làm một văn thư gởi Chủ tịch Nhà Nước và Thủ Tướng Chính phủ, chính thức đề nghị trả lại: Tòa Khâm Sứ, Trung tâm Thánh Mẫu La Vang và Giáo hoàng Học viện Đà Lạt. Xin tóm lược vài chi tiết khởi đầu:

    La Vang : Bài trình bày về Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang do Đức Cha Phanxicô Xavie Lê Văn Hồng, Giám Mục Phụ Tá TGP Huế đọc tại La Vang ngày 01 tháng 12 năm 2005, dịp Đức Hồng Y Crescenzio Sepe đến kính viếng La Vang có đoạn: “Đất của Thánh Địa La Vang gồm 23,5588 ha. Đây là đất đai mà từ trước đến nay, thuộc quyền sở hữu rõ ràng của Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang. Các tài liệu văn bản pháp lý vẫn còn được giữ lại để chứng minh điều nầy. Nhiều lần, Đức Tổng Giám Mục Huế đã yêu cầu Chính Quyền trả lại cho Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang toàn quốc toàn bộ số đất nói trên để đáp ứng nhu cầu tối cần thiết trong các kỳ Đại Hội hành hương. Cho đến nay, vấn đề chưa được giải quyết.”

    Giáo Hòang Học Viện :. Năm 1957-1958, Linh mục Ferdinand Lacretelle lên Đà Lạt lập Giáo Hoàng Chủng Viện. Chủng viện này được xây dựng quy mô vào năm 1961 và đổi tên là Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X. Ban Giáo sư của GHHV gồm 8-10 quốc tịch khác nhau, hầu hết là tu sĩ Dòng Tên.

    Từ niên khóa 1963-1964, Học viện chuyển tới cơ sở mới toạ lạc ở số 13 đường Đinh Tiên Hoàng, Đà Lạt. Khuôn viên này bao trùm trên một diện tích rộng gần 8 mẫu tây. Cơ sở mới là toà nhà cao tầng bề thế, khang trang, do kiến trúc sư Tô Công Văn vẽ kiểu. Công trình xây dựng xong ngày 22 tháng 4 năm 1964. Khâm sứ Mario Brini được vinh dự đặt viên đá đầu tiên ngày 01.8.1961 và được Đức Ông Francesco De Nittis, Đại diện Tòa Khâm sứ, khánh thành ngày 23.4.1964. Ngày 9.8.1977 Học viện giải tán. Năm 1980 Nhà Nước Cộng Sản trưng dụng cơ sở.

    Tiến trình đòi hỏi cho công lý chắc còn nhiều cam go.

    5.2.2008

     

    -------------------------------------------

    Tài liệu tham khảo 

    -    Vũ Bằng,Vũ Thanh Bình, Nguyễn Thanh Bình, Thợ Gặt, Lê Tuấn Huy, HP, Hồng Phong, Minh Tâm, Thành Tâm, Đặng Nhật Trình, Trần Ngọc Huấn, v.v. trong Website Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

    -    Blog : Câu Lạc Bộ Báo Tự Do, Chứng Nhân Tình Yêu, Justice et Paix, Tòa Khâm Sứ Hà Nội, Nhân Quyền và Công Lý, TS Lê Tuấn Huy, Tạ Phong Tân v.v

    -    VietCatholic

    -    AP, AFP, EDA, Asia News, UCAN, La Croix, Zenit, CWN, Reuters, AWN, Whashington Post.

    -    BBC, RFI, RFA, VOA, Radio Vatican..

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý (5)

     

    IV. Phản Ứng Của Các Cơ Quan Truyền Thông Quốc Tế Và Người Việt Hải Ngọai

    4.1. Truyền thông là những hình thức thông tin và đối thoại giữa con người với nhau gồm báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, cả chính thức và không chính thức. Về vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội, truyền thông quốc tế đã đóng một vai trò hết sức quan trọng thể hiện qua những bản tin hàng ngày. Chị giáo dân người Mường vừa bị vây đánh thì 5 phút sau là cả thế giới đã nhìn thấy. Sau đây là một số mẩu tin tiêu biểu, kể từ đầu năm 2008 :

     

    3.1. 08

    - UCAN : Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet of Ha Noi considers Prime Minister   Nguyen Tan Dung’s informal visit to him and the former apostolic nunciature a “positive sign” of the government’s concern about religious issues.

    On the morning of Dec. 30, Dung unexpectedly visited Archbishop Kiet at his residence and also went to the nearby former nunciature.

     

    - Richard Chiola, Catholic Times : In another event, on-going mass protests, a scare phenomenon in the Socialist Republic of Vietnam, out broke in Hanoi drawing thousands Catholics to the street. The demonstrators have asked that the Church properties seized illegally by the government should be returned to them.

     

    6.1. 08

    BBC : Tăng áp lực trong vụ Tòa Khâm Sứ.

    Hàng trăm người theo Công giáo tiếp tục thắp nến cầu nguyện bên ngoài nơi từng là tòa Khâm sứ tại số 40 Nhà Chung, Hà Nội, trong dịp cuối tuần này.

    - AFP : Hundreds of Vietnamese Catholic Christians held prayer vigils in the capital at the weekend, the latest in a series asking for the return of church land seized by the communists half a century ago.

    - Asia News : The peaceful protests of Catholics in Hanoi continues. They are asking that a building that was the seat of the Apostolic Delegation, taken by the public authorities and currently used as a night club, as well as its gardens which have been transformed into a private car park for state officials. Gathered around the gates of the compound the faithful pray, lay flowers and hold candle-light vigils.

    - EDA N°476 :La communauté catholique de Hanoi occupe pacifiquement une propriété du diocèse confisquée par l’État depuis plus de 48 ans.

    .- BosNewsLife: In a show of defiance to the Communist government of Vietnam, an estimated hundreds of Catholics held prayer vigils in the capital Hanoi this weekend, asking for the return of church land seized by authorities half a century ago, following several other demonstrations against land seizures.

     

    9.1. 08

    - Zenit : Des travaux accomplis sur la propriété d’une paroisse de Hanoi suscitent les protestations de la communauté catholique, qui fait face à la police, dans la prière.

    - ABC Radio Austrlia  : Hundreds of Vietnamese Catholics have been holding prayer vigils over the past week, seeking the return from the government of Catholic-owned properties. They include land owned by the Thai Ha parish, and an office that once belonged to an Apostolic delegate - both located in Hanoi.

     

    11.1. 08

    - Asia News : Traffic came to a halt in Hanoi after a group of Catholics organised a new form of protest. It happened yesterday when, after a Mass celebrated for the 89th birthday of Card Paul Joseph Pham Đinh Tung, former archbishop of Hanoi, more than a thousand priests, men religious and faithful went in procession to the building that once housed the apostolic delegation that was confiscated by the authorities and is currently being used as a night club with its garden turned into a parking lot for government officials.

     

    14.1. 08

    - Radio Vatican : Đài phát thanh Vatican lên tiếng về vụ nhà đất Giáo hội Công Giáo Việt Nam

    Nhà nước pháp quyền hay tổ chức tội phạm?

     

    16.1.  08

    - EDA N°477 : Des travaux accomplis sur la propriété d’une paroisse de Hanoi suscitent les protestations de la communauté catholique qui fait face à la police dans la prière. 

    ·   Les chrétiens de Hanoi continuent de prier pour la récupération de l’ancienne Délégation apostolique, alors que la réponse du gouvernement reste incertaine 

    ·   Les autorités municipales élèvent brusquement le ton et demandent à la conférence épiscopale et à l’archevêque de Hanoi de faire cesser les manifestations. 

    ·   Dans une lettre aux autorités municipales de Hô Chi Minh-Ville, le cardinal-archevêque affirme à nouveau les droits de l’Eglise catholique sur une propriété confisquée. 

    ·   Hung Hoa : les autorités empêchent la célébration de Noël dans une église de Son La et arrêtent un prêtre pendant quelques heures. 

    ·    

    23.1.08

    - VOA : Vụ đòi đất Tòa Khâm Sứ: Tiến bộ trong quan hệ Vatican-Việt Nam?

    Nhiều tuần lễ qua, tu sĩ và giáo dân Công Giáo tại Hà Nội đã tập trung cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ Vatican cũ ở ngay trung tâm thủ đô Hà Nội. Đây là một trong số những tài sản của Giáo Hội Công Giáo bị chính quyền cộng sản do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo tịch thu vào năm 1954.

     

    25.1.08

    - AP : Quietly, Vietnam’s Catholic Church is challenging the nation’s government more boldly than it ever has since the communists took power over five decades ago.

    - BBC : Tranh chấp tôn giáo không chỉ về đất. Các tin tức từ Việt Nam cho hay cuộc cầu nguyện đòi đất của giáo dân Việt Nam ở thủ đô Hà Nội đang chuyển sang một giai đoạn mới.

    Buổi dâng hoa trước tượng Đức Mẹ trong khuôn viên tòa nhà của quận Hoàn Kiếm vốn là trụ sở Tòa Khâm Sứ cũ trưa hôm nay, thứ Sáu 25.01 đã diễn ra với một vụ xô xát.

    - Radio Vatican : Những ngọn lửa và lời cầu vượt trùng dương: từ Berlin tới Hà Nội.

    Cách đây 19 năm, ngày 6-11-1989, bức tường Berlin bị phá vỡ tạo ra thế dây chuyền khiến cho chế độ cộng sản theo nhau sụp đổ tại các nước Đông Âu và Liên Xô.

     

    26.1.08

    - AP: Vietnam Catholics Hold Vigil for Land.Thousands of Catholics blocked a busy street in Vietnam’s capital Friday in a rare public demonstration, chanting and praying for the Communist government to return land once owned by the church.

    A priest in a white robe carrying a large cross led a procession of parishioners, accompanied by a marching band, from St. Joseph’s Cathedral in downtown Hanoi to the adjacent site of the former Vatican embassy. MARGIE MASON

     

    27.1.08

    - BBC : Vụ Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội kết thúc ra sao? Vụ việc xảy ra quanh cuộc tranh chấp nhà đất giữa Giáo hội Công giáo ở Hà Nội và chính quyền đang ngày càng thu hút quan tâm của dư luận trong và ngoài nước.

    Mới đây nhất bản tin của VietCatholic News trên mạng nói chính quyền thành phố Hà Nội ra yêu cầu hạn chót là chiều ngày 27.01 phía giáo dân phải “tháo rỡ các ảnh tượng” trong khuôn viên Tòa Khâm Sứ cũ mang về.

    Nguồn tin này nói hôm 26, Ủy ban Nhân dân TPHN gửi văn thư cho Tòa Tổng Giám mục yêu cầu thời hạn cuối cùng là 17 giờ chiều ngày Chủ Nhật nếu không chính quyền sẽ có biện pháp mạnh’ .

    -- EDA N°478 : malgré un ultimatum de la municipalité, les catholiques se pressent à une veillée de prière dans l’ancienne Délégation apostolique.

    Dimanche 27 janvier, à 17 heures, heure fixée aux catholiques de Hanoi par un ultimatum de la municipalité pour vider les lieux, plus de 3000 fidèles accompagnés de leur clergé étaient pacifiquement rassemblés pour prier à l’intérieur de la cour de la Délégation apostolique, dont le portail est désormais ouvert depuis les incidents du vendredi précédent.

     

    28.1. 08

    - AFP : Vietnam’s Catholics keep pressure on communists to return land. Vietnam’s Catholics have increased pressure on the authorities to return church land confiscated more than half a century ago in a rare challenge to the communist government.

    Throughout the weekend, hundreds of protestors have maintained a prayer vigil in front of a house next to St Joseph’s Cathedral in Hanoi, the seat of the church in Vietnam until it was seized after the departure of the French and arrival of the communists in 1954.

    Friday saw an even larger protest, with between 1,500 and 2,000 gathered, according to estimates by priests.

     

    29.1. 08

    - AP : Vietnam Police Probe Church Land Dispute. Police in Vietnam’s capital have launched a criminal investigation into Catholic Church protests over a land dispute, while state-run media accused church leaders Tuesday of abusing their power to incite followers to confront the Communist government.

     

    30.1. 08

    - L’Osservatore Romano : Trong những ngày qua, hàng ngàn người Công giáo, có lúc lên đến hơn 3000 người, đã tụ tập cầu nguyện trên sân của Tòa Khâm Sứ cũ tại Hà Nội để phản đối việc thương mại hóa và yêu cầu tòa nhà đã bị nhà nước chiếm dụng này phải được trả lại cho Giáo hội Công giáo. (lược dịch)

     

    1.2. 08

    - Asia News : The archbishop of Hanoi confirmed yesterday evening that the Vietnamese government is restoring to the Catholic Church the use of the building that housed the apostolic nunciature. In an open letter addressed to the priests, religious, seminarians, and lay faithful of the archdiocese, the archbishop emphasized his appreciation for the solidarity shown “not only by the faithful of the archdiocese of Hanoi, but by the entire world.

    The request made by Hanoi Catholics for the return of the building that once housed the Apostolic Delegation seems to have been answered. Church sources in Vietnam told AsiaNews that the authorities have decided to allow Catholics to use the building “to show their good will and respect for the Pope.” The same sources said that the whole issue should be solved “within days,” perhaps before Tết, the Vietnamese New Year, which falls on 6 February.

    - Reuters: Vietnamese Catholics have ended more than a month of protests in Hanoi aimed at pressing the Communist government for the return of church land seized 50 years ago.

    After talks between church and government officials, the protesters removed on Friday a cross and tents from a one hectare (2.5-acre) piece of mostly-vacant land about a block from St. Joseph’s Cathedral.

     

    2.2. 08


    - BBC : Ngưng biểu tình trước Tòa Khâm Sứ cũ. Tin từ Hà Nội cho hay các giáo dân Công giáo đã chấm dứt cuộc cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ cũ trong lúc một số nguồn gần với Giáo hội tin rằng họ sẽ nhận lại được tòa nhà.

    Bản tin Reuters hôm thứ Bảy 02.02 cho rằng sau những trao đổi giữa Giáo hội và Chính quyền, các giáo dân hôm thứ Sáu đã tháo bỏ các lều dựng tạm ở số 42 Nhà Chung, Hà Nội.

    Sang ngày thứ Bảy công nhân đã sơn lại hàng rào quanh khu sân tòa Khâm Sứ cũ, nơi vị đại sứ cuối cùng của Vatican rời Việt Nam khi những người cộng sản chấm dứt chế độ thực dân Pháp năm 1954-55.

    Trong khi đó, theo các nguồn tin từ phía Công giáo, thư của Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Hồng y Tarcisio Bertone, đã có tác dụng lớn trong việc giải quyết vấn đề.

    4.2. Ở Việt Nam vì không có báo chí tư nhân và độc lập nên việc thông tin lại qua dạng Blog rất phổ biến chuyển tài nhiều tin tức hàng ngày, hàng giờ, thêm vào là phần góp ý, hỏi đáp và chia sẻ. Riêng vụ Tòa Khâm Sứ, người ta có thể đọc tin ở các Blog : Câu Lạc Bộ Báo Tự Do, Chứng Nhân Tình Yêu, Justice et Paix, Tòa Khâm Sứ Hà Nội, Nhân Quyền và Công Lý, TS Lê Tuấn Huy, Tạ Phong Tân v.v.. Tất cả nhờ kỹ thuật tân tiến Internet, nó tạo thành một hệ thống truyền thông không chính thống.

    4.3. Người Việt Hải Ngọai nhận được tin tức và hình ảnh khá đầy đủ từ những website và blog ở bên nhà, đặc biệt trên ViệtCatholic cùng các đài trên thế giới.      

     

     
     

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý (4)

     
     

    Ngày 25.1.2008- Biến Cố Bất Ngờ

    Hôm nay tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, giáo dân cả địa phận về tham dự Lễ mừng ĐHY Phạm Đình Tụng, có cả ĐHY Phạm Minh Mẫn, các đức giám mục và linh mục thuộc nhiều giáo phận về đồng tế thánh lễ. Mỗi giáo xứ trong giáo phận có 10 đại biểu, cộng thêm giáo dân Hà Nội dự lễ cỡ chừng 3000 người. Cuộc lễ hết sức nghiêm trang và sốt sắng.

    Trước thánh lễ có chừng 2000 người đã hăng hái đến cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ.

    Sau thánh lễ có khoảng 100 linh mục và cả trên 2000 giáo dân lại kéo sang Tòa Khâm Sứ cầu nguyện nữa. Đang khi dân chúng đứng trước cổng Tòa Khâm Sứ cầu nguyện thì có mấy người giáo dân, đặc biệt là một phụ nữ người Mường leo cổng nhảy vào bên trong để dâng hoa cho Đức Mẹ thì bị bảo vệ đánh chảy máu đầu, lôi chị vào một góc quán phở hết sức hung dữ và bạt tai chị. Cả ngàn người nôn nóng nhìn theo, những tiếng thét từ trong nhà “Văn hóa” hay quán phở gần đó thét lên lanh lảnh “đánh chết nó đi” càng làm cho giáo dân sốt ruột. Một thanh niên đã vượt hàng rào vào ứng cứu chị, lại một “đàn hổ đói” khác đã bẻ ngược tay anh, kéo vào phía quán phở và diễn trò đánh hội đồng vào bụng, ngực… đập đầu vào tường đến chảy máu tai.

    Hàng loạt giáo dân đã phải chạy đến cổng phía sau quán phở nơi anh thanh niên đang bị đánh, chiêng trống gõ liên hồi náo động. Mấy công an đứng canh chừng để một bọn đánh đập dã man người thanh niên sau cánh cổng, họ còn chửi một cách hỗn láo với những người yêu cầu họ thả người ra. Cơn phẫn uất như không kìm nén thêm, giáo dân đã phải đạp tung cửa bịt tôn để chui vào cứu người.

    Một số người khác vào theo quay phim, chụp ảnh thì bị công an rượt đuổi và thu máy quay phim, máy chụp ảnh và điện thoại, giáo dân đứng ngoài thấy vậy liền chui vào đánh lại bảo vệ để cứu người ra. Trong những người bị đánh trọng thương nghe tin rằng có luật sư Lê Quốc Quân và một phụ nữ. Một số giáo dân khác bị lực lượng an ninh đánh trọng thương, bà con đã phải đưa đi bệnh viện cấp cứu.

    Tình hình nguy cấp, thế là cuối cùng giáo dân phá cửa sắt ùa vào bên trong, dựng một cây Thánh giá bằng sắt cao chừng 4 m.

    Cảnh tượng công an và bảo vệ rượt đuổi bắt người, những cảnh xô đẩy và đánh người ngoạn mục!

    Tại hiện trường Tòa Khâm Sứ cho đến lúc 3 giờ chiều, nhiều linh mục và bà con giáo dân vẫn tiếp tục cầu nguyện, chưa dùng bữa trưa. Linh mục Quế (linh mục chính xứ Thạch Bích và đặc trách mục vụ cho người Mường ở vùng Hòa Bình) và các LM Ly, Ruẫn và Phương cùng giáo dân nhất định ở lại hiện trường đòi công an phải trả lại máy quay phim, máy chụp và điện thoại mà họ đã tịch thu của giáo dân, nếu không trả lại nhất quyết không chịu về.

    Hiện tình tại Tòa Khâm Sứ vô cùng căng thẳng và bi đát... Cảnh sát liên tục tuốn đến Tòa Khâm Sứ nhiều vô kể...

    Máy hình và điện thoại di động của một trong những phóng viên cũng đã bị công an tịch thu! Tuy nhiên, cũng có người thu thập được những hình ảnh từ các người quen biết khác về những cảnh công an rượt đuổi bắt người và đánh đập dân chúng để trình bầy cho cả thế giới biết sự đàn áp trắng trợn những người dân hiền lành bị đánh đập chỉ vì họ cầu nguyện cho công lý.

     

    Ngày 26.1.2008

    Buổi sáng tình hình tương đối yên ả. Giữa buổi sáng có mấy người đến đo vẽ hai cánh cổng đã bị đổ sập. Sau đó, có một số cán bộ quân báo, người mặc quân phục, người không tới thăm hiện trường. Các cụ hỏi anh ở đâu thì một anh nói rõ là mình ở bên tình báo quân đội. Trong khi mấy anh này vào nghe ngóng xem xét và chụp hình thì nhiều anh khác mang quân phục đứng ở bên ngoài phố.

    Sau đó, quãng gần trưa có bà Phó Chủ tịch Phường sở tại cùng đoàn tuỳ tùng gần chục người vào làm công tác dân vận nhóm giáo dân đang cầu nguyện ở hiện trường nhưng giáo dân đã làm nhóm cán bộ này thất vọng.

    Chiều nay có ông Giám đốc Công an Thành phố tới thăm hiện trường. Cả ông Chủ tịch, Phó Chủ tịch MTTQ Trung ương, Chủ tich MTTQ Thành phố Hà Nội cũng đến đáo qua hiện trường từ xe hơi, rồi vào trong căn nhà bên phía kia đường thuộc Trung Tâm Bồi Dưỡng Chính Trị quận Hoàn Kiếm.

    Trong khi đó, các đoàn cán bộ thành phố vào Tòa Giám mục. Có đoàn do ông Chủ tịch Quận Hoàng Công Khôi dẫn đầu khoảng gần một chục người. Có một đoàn cán bộ từ UBND khá đông cũng vào lúc xế chiều. Có đoàn Cán bộ Tôn giáo có hai người vào khi trời gần tối. Không biết kết quả trao đổi đi đến đâu và về vấn đề gì?

    Nhưng chiều tối nay, ở nhà thờ trong thành phố đã đọc thông báo của LM Quản Hạt Hà Nội. Thông báo này cho biết rằng: UBND Thành phố Hà Nội, qua văn thư số  673/UBND-VX, đã ra hạn chót 17 giờ chiều mai chủ nhật 27.01.08 phải đưa ảnh tượng ra khỏi Toà Khâm Sứ và phải chấm dứt cầu nguyện tại đây. Thông báo xin anh chị em giáo dân tiếp tục hiệp nhất với nhau cầu nguyện và hy sinh để nguyện vọng xin lại nhà đất Toà Khâm Sứ của Giáo hội được đáp ứng.

    Giờ này gần 21 giờ đêm, các tu sỹ và giáo dân vẫn đang cầu nguyện. Giáo dân ở đây còn khá đông. Một số người đang đi bịt lều bạt chắn gió chuẩn bị cho chỗ ngủ buổi tối. Một số rát giường đã được mang ra đặt xuống đất, trải chiếu lên để nằm. Chăn đệm vẫn còn thiếu nhiều. Thức ăn bà con mua là bánh mì. Cũng còn một ít cơm đang để đó nhưng đã mau chóng bị lạnh ngắt bởi thời tiết.

     

    Ngày 27.1.2008 – Trước Sau Giờ G

    Từ sáng tới chiều hai bên sống trong căng thẳng. Phố Nhà Chung, khu vực trước quảng trường Nhà Thờ Lớn và nhất là khu vực Toà Giám Mục-Toà Khâm Sứ đông như hội. Người và xe nườm nườm qua lại. Công an nhiều mà giáo dân cũng lắm. Chẳng ai có thể phân biệt được ai là giáo dân và ai là giáo gian.

    Khoảng 15 giờ chiều, các nữ tu và các bà bắt đầu ngồi quây tròn quanh Thánh giá đọc kinh, cầu nguyện và hát thánh ca. Lời kinh rộn ràng kéo dài triền miên.

    Càng về chiều, số người đổ về Toà Giám mục càng đông. Tới 17 giờ, giờ cưỡng chế theo văn thư đã được ban hành, số người đông đến mức cao điểm. Không kể số tín hữu trong thành phố kéo về từ các giáo xứ trong thành phố, người ta còn thấy các tín hữu từ các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hà Tây cũng về. Có các các tín hữu thuộc các giáo xứ của Giáo phận Bắc Ninh và Thái Bình. Họ đi bằng xe máy, xe hơi và xe khách.

    Các linh mục trong Giáo phận Hà Nội cũng về đông. Hình như hôm nay nhiều thánh lễ trong thành phố được huỷ bỏ. Các linh mục từ Hà Nam, Nam Định, Hà Tây có mặt ở đây. Người ta thấy các gương mặt quen thuộc : LM Văn, LM Xuyên, LM Tuấn (Hà Nam), LM Cảnh, LM Khang (Nam Định), LM Pháp ( Hà Tây), LM Hoà ( Hà Nội), vv.

    Các máy quay phim và chụp hình bắt đầu chớp lia lịa. Mọi người chờ đợi sự cưỡng chế của các lực lượng công an tiến vào. Theo nguồn tin được biết thì quân đội từ chối tham gia vụ trấn áp này. Nếu quân đội đến đây thì sẽ có một cuộc đổ máu nặng nề. Lý do là khi thấy binh lính với súng ống đạn dược đầy đủ thì đoàn người đông đảo này khó mà giữ được bình tĩnh và có thể sẽ có phản tứng tự vệ một khi sự ức chế bị dồn nén tới cao độ. Công an thì rất đông. Các barie hai đầu phố vẫn sẵn sàng được chắn xuống. Các quan chức công an điện thoại liên tục để nhận lệnh hay để phối hợp hành động. Các giáo dân cũng điện thọai liên tục để trả lời liên tục cho những người ở nhà. Một số nhân viên đại sứ quán cũng có mặt. Một số đài báo gọi điện thọai cho những người liên hệ để phỏng vấn tại hiện trường qua điện thọai viễn liên.

    Lúc 17 giờ không khí cực kỳ căng thẳng. Chỉ cần một xô xát hay một đụng chạm nhỏ thì nơi này khó mà có thể vãn hồi được trật tự và khó tránh khỏi đổ máu khi một bên đã sãn sàng đàn áp và một bên đã sẵn sàng chết. Phía trước các nữ tu và các bà lớn tuổi vây quanh Thánh giá hầu như không biết chuyện gì khác ngoài việc say sưa cầu nguyện. Phía sau nhiều thiếu nhi, thanh niên và trung niên đứng cầu nguyện hoặc trao đổi nhẹ nhàng những chuyện gì đó. Nhiều người còn quan sát và bình luận.

    Đúng 17 giờ không có sự gì khác thường xảy ra,18 giờ cũng thế, 18 giờ 15 nhiều người bắt đầu ra nhà thờ cầu nguyện. Phần lớn những người này đến từ các giáo xứ trong thành phố. Số ở lại phần nhiều là người về từ các tỉnh. Họ không ra nhà thờ đi lễ vì họ đã đi từ sáng ở quê họ.

    Trong nhà thờ đông chưa từng thấy. Đông hơn hôm lễ đức hồng y rất nhiều. Họ ngồi tràn ra lối đi hai bên nhà thờ, lối đi sang Toà Giám mục và nhất là ở quảng trường Nhà Thờ. Một màn hình lớn đã được dựng lên để truyền hình ra bên ngoài. Có 3 linh mục đồng tế: LM Lý, Quản Hạt Hà Nội, làm chủ tế, LM Lương, Chính xứ Chính Toà và một LM DCCT đồng tế. Thánh lễ diễn ra trong bầu khí khá hồi hộp và căng thẳng. LM DCCT chia sẻ lời Chúa. Ngài nói trong khoảng 15 phút. Đấy là một bài giảng đúng lời Chúa trong phụng vụ chủ nhật hôm nay và cũng hợp với hoàn cảnh đang diễn ra ở Toà Khâm Sứ. Ngài nói đến việc phải sám hối, nhất là sám hối vì mình đã sử dụng bạo lực trong ngôn ngữ và hành động. Bạo lực từ gia đình ra xã hội. Bạo lực của kẻ mạnh với kẻ yếu. Ngài nói Chúa Giêsu đã chấp nhận chết như con chiên bị đưa đến lò sát sinh mà vẫn im lặng không kêu ca phàn nàn, thì các môn đệ của Chúa cũng phải sống như vây. Phải sống hoà hợp trong niềm tin và trong tình yêu. Ngài cũng nói đến việc phải hiệp nhất nên một với nhau trong Chúa trong một tâm tình, một đức tin, một lòng mến. Hiệp nhất nơi chính mình, hiệp nhất với tha nhân và hiệp nhất với Chúa Trời. Sự hiệp nhất thể hiện cụ thể là tất cả cùng hiệp nhất với vị chủ chăn của mình là cha xứ và là đức tổng giám mục. Càng trong lúc khó khăn càng phải hiệp nhất. Ngài nói bằng cung giọng nhẹ nhàng, vui tươi, bình an và phấn khởi.

    Xong rồi tất cả lại cùng nhau sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện. Tại nhà thờ LM Lý nhắc lại yêu cầu phải cầu nguyện trong hoà bình và nghiêm cấm mọi hành vi bạo động. Tới Toà Khâm Sứ, họ chưa cầu nguyện ngay. Họ im lặng đến 10 phút. 10 phút nghẹt thở với nhiều người. Sau đó, trước tượng Đức Mẹ Sầu Bi, LM DCCT lại nhắc lại lần nữa trên loa phóng thanh tinh thần của buổi cầu nguyện.

    Khoảng hơn 3000 người đã tham gia giờ cầu nguyện này. Họ cầu nguyện trọng thể khoảng nửa tiếng rồi kết thúc. Nhiều người ra về. Những người khác lại bắt đầu một giờ cầu nguyện mới.

    Vẫn chưa có gì xảy ra. Nhiều người cầu nguyện mãi họ lại lui ra phía sau đứng nói chuyện với những người thân quen. Hôm nay Toà Khâm Sứ là điểm hẹn của toàn giáo phận, dù chưa thấy có lời kêu gọi từ Toà Giám mục, vậy mà giáo dân giáo sĩ cũng tự động kéo về, mới biết sự đoàn kết, hiệp nhất trong gian nan của cộng đồng công giáo Hà Nội là mạnh mẽ biết dường nào.

    Từ 20 giờ loa phóng thanh to hơn thường. 22 giờ trên hiện trường còn khoảng 500 người. Một nhóm thanh niên đang dựng thêm lều bạt trên sân. 23 giơ còn khoảng 400 ngừơi. Liệu lời cầu nguyện có làm thay đổi được quyết định cưỡng chế giải toả cầu nguyện?

     

    Ngày 28.1.2008

    Đêm qua dựng thêm một lều lớn. Trời mưa nặng hạt hơn và vì thế giá buốt hơn. Ba lều bạt lớn và một mái che không đủ để chứa hết mấy trăm con người dù là ngồi chen chúc cho ấm. Chăn màn thiếu nghiêm trọng vì số người ở lại quá nhiều.

    Khoảng hơn 11 giờ đêm các cảnh sát rút dần. Chỉ còn một số ít ở trong Trung tâm Chính trị, phía bên kia phố Nhà Chung, gần đối diện khu đất. Các xe cảnh sát ở đầu các con phố gần đó đã không còn.

    Lúc này gần 6 giờ sáng, các nữ tu đang chuẩn bị đồ ăn sáng cho nam nữ tu sĩ và giáo dân ở lại qua đêm. Khung cảnh tĩnh mịch và vắng lặng. Tuyệt nhiên không có một cảnh sát nào.

    Lúc hơn 6 giờ, khi lễ ở nhà thờ xong, cộng đoàn lại ra đọc kinh rộn ràng và một ngày mới bắt đầu. Chưa biết hôm nay sự thể sẽ sao, nhưng mọi người biết rằng giáo dân lại bắt đầu một ngày trong tỉnh thức, cầu nguyện và hy sinh.

     

    Ngày 29.1.2008

    Chiều 29 trôi qua trong an bình. Các nhân viên Đài Truyền hình Hà Nội mai phục quay phim gần hết buổi chiều. Nhưng chỉ thấy giáo dân trật tự ngồi đọc kinh cầu nguyện mà thôi. Còn một số khác đứng xa xa để hiệp thông và lo các việc phục vụ. Số này hầu hết là các ông, các anh đạo đức nhiệt thành thuộc các nhóm tông đồ trong thành phố.

    Báo động được loan đi, lập tức các xe máy và taxi đổ về nườm nượp. Các linh mục trong thành phố cũng có mặt. Có LM Quản Hạt Hà Nội, chính xứ Hàm Long vừa ở khu vực về Hàm Long, nhận đựơc tin báo lập tực lại đi xe ôm lên ngay. Các LM bên nhà thờ Thái Hà cũng chạy sang đông đủ.

    Chỉ khoảng hơn nửa tiếng sau từ chỗ còn vài chục người hiện diện đã lên đến khoảng 500 người. Rất nhiều học sinh sinh viên được nghỉ tết nghe tin báo cũng đã chạy đến hiện trường, từ là các bạn sinh viên Vinh, Thanh Hoá, Hà Nam, Phát Diệm, Bùi Chu. Mà số nữ lại đông hơn số nam. Các đệ tử của các dòng tu nữ trong thành phố cũng đến.

    Càng về chiều trời càng rét, người đến càng đông. Các nữ tu Dòng MTG lúc nào cũng tất bật với công việc phục vụ. Vậy mà giữa lúc ấy lại phải tiếp đại diện Phòng An ninh Thành phố vào chúc tết.

    Đêm về giữa lúc một số các bà ở Tràng Duệ đang mải miết đọc kinh thì một thành viên trong Nhóm Thánh Tâm chở đến một xe tải củi đốt.

    Một bà cụ bên Quận Tây Hồ đưa sang một thúng xôi nóng và bảo rằng cháu bà làm nghề bán xôi và may mắn có dịp như thế này bà và cháu bà mới được dịp “cúng một thúng xôi”. Trông bà rất phúc hậu và đầy ắp những nét xưa.

    Các ông, các anh giáo xứ Nhà Thờ Chính Toà do LM Trần Duy Lương làm Chính xứ,  không biết kiếm đâu được tấm bạt lớn, đang dựng thêm một lều ở cạnh tường rào ngăn cách với Toà Giám Mục.

    Công An Hà nội cho biết Công An Quận Hoàn Kiếm ra Quyết định khởi tố số 60/CAHK ngày 26.01.2008 về hình sự ‘Hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ’ xảy ra tại nơi trước đây là Tòa Khâm Sứ. Đức Cha Ngô Quang Kiệt cho biết: nếu có phải đi tù, thì chính Đức Cha phải đi vì Đức Cha đã yêu cầu họ cầu nguyện cho việc đòi trả Tòa Khâm sứ cũ.

     

    Ngày 30.1.2008

    Buổi sáng thấy phái đoàn của MTTQ Trung ương từ Tòa TGM đi ra. Chắc là họ vào chúc tết Tòa Tổng Giám mục Hà Nội.

    Khá đông giáo dân từ một số giáo xứ về Tòa Giám mục để chúc tết Đức TGM và cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ. Một nhóm các ông của Giáo xứ Lưu Xá, Hà Tây vừa về, thì lại có một nhóm khác ra thay còn đông hơn, vừa đàn ông vừa đàn bà. Tinh thần cầu nguyện và hy sinh của họ khiến những người sống Hà Nội, còn phải hổ thẹn.

    Mưa hầu như cả ngày. Hôm nay mưa to hơn hôm qua. Mặc dù vậy lời cầu nguyện vẫn không khi nào dứt và mấy đống lửa vẫn không lúc nào thôi đỏ rực.

    Đức Giám mục Lạng Sơn, Giuse Đặng Đức Ngân, người có tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ trong việc đòi đất Tòa Khâm Sứ, hôm nay cũng về Hà Nội cùng một đoàn khá đông linh mục và giáo dân. Ngài cùng LM Trần Duy Lương ra cầu nguyện trước Đức Mẹ Sầu Bi và trước Thánh giá rồi thăm hỏi giáo dân.

    Hôm nay báo đài vẫn tiếp tục vu khống và xuyên tạc. Không chỉ là cấp thành phố nữa mà cả báo đài cấp trung ương. Giáo dân xem xong các chương trình này lòng càng bức xúc hơn nữa.
    Buổi chiều các công an đến lắp thêm mấy máy quay phim tự động, loại hiện đại mà theo các chuyên viên hiểu biết thì loại này có thể theo dõi hiện trường từ trung tâm rất xa.

    Đêm nay, trời rét hơn, số lều bạt không đủ chỗ cho người nghỉ đêm, cho nên họ cứ ngồi quanh đống lửa cầu nguyện. Lúc khoảng 22 giờ đêm, một ca đoàn đến hát thánh ca và dâng hương rất hoành tráng và sốt sắng. Giáo dân thay nhau say sưa cầu nguyện  không lúc nào ngừng.

    Suốt đêm vẫn thấy bóng một số sinh viên âm thầm phục vụ. Hơn 2 giờ sáng họ còn đi xúc than hồng đổ quanh các lều bạt để giữ ấm cho những giáo dân đang ngủ bên trong lều. Họ đi kiếm những tấm chắn về để chặn cho lều được chắc hơn và gió bớt lùa vào hơn. Họ giữ trật tự vệ sinh và hương nến trong đêm cũng như nhắc nhở mọi người những chuyện cần thiết. Họ thật là thiên thần của khu vực Tòa Khâm Sứ về đêm. Đấy là những người hiểu hơn ai hết nỗi lòng và mong muốn đối với Giáo hội và quê hương của các giáo dân đến nơi đây cầu nguyện. Hiện tại và tương lai Giáo hội có lẽ sẽ thuộc về những con người như họ.

     

    Xem tiếp ...

     

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý (3)

    Nguyễn Đức Tuyên, tóm lược
     

    Ngày 6.1.2008

    Có một chị bảo có nhà cái anh kia cứ đeo bám nàng mãi khiến nàng quay lại nói rằng: “Chỉ có là con vật anh mới làm như vậy!”. Ơ hay nhà cái chị này, người ta thấy chị có duyên người ta theo. Hoá ra người ta, theo chị phỏng đoán, là một nhân viên an ninh!

    Buổi sáng, sau thánh lễ, giáo dân vẫn ra cầu nguyện như thường lệ. Số người cầu nguyện ban sáng hầu hết là những người lớn tuổi mà hầu hết là giáo dân Nhà Thờ Lớn.

    Giờ cầu nguyện đông đảo nhất diễn ra lúc 19 giờ. Thánh lễ 18 giờ hôm nay do LM Antôn Trần Duy Lương chủ tế, LM Giuse Nguyễn Ngọc Hinh, Chính xứ Phùng Khoang, chia sẻ lời Chúa. LM Phêrô Phạm Xuân Lộc, DCCT Thái Hà cũng có mặt đồng tế trong thánh lễ.

    Đức Tổng Giám mục đã viết giấy gửi ra kêu gọi các giáo xứ trong thành phố cầu nguyện cho Thái Hà hiện đang gặp khó khăn.

    Buổi cầu nguyện hôm nay chỉ có khoảng 500 người tham dự. Càng ngày việc chuẩn bị và tổ chức cầu nguyện càng chu đáo, tươm tất hơn. Sự phối hợp nhịp nhàng làm cho lời kinh tiếng hát cũng sốt sáng hơn. Nghe nói các giáo xứ phụ trách đã in 1000 tờ chương trình và nội dung cầu nguyện tại Toà Khâm Sứ. Nhưng mới chỉ phát hết có khoảng 500 bản.

    Giờ cầu nguyện kéo dài khoảng 45 phút. Cộng đoàn hát nhiều hơn mọi khi.

     

    Ngày 7.1.2008

    Một em bé được mẹ dẫn đến trước Toà Khâm Sứ, cả hai mẹ con cùng đứng cầu nguyện một hồi lâu, em bé tuy còn nhỏ nhưng cũng đọc kinh thật sốt sắng. Hai mẹ con có một bó hoa muốn dâng Đức Mẹ Sầu Bi nhưng không có cách nào mang vào bên trong sân được. Em bé đã khiến những người chứng kiến thật cảm động khi chỉ cho mẹ thấy một khe hở nhỏ ở bên dưới tường rào đã được khoá và chèn cẩn thận bằng những tảng bê tông lớn, em đã mạnh dạn "chui" qua đó vào trong sân. Đang khi mẹ em còn ngần ngại thì em nói "mẹ, đưa hoa cho con mang vào cho Bà Đẹp", lời nói cùng với hành động thật dễ thương nhưng cũng đầy mạnh mẽ.

    Em ôm bó hoa vào được đến nửa sân trước Toà Khâm Sứ thì có bốn năm chú công an và bảo vệ từ trong đi ra. Họ lên tiếng doạ nạt, quát mắng nhưng em bé vẫn đi vào, họ doạ đánh, em vẫn hồn nhiên "vác" hoa vào, đến khi họ đẩy ra thì em mới sợ mà đặt bó hoa xuống và chạy ra với mẹ em đang lo lắng ở ngoài tường rào.

     

    Ngày 12.1.2008

    Hôm nay, sau 1 tháng kể từ hôm Toà Khâm Sứ bị dỡ mái, vấn đề giải quyết vẫn chưa có gì rõ ràng cụ thể. Một tin hành lang cho biết Chính phủ đã ký quyết định trả lại nhà đất ở đây cho Giáo hội. Một tin hành lang khác cho biết Trung tâm Thể dục Thể thao quận Hoàn Kiếm đã cắm đất bên bờ sông Hồng và đang chuẩn bị xây dựng. Người ta ngờ rằng đây là tin vịt nhằm đánh lừa dư luận. Vì các nguồn tin chính thức chưa xác nhận điều này. Hơn nữa, các nguồn tin chính thức từ phía các cán bộ trong bộ máy hành chính đây đó cho thấy, chính quyền đang có những biểu hiện đả kích và kết án các việc làm của người công giáo trong thành phố mà người đứng đầu là đức tổng giám mục.

    Trong khi đó công an gia tăng các biện pháp cứng rắn đối với các giáo dân cầu nguyện tại Toà Khâm Sứ. Các buổi cầu nguyện sớm tối tại đây bị công an theo dõi kỹ lưỡng hơn. Trong khi đó ban ngày, nếu người ngoại quốc đi qua dừng lại bên ngoài tường rào sắt Toà Khâm Sứ để ngắm nhìn và chụp ảnh thì không sao, nếu là ngừơi Việt, lập tức có các công an chạy đến giám sát và sinh sự. Chiều nay, công an Cường đã ra lệnh cho các bảo vệ đuổi một chị giáo dân đang vào dọn dẹp xung quanh tượng Đức Mẹ và dâng hoa cho Đức Mẹ. Bất chấp sự đe doạ của công an và bảo vệ, chị này tiếp tục bày tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ của mình.

     

    Ngày 13.1.2008

    Sau thánh lễ chiều Chúa Nhật hôm nay do ĐTGM Ngô Quang Kiệt chủ sự cùng quý linh mục  ở Nhà Thờ Chính Toà Hà Nội, hàng ngàn giáo dân thuộc giáo xứ Kẻ Sét (Thịnh Liệt) đã đến trước Toà Khâm Sứ và cầu nguyện.

    Phố Nhà Chung trở nên một ngôi nguyện đường thật trang nghiêm sốt sắng ngay giữa lòng thủ đô, xe cộ vẫn tấp nập qua lại khu phố nhỏ này và việc cầu nguyện của giáo dân đã khiến ai cũng phải đi chậm lại hoặc dừng xe nghe ngóng.

    Giáo xứ Kẻ Sét nằm ở địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội với khoảng 2500 giáo dân, hiện nay giáo xứ do LM Nguyễn Xuân Thuỷ làm chánh xứ.

     

    Ngày 17.1.2008

    Người ta thấy Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam xuất hiện cách âm thầm ở Hà Nội trong những ngày qua, bắt đầu từ trong thánh lễ mừng Đức hồng y do Gia Đình Gioan tổ chức ngày 10.01.2008. Đức Cha Chủ Tịch xuất hiện để làm gì? Tin hành lang cho hay là ngài ra Hà Nội theo đề nghị của một số cơ quan cấp bộ để giải quyết vấn đề đất đai Toà Khâm Sứ, La Vang và Giáo Hoàng Học Viện.

    Các nguồn tin từ phía Giáo hội không xác nhận sứ mạng này. Đức cha Chủ tịch đến âm thầm, khiêm tốn và ra đi khiếm tốn âm thầm. Có lẽ kết quả cũng âm thầm và khiêm tốn như chuyện đến và đi của ngài.

    Trong khi ấy, những ngày vừa qua và cho đến hôm nay 17.01.2008, người ta thấy Đức Cha F.X Nguyễn Văn Sang xuất hiện khá thường xuyên ở Hà Nội. Ngài là một trong mấy vị giám mục đầu tiên lên tiếng ủng hộ Toà Tổng Giám mục Hà Nội, xin giao lại nhà đất Toà Khâm Sứ. Đức Cha F.X Nguyễn Văn Sang cũng là người viết một số bài báo xung quanh vụ nhà đất Toà Khâm Sứ. Những bài viết này cung cấp một số những thông tin quý báu và một số ý tưởng thú vị, nhưng cũng có một số không thực tế và lỗi thời. Có thể ngài là người được một cơ quan cấp bộ nào đó mời làm trung gian tiếp cận và trung gian giải quyết ? Hay ít nhất là thăm dò lập trường của Toà Giám mục Hà Nội ?

    Không một trung gian nào có thể có vai trò gì trong vụ việc này. Nếu ai biết sơ qua về cơ cấu tổ chức trong Giáo hội cùng với vai trò và quyền hạn của vị giám mục giáo phận sẽ thấy điều đó. Giải quyết vấn đề liên quan đến một chủ thể tôn giáo không giống việc giải quyết các vấn đề giữa hai chủ thể thuần tuý có tính cách thế tục, như hai quốc gia, hai tổ chức xã hội.

    Trong khi chính quyền đang dò đường để tìm cách giải tán đám đông cầu nguyện thì tại hiện trường, trên thực tế, có dấu hiệu các biện pháp cứng rắn tiếp tục gia tăng: Ngày 11.01.2008 bà Ngô Thị Thanh Hằng ra một văn bản kết án các vi phạm của đức tổng giám mục Hà Nội, của Toà Tổng Giám mục Hà Nội, của các giáo sĩ trong Giáo phận Hà Nội và các linh mục ở Nhà thờ Thái Hà. Tiếp theo là các vụ đấu khẩu hay sử dụng bao lực của một số công an, cán bộ với giáo dân trên hiện trường trước Toà Khâm Sứ và tại khu vực đất tranh chấp ở Thái Hà. Giáo dân của Giáo phận Hà Nội vẫn còn phải tiếp tục cầu nguyện trường kỳ.

     

    Ngày 19.1.2008

    Chưa thấy có bước đi nào chính thức từ phía chính quyền sau công văn 273/UBND-VX của UBND TP Hà Nội ký ngày 11.01.2008. Trong khi những cuộc gặp gỡ không chính thức nhằm tìm ra một giải pháp cho vấn đề vẫn đang được tiếp tục. Tại khu vực Toà Khâm Sứ giáo dân vẫn tụ họp cầu nguyện sớm tối sau giờ lễ.

    Thỉnh thoảng vẫn có những xung đột cục bộ giữa các nhân viên an ninh hay bảo vệ xung quanh chuyện cầu nguyện, cắm hoa, gắn thánh giá quanh tường rào.

    Sáng thứ năm, khoảng gần 9 giờ, người ta chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng và cảm động: Có một đám tang của một bà đạo đức trong xứ Nhà Thờ Chính Toà đã rước ra cầu nguyện trước Toà Khâm Sứ. Nghe nói bà cụ quá cố khi còn sống đã cầu nguyện ở đây và rất thiết tha với phần đất thánh thiêng này. Mọi người chứng kiến, cả bảo vệ lẫn nhân viên an ninh đều kinh ngạc và không ai nói được lời nào và không biết phản ứng ra sao. Phố Nhà Chung kẹt xe bất ngờ vì lượng xe và người đưa đám tang dừng lại cầu nguyện còn đông hơn chủ nhật. Tối hôm nay thứ bảy, giáo dân Cổ Nhuế, Thượng Thuỵ, Cửa Bắc,  là những xứ đạo ở phía Tây Bắc thành phố, đến phiên cầu nguyện. Cá nhân và từng nhóm nhỏ của các giáo xứ này đã đến viếng từ lâu, nhưng trong tư cách là cả giáo xứ thì nay mới đến lượt.

    Sau công văn 273/UBND-VX chính quyền Hà Nội có thể thấy mình thất thố phần nào trong nghệ thuật cai trị. Vì vậy vai trò trung gian của Ban Tôn giáo và Công an có thể sẽ gia tăng trong những bước kế tiếp.

     

    Ngày 21.1.2008

    Tiến trình đòi đất ở Toà Khâm Sứ và nhà thờ Thái Hà hình như đang đi đến đỉnh điểm căng thẳng. Cái nút dường như càng ngày càng được thắt chặt thêm dù bề ngoài có những dấu hiệu và cử chỉ thân thiện hay các lời phát biểu muốn đối thoại.

    Về phía Giáo hội thì lập trường đã kiên định thể hiện nguyện vọng của mình cách ôn hoà cho tới khi đạt được mục đích mới thôi. Còn phía chính quyền, bên ngoài có những dấu hiệu cởi mở, nhưng một cách chính thức thì lại liên tiếp ban hành những văn bản có tính cách cứng rắn nhằm kết tội Giáo hội, đồng thời tìm mọi cách để giải tán các buổi cầu nguyện.

    Tiếng nói chính thức từ cơ quan có thẩm quyền nhất để giải quyết vấn đề là UBND TP Hà Nội vẫn chỉ là công văn 273/UBND-VX ký ngày 11.01.2008. Công văn này kết tội Toà Tổng Giám mục và Giáo xứ Thái Hà.

    Hiện có một hình thức trấn áp và đe dọa giáo dân và tu sĩ cũng đang được thực hiện tại Hà Nội như: một số trường học ở khu vực Hoàn Kiếm và Đống Đa có hiện tượng bạn học và thầy cô giáo can ngăn học sinh công giáo tham gia các cuộc cầu nguyện ở Thái Hà và Toà Khâm Sứ. Một số công an còn đến nhà Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội và nhà các giáo dân để ngăn đe hoặc gieo rắc nghi ngờ, chia rẽ giữa những người tham gia cầu nguyện.

    UBND TP Hà Nội theo gương công an cũng muốn nhờ Đức Cha FX Nguyễn Văn Sang làm trung gian.

     

     

    Xem tiếp ....

     

     

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý (2)

     
    Nguyễn Đức Tuyên, tóm lược
     
    1.5. Quan điểm của LS Trần Lê Nguyên

    Ngày 11/01/2008, bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội (UBND)đã gửi GM Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam và TGM Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội một công văn số 273/UBND-VX về việc vi phạm của Toà Giám Mục Hà Nội và Giáo Xứ Thái Hà.

    - Điểm 1: Bà Phó Chủ Tich UBND liệt kê ra các điều kiện thuận lợi hay ân huệ đã dành cho Tổng Giám Mục (TGM) Hà Nội và Hội Đồng Gíam Mục Việt Nam (HĐGMVN); Cụm từ điều kiện thuận lợi hay ân huệ phải được hiểu như thế nào?

    Vậy hãy nghe bà Phó Chủ Tich UBND giải thích ý nghĩa cụm từ điều kiện thuận lợi hay ân huệ: Lễ tiếp đón Hồng Y Crescenzio, Tổng trưởng Bộ truyền giáo Vatican đến thăm giáo hội tại Việt Nam, Lễ thụ phong linh mục cho các Tu sỹ tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, lễ Noel hàng năm và các buổi lễ trọng trong chương trình mục vụ của Hội Đồng Giám mục. Nhất là mới đây, đã đảm bảo cho Đại hội X – Đại hội Hội Đồng Giám mục Việt Nam diễn ra tốt đẹp tại Hà Nội.

    Vậy, những sinh hoạt bình thường thuần túy tôn giáo trên bà Phó Chủ Tich cho rằng, đáng lý ra cần phải có giấy phép nhưng Bà Phó Chủ đã tạo điều kiện thuận lợi hay ban ân huệ cho HDGMVN và cho TGM Ngô Quang Kiệt

    Điều nguy hại hơn là bà Phó Chủ Tich đại diện UBND vi phạm Hiến Pháp và Luật Pháp nước CHXHCN Việt Nam về quyền tự do tôn giáo ( Điều 70 Hiến Pháp Việt Nam và Pháp Lệnh về Tôn Giáo ) của người dân cũng như các tổ chức tôn giáo.

    - Điểm 2: quy kết Đức TGM Ngô Quang Kiệt hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng giáo dân.

    Đó là quyền căn bản, nên theo đúng một Nhà Nước Pháp Quyền, ngoài việc chế tài hành chánh của cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền, Bà Ngô Thị Thanh Hằng còn phải bị Luật Pháp chế tài về các vi phạm quyền tự do tôn giáo.

    Đây là những việc làm hoàn tòan thiết yếu của Đạo Công Giáo: giáo dân và giáo sĩ đọc kinh cầu nguyện và hát thánh ca cho chính mình, cho tha nhân và cho đất nước, đặc biệt lúc này cho những viên chức có thẩm quyền sáng suốt giải quyết tranh chấp một cách công bằng hợp lý. Các hình thức sinh hoạt này không thể bị coi là hành vi lơi dụng tôn giáo, tín ngưỡng theo Luật Pháp quốc nội cũng như Luật Pháp Quốc Tế.

    Một người dân bình thường tin theo bất cứ một tôn giáo nào, không thể coi đó là các hành vi trên lợi dụng tín ngưỡng hay lợi dụng tôn giáo mà bảo là vi pháp pháp luật, đặc biệt về Pháp Lệnh Tôn Giao mà Bà Phó Chủ Tịch UBND qui chiếu.

    Trái lại, chính Bà Phó Chủ Tịch UBND đã không am tường luật pháp và nhân danh UBND hành xử trái pháp luật. Một cơ quan Hành Chánh quan trọng của Thủ Đô Hà Nội, một Thành Phố có gần 1000 năm văn hóa lại vi phạm luật pháp trắng trợn.

    - Điểm 3: Bà Phó Chủ Tịch UBND đưa ra hai (2) sự kiện tố cáo Đức TGM Ngô Quang Kiệt:


    - Ngài gửi thư yêu cầu đọc kinh cầu nguyện tương tự tới các giáo phận khác thuộc quyền quản trị của mổi giám mục khác nhau ngoài Giáo Phân Hà Nội.

    - Cho thư rơi ngoài đường phố mục đich kêu gọi mọi người hành động như trên, tức tụ tập cầu nguyện và hát thánh ca.

     Bà Phó Chủ Tịch đã chỉ tố cáo vu vơ mà không đưa ra được một tờ thư rơi nào, khổ giấy ra sao, chữ in thế naò, mầu gì, nội dung ra sao. Trái lại chính Đức Cha Nguyễn Văn Sang, quản nhiệm giáo phận Thái Bình bằng thư xác nhận: không hề nghe nói, không hề thấy hay nhận được lá thư mà bà Phó Chủ Tịch UBND dựa vào đó tố cáo TGM Ngô Quang Kiệt.

    Xét về khía cạnh Pháp Lý, bà Phó Chủ Tịch UBND: Xúc phạm danh dự, phẩm giá người khác, cụ thề TGM Ngô Quang Kiệt căn cứ vào Điều 71 Hiến Pháp XHCHVN và Điều 307 Luật Dân Sự Việt Nam.

    Xin nhắc vụ Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình, vụ cựu huấn luyện viên người Pháp Letard cho đội bóng đá Việt Nam đòi bồi thường 180 000$US vì không hiểu luật pháp về khế ước; Air Việt Nam bị phạt bối thường cho Luật sư Monti người Ý hơn 5 000 000 $ EU vì coi thường luật pháp không chịu ra hầu Toà.

     

    1.6. Sau đây là Hình chụp Bằng Khoán Chủ Quyền Điền Thổ

    Khoanh Đất số 1765 (nay là Tòa Khâm Sứ)

    Diện tích lần đầu khi mua, sang nhượng và làm trước bạ

    Đo đất lần đầu năm 1933 là 11.478 mết vuông

    Diện tích đo lần cuối năm 1951 là 11.478 mết vuông.

     

    (Xem hình ở đây)

     

    II. Những Cuộc Gặp Gỡ “Ngọai Giao”

     

    Tuy vấn đề đất nhiều khi rất căng thẳng hai bên vẫn cố gắng giữ liên lạc với nhau qua nhiều hình thức:

    2.1. Sáng ngày 30.12. 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã đến thăm Toà Tổng Giám mục Hà Nội, gặp Đức Tổng Giám mục Hà Nội và chứng kiến cảnh giáo dân cầu nguyện. Ông đi từ lối giữ xe bên hông Nhà Thờ Lớn, vòng qua Trung tâm Mục vụ và Chủng viện và đến phòng khách Toà Tổng Giám mục. Tại đây ông gặp Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt khoảng 15 phút trong phòng khách.

    Khi Thủ tướng đi ra khỏi phòng khách thì cũng là lúc đoàn giáo dân đang rước từ Nhà thờ Lớn sang khu đất Toà Khâm Sứ. Thủ tướng đứng ở cổng Toà Khâm Sứ một lúc rồi mới đi.

    2.2. Trước ngày Thủ Tướng Dũng tới Tòa Tổng Giám mục, ông Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc có tới thăm ĐTGM Ngô Quang Kiệt. Người ta không biết rõ những thảo luận.

    2.3. Vào buổi chiều ngày 22.1.2007, một phái đoàn của Chính quyền gồm Ông phó chủ tịch Uỷ ban trung ương MTTQ Việt Nam, Bà Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là bà Ngô Thị Thanh Hằng, củng với các vị lãnh đạo ban ngành chính quyền thành phố Hà Nội đã tới Tòa Giám Mục Hà Nội để chúc Tết Đức Hồng y Phạm Định Tụng và Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

    Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã tiếp phái đoàn chính quyền và trao đổi những lời chúc mừng. Về phía Tòa Giám mục có sự hiện diện của một số linh mục. Vào chiều ngày 29.01.2008, Toà Tổng Giám mục Hà Nội đã sang chúc tết UBND TP HN. Dẫn đầu phái đoàn là Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt. Cùng đi với ngài có LM Chánh Văn phòng Lê Trọng Cung và khoảng hơn một chục linh mục khác đến từ các giáo xứ trong ngoài thành phố.

    Bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, nhân dịp này, nói Thành phố rất quan tâm tới các sự kiện đang diễn ra ở Toà Khâm Sứ. Vì sự an ninh trật tự của thành phố bà xin Toà Tổng Giám mục cho chấm dứt các sự việc đang diễn ra tại Toà Khâm Sứ. Bà cũng đề nghị Toà Giám mục tôn trọng kỷ cương và cùng chính quyền đối thoại để giải quyết vấn đề.  Đức Tổng Giám mục đáp lời rằng phải tôn trọng trật tự kỷ cương nhưng đối thoại phải bắt đầu bằng việc tôn trọng sự thật, chấm dứt vu cáo và xuyên tạc Toà Giám mục. Đối thọai phải dựa trên căn bản thực tế và pháp lý. Không nên mệnh lệnh cửa quyền, duy ý chí. Phải biết lắng nghe nhau chứ không phải chỉ có một bên nói. Không thể nào quy trách nhiệm cho một bên, chỉ có nhìn phía mình mà không nhìn phía bên kia thì không thể đối thọai được.

    Khi Bà Phó Chủ tịch đề cập đến chuyện đổi mới, Đức Tổng Giám mục, cũng nói phải đổi mới và đối mới bên ngoài thôi thì chưa được, quan trọng hơn là phải đổi mới con người từ bên trong, từ trong cái đầu, trong tư tưởng. Đức Tổng Giám mục kết thúc rằng : Ngày xuân nên nói chuyện vui, nhưng vì Bà Phó Chủ tịch đề cập đến vấn đề thì xin có mấy lời như vậy để sau này có các cuộc đối thoại thực sự hữu ích.

    *

     

    III. Những Buổi Cầu Nguyện Và Những Giây Phút Hồi Hộp


     Ngày 01.01.2008- Biến Cố Đầu Năm

    Khoảng 2000 người đã tụ họp cầu nguyện ngoài hàng rào Tòa Khâm Sứ. Giáo dân biến lòng đường thành nguyện đường. Có lời nhắn nhủ “Năm mới chúng ta có nhiều ước vọng. Một trong những ước vọng cháy bỏng nhất là chúng ta xin lại được nhà đất Toà Khâm Sứ. Để cho điều ấy trở thành hiện thực, chúng ta cần phải cầu nguyện và hành động. Chúng ta hành động chứ không bạo động. Vì thế giờ đây quý cha quý tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân chúng ta đi sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện”.

    Đi đầu là Thánh giá nến cao và hơn 20 linh mục đồng tế. Tiếp theo là mấy trăm chủng sinh, nữ tu và hàng nghìn giáo dân. Nhiều người ở bên ngoài nhà thờ, hai bên lối đi Toà Giám mục đứng đón đoàn cầu nguyện. Có linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân. Có già, có trẻ, có lớn, có bé. Có người Việt cũng như người ngoại quốc. Có nhiều người Tây Phương, người Phi Châu và cả một nhóm rất đông người Hàn Quốc.

    Khi đoàn linh mục, chủng sinh và tu sĩ vừa qua khỏi sân Nhà Thờ Lớn, đông đảo giáo dân đã tràn xuống quảng trường Nữ Vương Hoà Bình trước Nhà Thờ Lớn đi ngược phố Nhà Chung sang khu vực Toà Khâm Sứ. Toà Khâm Sứ đã khoá cổng. Sau cổng còn đặt rất nhiều tảng bê tông lớn hình khối. Do đó đoàn người tràn xuống lòng lề đường để cầu nguyện.

    Các bảo vệ bên trong Toà Khâm Sứ đứng lùi vào một góc xa để quan sát. Các nhân viên an ninh mặc thường phục co cụm một chỗ để chụp hình, chỉ trỏ các đối tượng của mình và bàn tán. Hàng trăm máy quay phim và chụp hình của đủ các bên hoạt động với công suất tối đa.

    Cộng đoàn cầu nguyện khoảng nửa tiếng thì kết thúc vào lúc khoảng gần 12 giờ trưa. Ai cũng thấy hơi ngắn.

     

    Ngày 3.1.2008

    Sáng chiều có mặt ở phố Nhà Chung lúc nào cũng có đầy công an "chìm" giả dạng thường dân. Vào buổi tối, các công an ít hẳn đi. Có anh tìm cách tiếp cận mấy bà đang cầu nguyện, hỏi những câu ngây ngô hay giả ngây ngô để bắt chuyện và khai thác thông tin, nhưng mấy bà già tìm cách đuổi khéo nên anh đành bỏ đi. Tối hôm nay trời rét quá.

    Thỉnh thoảng vẫn có người đến đặt hoa lên tường rào Toà Khâm Sứ và cầu nguyện. Có ông xe ôm và có nhiều bà đồng nát, dừng xe, hạ quang gánh đứng chắp tay âm thầm cầu nguyện tự nhiên giữa trung tâm thành phố. Số người cầu nguyện sau lễ 7giờ chiều ít hơn thường ngày. Số nam nữ tu cầu nguyện giấc 10 giờ thì vẫn đông vậy. Cũng có một số giáo dân tham gia giờ cầu nguyện này.

    Bất ngờ nhất hôm nay là sự kiện ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ, trả lời BBC về vấn đề nhà đất Toà Khâm Sứ. Một cách đáp lễ cuộc phỏng vấn BBC của Đức Tổng Giám mục hôm nọ chăng?

     

    Ngày 4.1.2008


    Hôm nay trời đẹp. Nắng vàng và bớt lạnh. Nhờ các phương tiện truyền thông mà người ta biết chuyện, và số người đến cầu nguyện rải rác trong ngày càng đông. Nhiều người đi xe từ các tỉnh đến đây cầu nguyện cá nhân. Một số nhóm sinh viên có việc gì qua trung tâm thành phố cũng ghé lại cầu nguyện. Một số nhóm giáo dân ở một các giáo xứ vùng Hà Tây, Hà Nam đang đòi lên Hà Nội đến Toà Khâm Sứ cầu nguyện với tư cách tập thể. Chắc rồi cũng sẽ đến lượt thôi nếu tình hình không sớm được cải thiện.

    Cả ngày dân Hà Nội phở lở vì được đọc thư ngỏ của Đức Cha FX Nguyễn Văn Sang, tuyên bố hoàn toàn ủng hộ và hợp nhất với đức tổng giám mục, các đấng bậc và các anh chị em giáo dân trong Giáo phận Hà Nội.

    Nhiều đài báo và hãng thông tấn trong ngoài nước đã đưa tin về vụ cầu nguyện ở Toà Khâm Sứ. Chiều nay thêm phóng viên của hãng AFP đến tìm hiểu vấn đề. Gặp một giáo dân, anh hỏi: Các bạn kéo dài chương trình cầu nguyện này tới khi nào? Trả lời: “Cầu nguyện là sự sống của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cầu nguyện mãi mãi. Cầu nguyện cho đến chết. Riêng trong vấn đề nhà đất Toà Khâm Sứ này, chương trình cầu nguyện cho tới khi nào thì chúng tôi không biết. Nhưng chắc là sẽ chấm dứt cầu nguyện ở Toà Khâm Sứ khi chính quyền trả lại nhà đất ở đây cho Giáo hội”.

    Từ ngày 18.12.2007 đến nay đã có bốn cuộc cầu nguyện tương đối đông đảo diễn ra vào tối ngày 18.12.2007, sáng ngày 20.12.2007, sáng ngày 25.12.2007 và sáng ngày 01.01.2008. Thực tế chưa có cuộc cầu nguyện nào có quy mô cấp Giáo phận, quy tụ toàn thể các giáo xứ trong Giáo phận và thời gian mới chỉ kéo dài 18 ngày.

    Khi các nam nữ tu sĩ đang dọn ghế kết thúc giờ kinh tối và khi các ngọn nến còn lung linh toả sáng trên hàng rào sắt Toà Khâm Sứ, thì thấy một anh thanh niên ngoại quốc đi qua hỏi chuyện các nữ tu. Ngay lập tức có hai nhân viên an ninh quen mặt đi xe máy sáp lại.

     

    Ngày  5.1.2008

    Hôm nay, có một cụ mang một đơn kiến nghị do chính tay cụ viết cho Bí thư Quận uỷ Hoàn Kiếm yêu cầu trả lại đất cho Giáo hội. Cụ đưa đơn và trình bầy ý tưởng của mình cho một số người cụ gặp.

    Trong quán phở, dựng trên đất lấn chiếm Toà Khâm Sứ, thấy hai người vừa ăn vừa bàn chuyện về việc người công giáo tụ tập cầu nguyện, một người nói: “Họ làm thế là phải thôi! Cái gì cũng có nguyên nhân của nó!”. Một cán bộ cấp trung ương nói trong chỗ riêng tư rằng: “Ông Kiệt - Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt- làm cú này “độc” quá! Ông đưa chính quyền vào thế rất bí! Thực ra trả nhà đất khu vực này thì cũng không thành vấn đề lắm, nhưng chính quyền sợ ảnh hưởng dây chuyền”.

    Buổi tối hôm nay, các linh mục và giáo dân các xứ Thái Hà, Hàng Bột, Phùng Khoang sang lễ bên Nhà Thờ Lớn rồi kéo nhau sang cầu nguyện bên Toà Khâm Sứ. Tối thứ bảy cho nên người đi lễ và sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện khá đông. Số giáo dân có lẽ đến 1000 người. Người ta đếm được năm linh mục đi theo thánh giá nến cao và cùng cầu nguyện với giáo dân là LM Giuse Trịnh Ngọc Hiên, Bề trên DCCT Hà Nội và LM Lorenxô Chu Quang Minh, Giám đốc Chủng viện Hà Nội và ba linh mục khác nữa.

     

     

    Xem tiếp ......

     

    Vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội 40 Ngày Cầu Nguyện Cho Công Lý

    Nguyễn Đức Tuyên, tóm lược

     

    Vụ hàng ngàn giáo dân Hà Nội cầu nguyện trên khu đất Tòa Khâm Sứ Hà Nội để đòi đất, xảy ra vào ngày 18 tháng 12 năm 2007 đến nay đã trên 40 ngày với những thời gian hào hùng, quyết liệt, hồi hộp, lo âu và cao điểm là lúc 5 giờ chiều ngày 27 tháng 1 năm 2008. Thế rồi tình hình lại lắng dịu và “ánh sáng cuối đường hầm” là văn thư ngày 30 tháng 1 năm 2008 của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Vatican gửi Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

    Sau diễn tiến và nhận định trong bài viết cuối tháng 12, ta thấy tình hình từ đó tới nay có nhiều biến động :

    Trước hết là cuộc viếng thăm của Thủ tướng Nguyễn Tiến Dũng sau đó là những cuộc chúc mừng của nhà cầm quyền Hà Nội nhân dịp Giáng Sinh, mừng Thương Thọ Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, Tết Nguyên Đán. Nhưng quyết liệt hơn cả là lời phát biểu của ông Nguyễn Thế Doanh với đài BBC mở màn cho các văn thư của chính quyền Hà Nội về vụ đất đai, cao điểm là tối hậu thư cáo buộc hình sự của UBND Hà Nội. Về phía giáo dân, kể cả vụ đòi đất Thái Hà và Hà Đông, xem ra họ không nao núng trước những đe dọa có thể đưa đến vào tù. Nhà cầm quyền có vẻ phải suy nghĩ tìm giải pháp.

    Điểm đặc biệt trong giai đọan này là sự hỗ trợ công khai của Đức Giám mục Nguyễn Văn Hòa, GM Kontum, ĐGM Đặng Đức Ngân, GM Lạng Sơn, ĐGM Vũ Văn Thiên, GM Hải Phòng, ĐGM. Nguyễn Văn Sang, GM Thái Bình,  Đại diện Giáo phận Bắc Ninh, Cha Cao Đình Trị, Giám Tỉnh DCCT VN, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Cộng Đồng Công Giáo VN ở nhiều nơi tại Hoa kỳ, Cộng Đồng Công giáo Úc Châu đã hiệp thông bằng những buổi thắp nến cầu nguyện. Tiếp theo là một số lượng thỉnh nguyện thư cũng như những vận động trực tiếp của nhiều nhóm ở các nước trên thế giới tới các cấp chính quyền yêu cầu hỗ trợ Giáo hội Việt Nam.

    Đồng thời là sự quan tâm lên tiếng của hàng lọat cơ quan truyền thông quốc tế, AP, AFP, Asia News, EDA, UCAN, BBC, VOA, RFI, RFA, RadioVatican, Veritas, VietCatholic, Zenit… trong đó có Washington Post, kể cả những bài bình luận quyết liệt hiếm có của Đài Radio Vatican tiếng Việt, kế đến là phản ứng của người Việt hải ngọai.

    Ta hãy đi sâu vào từng sự kiện.

     

    *

     

    1.  Thái Dộ Của Chính Quyền và Phản Ứng Của Tòa Tổng Giám Mục

    1.1. Từ cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Thế Doanh của Đài BBC

    Trả lời phỏng vấn BBC hôm 3.1.2008, ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ đưa ra một cách xác định phạm vi vấn đề:

    "Thực ra là không có vấn đề trả lại, tức là ‘của anh hay của tôi’ nên về phía các tôn giáo hay dùng từ ‘trả lại’ tạo sự không thông cảm được với nhau. Không có chuyện đòi lại, trả lại,"

    Ông Doanh giải thích rằng: "Từ khi có Luật đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý và nhà nước, căn cứ vào nhu cầu sử dụng thực sự của nhân dân và quỹ đất, cấp đất cho nhân dân, các tổ chức để sử dụng ổn định, lâu dài."

    Phản bác lại lập luận của ông Nguyễn Thế Doanh là các luận điểm sau đây, xuất phát từ trong nước:

    1.1.1. Người ta đề nghị ông Trưởng Ban Tôn giáo nên đọc lại vài văn bản sau đây, do chính Ban Tôn giáo chỉ thị cho các cấp quan chức địa phương “phải trả lại... Nơi thờ tự của các tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại…”.

    - Điều 70 Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, năm 1992, khẳng định: “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước bảo hộ.”

    - Hướng Dẫn số 500 HD/TGCP, ngày 4 tháng 12 năm 1993 của Ban Tôn giáo Chính phủ về việc thực hiện Chỉ thị 379/TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tôn giáo nêu rõ: “Nơi thờ tự của các tôn giáo cho mượn có thời hạn nay đã hết hạn thì phải trả lại. Nếu còn nhu cầu sử dụng phải thỏa thuận với Giáo hội. Nếu chưa hết hạn mà sử dụng không đúng mục đích thì phải trả lại... Không để dân lấn chiếm nơi thờ tự. Ở những nơi do tồn tại của quá khứ, nơi thờ tự có dân đang ở thì Chính quyền địa phương phải có kế hoạch giải tỏa trong một thời gian nhất định”.

    - Thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày 16 tháng 06 năm 1999 của Ban tôn giáo Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điều trong Nghị Định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, nhấn mạnh: “Không để cơ sở thờ tự bị lấn chiếm. Nhà nước bảo hộ cơ sở thờ tự tôn giáo”.

    - Điều 26 Pháp Lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18 tháng 06 năm 2004, ghi rõ ràng: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”.

    - Một số Công văn của chính quyền các cấp căn cứ vào Nghị quyết số 23/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc Hội “về nhà đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991” để không cấp lại các tài sản đã chiếm dụng của tôn giáo là không có cơ sở. Trường hợp đất đai, tài sản của Toà Giám mục tại Toà Khâm Sứ không thuộc diện được qui định tại Nghị quyết này. Nghị quyết 23 chỉ áp dụng cho những trường hợp “bố trí, quản lý” đúng pháp luật. Trường hợp đất Toà Khâm Sứ đã bị cưỡng đoạt cách bất hợp pháp. Do đó, không thể đem áp dụng Nghị quyết 23 vào đây được.

    1.1.2. Lời tuyên bố của ông Trưởng Ban Tôn giáo Nhà nước rõ ràng trái ngược với Luật pháp và những Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc “phải trả lại” nhà đất và các cơ sở của các tôn giáo.Tài sản của nhân dân thì phải hoàn trả lại cho nhân dân. Hãy trả lại tài sản của các tôn giáo. Như thế mới đúng nghĩa là “công bằng” của một xã hội Việt Nam “văn minh, tiến bộ” biết thực thi "công lý".

    Ông Doanh từ chối rằng ở Việt Nam người dân và các tổ chức (trong đó có tôn giáo) có quyền sở hữu: “Không có của anh hay của tôi.” Phải chăng điều ông muốn nói đây là xét theo nhu cầu nhà nước có thể tịch thu đất đai nhà ở, hay tước quyền sở hữu đất đai của mỗi người dân hay tổ chức bất cứ lúc nào? Trong tình hình đất nước đổi mới hòa nhập vào thế giới, Nhà nước muốn thu hút Việt kiều ngoại quốc đến làm ăn và đầu tư. Như vậy những lời phát biểu của ông Doanh có hợp với tình hình phát triển của đất nước hay không?

    1.1. 3. Ai cũng biết Toà Khâm Sứ và toàn bộ đất đai tại Toà Khâm Sứ là “tài sản” vốn thuộc sở hữu của Toà Giám mục Hà Nội:

    - Trong địa bạ kê khai thứ nhất, ngày 18/04/1933, Ngôi nhà số 40A (nay là số 42) phố Nhà Chung, được ghi ở bản đồ C, với diện tích 11.487m2, quyển số 2, tờ 162, số 1765, có chứng chỉ của sổ địa bạ chứng nhận quyền sở hữu của Toà Giám mục Hà Nội.

    - Từ đó cho tới nay, nhiều lần Toà Giám mục kê khai về các tài sản nhà đất thuộc quyền sở hữu của Toà Giám mục trong đó có khu vực Toà Khâm sứ, trong các thời kỳ khác nhau, theo chỉ thị của Chính phủ, nhưng cho tới nay, chưa có bất cứ văn bản nào của Chính quyền phủ nhận quyền sở hữu của Toà Giám mục Hà Nội.

    - Ai cũng biết, đất đai của các tôn giáo nói chung và Toà Khâm Sứ nói riêng, chưa bao giờ thuộc diện “cải tạo Xã hội Chủ nghĩa”, như một số Công văn của Chính quyền vẫn thường dựa vào đó như lý do duy nhất để không trả lại tài sản của các tôn giáo. Thực tế, “Trong thời kỳ Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo Xã hội chủ nghĩa năm 1961, thì đất đai tôn giáo không nằm trong diện cải tạo này.” Hơn nữa, cho tới giờ này, chưa hề có bất cứ quyết định “trưng dụng” nào của Chính phủ đối với đất đai tôn giáo mà cụ thể là Toà Khâm Sứ.

    - Trong vụ việc Toà Khâm Sứ, Nhà nước không chỉ chiếm dụng đất đai vốn thuộc quyền sở hữu của Toà Giám mục Hà Nội như chứng minh ở trên, mà còn lấy cả Toà nhà Khâm Sứ – “tài sản” của Toà Giám mục Hà Nội. Hiện nay, ngôi nhà cũng là “tài sản” của Toà Giám mục vẫn hiện hữu trên khu đất mà ai cũng biết, chính phủ cũng biết.

    - Hoặc nữa, khi nhà ta bị cướp vào, kề dao vào cổ bắt viết thư vay nợ, hiến nhà, đưa bút vào tay, súng kề tận mang tai, ta phải ký, thì khi mọi người đến cơ quan công quyền, ta có công nhận rằng chữ ký của mình khi đó có giá trị không. Điều mà Hội Đồng Giám mục trong văn thư ngày 29.9.1995 gởi chính phủ gọi là : cơ sở của Giáo hội trước đây bị trưng dụng hoặc hiến cách không thỏa đáng (lý do mập mờ, văn bản không hợp pháp, chủ nhân không đồng ý hoặc bị cưỡng ép, vắng mặt v.v.).

    - Xét trên căn bản những đòi buộc quốc tế về việc bảo vệ tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, như đã được chính nhà cầm quyền Việt Nam phê chuẩn trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1982, thì vấn đề dựa vào luật pháp Viêt Nam đương nhiên phải đuợc bãi bỏ.

     

    1.2. Đến các văn thư của UBND Thành Phố Hà Nội

    1.2.1. Do văn thư số 273/UBND-VX ký ngày 11 tháng 1 năm 2008 với đề mục “vi phạm của Tòa Tổng Giám mục Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà” gửi Ngài Nguyễn Văn Nhơn,
    Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam và Ngài Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội cho biết:

    “Ngày 15/12/2007, Ngài Tổng Giám mục đã gửi thư không chỉ cho các giáo xứ thuộc giáo phận Hà Nội mà còn gửi tới các giáo dân khác kêu gọi các giáo sỹ và giáo dân tham gia việc đòi lại nhà đất tại 42 phố Nhà Chung; kêu gọi giáo dân đến cầu nguyện tại 42 phố Nhà Chung là trụ sở Phòng Văn hóa Thông tin, Nhà Văn hóa và Trung tâm Thể dục Thể thao quận Hoàn Kiếm. Tối ngày 18/12/2007 và liên tục trong các ngày tiếp theo trong tháng 12 năm 2007, sau các buổi lễ, Tòa Tổng Giám mục đã kêu gọi giáo dân đến tổ chức cầu nguyện tại khu đất 42 Nhà Chung; đưa ra tượng Đức Mẹ sang đặt tại khu đất 42 Nhà Chung; kèm theo việc phân phát tờ rơi với nội dung có tính chất xuyên tạc chính quyền. Trong những ngày gần đây, Tòa Tổng Giám Mục vẫn tiếp tục tổ chức các hoạt động tập trung đông giáo dân, giáo sỹ cầu nguyện trước cửa số nhà 42 phố Nhà Chung gây mất trật tự giao thông công cộng. “

    “Những việc làm trên vi phạm khoản 2 điều 11 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo ngày 29/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điều 26 Nghị định 22/2005/NĐ-CP của chính phủ ngày 1/3/2003 về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, Luật xây dựng, Luật đất đai và gây ra những bức xúc trong quần chúng nhân dân cũng như trong bà con giáo dân trên địa bàn.

    UBND Thành phố Hà Nội đã giao cho lãnh đạo quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa có văn bản trao đổi, phê phán những việc làm sai trái nói trên; đồng thời đề nghị Hội Đồng Giám mục Việt Nam chỉ đạo và yêu cầu Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà chấm dứt ngay những việc làm vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về hoạt động tôn giáo, đồng thời sớm khôi phục, trả lại nguyên trạng, di chuyển tượng Đức Mẹ và Thánh Giá ra khỏi khu vực 42 phố Nhà Chung”

    1.2.2. Do văn thư số 673/UBND-VX ngày 26 tháng 1 năm 2008 với đề mục :” phối hợp giải quyết tình hình vi phạm pháp luật của một số giáo sỹ và giáo dân tại số nhà 42 phố Nhà Chung”, Ủy Ban cho biết: ngày 25.1.2008, khỏang 100 linh mục và hơn 1000 giáo dân đã hiện diện tại số nhà 42 phố Nhà Chung, tụ tập, kích động, tràn vào sân, đánh bị thương một số cán bộ, hủy họai tài sản của nhà Nuớc, lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép, cầu nguyện…(sic)  là những hành vi vi phạm pháp luật.

    Tối hậu thư 673, đòi Tòa Tổng Giám mục gỡ bỏ các ảnh tượng ra khỏi Toà Khâm Sứ và chấm dứt cầu nguyện trước 17 giờ ngày 27.1.2008. Họ đe dọa sẽ dùng biện pháp mạnh. Ai cũng hiểu họ đang đe dọa khủng bố bằng bạo lực. Sẽ rất dễ xảy ra ở một đất nước Cộng Sản.

    Về đất đai, thay vì xác định theo kiểu ông Nguyễn Thế Doanh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, UBND đem ra một “chưởng” mới, ngày 24.11.1961, linh mục Nguyễn Tùng Cương đã bàn giao cơ sở nhà đất 40a phố Nhà Chung qua nhà nước thống nhất quản lý.

    1.3. Chiến dịch xuyên tạc và bôi nhọ

    Chiến dịch xuất hiện trên Báo An Ninh Thủ Đô, Hà Nội Mới và Truyền Hình Nhà Nước. Vì nhà nuớc có tới trên 700 tờ báo nhưng có cùng một cơ quan chỉ đạo, cho nên ta chỉ cần coi vài trích đọan trên Báo An Ninh Thủ Đô hoặc Hà Nội Mới cũng  tạm đủ:

    - ANTĐ “Thời gian qua, đặc biệt, trong hai ngày 25 và 26-1, tại khu vực 42 phố Nhà Chung, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xảy ra hành vi gây mất trật tự của nhiều giáo dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh thủ đô và sinh hoạt đời sống của người dân cùng các trường học xung quanh. Báo An Ninh Thủ Đô đã nhận được nhiều đơn thư của bạn đọc và các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân, bày tỏ sự bất bình và yêu cầu những hành vi vi phạm pháp luật tại đây cần chấm dứt ngay. “

    …..”22h30 ngày 25-1, tổ công tác công an quận Hoàn Kiếm và công an phường Hàng Trống vào kiểm tra khu vực lều bạt này. Có khoảng 100 người có mặt, nhưng không xuất trình giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của lực lượng công an. Thậm chí, nhiều người không xưng họ tên và tỏ thái độ cản trở lực lượng làm nhiệm vụ. Tổ công tác CAQ Hoàn Kiếm đã lập biên bản về thái độ của những giáo dân này.”

    Tiếp theo là một số thơ “Gửi ông Ngô Quang Kiệt”

    - HNM-Ngày 28.1.2008, báo Hà Nội Mới, tờ báo của thành uỷ đảng thành phố Hà Nội lại tiếp tục xuyên tạc viết rằng: Giáo dân rất muốn ở nhà chuẩn bị Tết trong gia đình ấm cúng, nhưng bị ép buộc bởi lãnh đạo giáo hội nên phải đến ở 42 Phố Nhà Chung cầu nguyện. Khi thấy người mới đến họ sung sướng vì có người đến thay cho mình để có thể về nhà.

    “Để ngăn chặn tình hình vi phạm pháp luật, căn cứ Điều 143, 245 và 257 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam; Cơ quan Cảnh sát điều tra, CA quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định số 60/CAHK ngày 26-1-2008 quyết định khởi tố vụ án hình sự “Hủy hoại tài sản, Gây rối trật tự công cộng và Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại 42 Nhà Chung, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng, luôn tạo điều kiện cho đồng bào theo đạo thể hiện đức tin của mình. Nhưng ai đó cố tình lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng, vi phạm pháp luật, vì các mưu đồ xấu thì phải bị xử lý nghiêm minh.”

    1.4. Thư phản bác của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

    1.4.1. Phản bác Văn thư UBND/HN Ngày 14 tháng 01 năm 2008

    TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI

    Số: 08-VP/TGM 003

    V/v. Phản bác Văn thư UBND/HN Ngày 14 tháng 01 năm 2008

    Kính gửi: Bà Ngô Thị Thanh Hằng

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà nội

    Nhận được văn thư số 273/UBND-VX ký ngày 11-01-2008, chúng tôi thực sự ngạc nhiên về sự thiên lệch trong lý luận và trong hành xử quyền hành.

    Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi lặng im trước lời khiếu nại của người bị vi phạm. Từ nhiều năm nay Tòa Tổng Giám mục và Hội Đồng Giám mục vẫn làm đơn xin lại khu đất Tòa Khâm Sứ. Như thế đó là đất đang tranh chấp. Không bên nào có quyền xây dựng, thay đổi hiện trạng khi chưa có phán quyết chính thức. Nhưng năm nay, Tòa Khâm Sứ đã liên tục bị vi phạm khi cơ quan tạm quản lý cho xây dựng hàng phở lên 2 tầng. Nếu cơ quan nào cấp phép xây dựng thì cơ quan đó làm sai. Nếu không có phép lại càng sai trái hơn. Ngày 04-12-2007, Tòa Tổng Giám mục đã làm đơn yêu cầu giữ nguyên trạng khu đất. Nhưng không được Chính quyền cứu xét. Trái lại cơ quan tạm quản lý lại cho tháo rỡ mái và sàn khu nhà chính của Tòa Khâm Sứ. Tòa Giám mục cho người sang phản đối, không có kết quả. Ngày 13-12-2007, quản lý Tòa Tổng Giám mục đã ra văn thư khiếu nại. Vẫn không được cứu xét. Ngược lại cơ quan tạm quản lý tòa nhà còn cho mở bãi giữ xe trên sân từ trước đến nay vẫn được tôn trọng. Hành vi bất chấp dư luận lại được sự làm ngơ của các cơ quan chính quyền khiến người dân vô cùng bức xúc. Đó chính là lý do dẫn đến việc giáo dân đến cầu nguyện cho công lý tại Tòa Khâm Sứ. Lỗi đó là sự im lặng có thiên lệch của các cơ quan chức năng không bênh vực quyền lợi của người dân, dung túng cho những người vi phạm.

    Các cơ quan chức năng đã thiên lệch khi bênh vực những người vi phạm. Trường hợp nhà thờ Thái Hà cũng thế. Từ hơn 10 năm nay Dòng Chúa Cứu Thế đã làm đơn xin lại khu đất trước kia của nhà dòng, bị công ty may Chiến Thắng bỏ không sử dụng từ lâu. Và cả hai bên đều không có động thái gì. Đột nhiên đầu năm 2008, có hàng rào thép gai, có nhân viên công an đến bảo vệ cho công ty may Chiến Thắng xây dựng. Giáo dân bức xúc phản đối. Chiều ngày 07-01-2008, Chính quyền đã đến trấn an giáo dân khi hứa sẽ ngừng mọi việc xây dựng tại đây. Thì như một gáo nước lạnh, sáng ngày 08-01-2008, Uy ban Nhân dân Thành phố Hà nội ra văn thư cho phép công ty may Chiến Thắng tiếp tục xây dựng. Người dân phẫn uất vì các cơ quan chức năng đã không giữ lời hứa lại còn bất chấp tình cảm người dân, ngang nhiên bênh vực những người vi phạm bằng một văn bản hẳn hoi. Đó cũng là lý do khiến người giáo dân chẳng còn biết tin vào ai, chỉ còn biết cầu nguyện.

    Các cơ quan chức năng thiên lệch khi quy kết trách nhiệm cho một bên. Đã im lặng trước sự vi phạm của cơ quan tạm quản lý Tòa Khâm Sứ và ngang nhiên bênh vực sự vi phạm của công ty may Chiến Thắng, nay lại quy kết trách nhiệm cho giáo dân thì là một thiên lệch quá đáng. Không có lửa làm sao có khói. Không có oan ức thì đâu có bùng phát. Thực ra việc giáo dân cầu nguyện rất trang nghiêm không hề làm mất trật tự. Không có hô hoán cũng không có một lời phản đối chính quyền hay một biểu ngữ. Chỉ là cầu nguyện thuần túy. Cầu nguyện vì bị đối xử thiên lệch.

    Vì thế mong bà Phó Chủ tịch hãy xem xét kỹ lưỡng vấn đề để giải quyết rốt ráo. Những việc làm thiên lệch chỉ khiến người dân thêm bức xúc và mất niềm tin vào chính quyền. Đó chính là lý do dẫn đến tình trạng hiện tại. Muốn giải quyết vấn đề phải giải quyết từ gốc chứ không phải từ ngọn. Gốc đó phải là sự công bằng. Chúng tôi không mong gì hơn là chính quyền công minh để người dân yên tâm sống an vui hạnh phúc.

    Trân trọng cám ơn và kính chào bà Phó Chủ tịch.

    TM/TÒA TỔNG GIÁM MỤC

    Chánh văn phòng

    (đã ký và đóng dấu)

    Lm. Gioan Lê trọng Cung

    Nơi nhận

    1.4.2. Khiếu nại Đài Truyền hình Hà nội; Báo Hà Nội mới và báo An ninh Thủ Đô

     

    ĐƠN KHIẾU NẠI CỦA TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI

    Số: 025/TGM 08

    V/v. Khiếu nại Đài Truyền hình Hà nội;
    Báo Hà Nội mới và báo An ninh TĐ


    Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2008

    ĐƠN KHIẾU NẠI

    Kính gửi:: - Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội

    - Tổng biên tập báo Hà Nội mới
    - Tổng biên tập báo An ninh thủ đô

    Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, trong chương trình buổi tối ngày 26/01/2008, báo Hà Nội mới và báo An ninh thủ đô số ra ngày 27/01/2008 đã đưa tin về đất Tòa Khâm Sứ cũ và vụ việc ngày 25/01/2008 với nội dung hoàn toàn xuyên tạc sự thật.

    Xuyên tạc sự thật về đất đai của Toà Tổng Giám mục Hà Nội, đặc biệt khu đất Toà Khâm Sứ cũ. Toà Tổng Giám mục Hà Nội có đầy đủ bằng chứng pháp lý về vấn đề chủ quyền đối với khu đất và tài sản tại đây.

     Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 về tín ngưỡng, tôn giáo ghi: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó” (điều 26). Cũng trong Pháp lệnh này, khoản 1, điều 27 ghi: “Đất có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động được sử dụng ổn định lâu dài”.

    Việc Đài Truyền hình Hà Nội và các báo tại Hà Nội trích công văn trả lời số 05/BXD - QLN ngày 6/11/2007 rằng: "Thực hiện chính sách của Nhà nước về cải tạo nhà cửa, ngày 24/11/1961, linh mục Nguyễn Tùng Cương - đại diện quản lý đã bàn giao cơ sở nhà đất 40a (nay là số 42 phố Nhà Chung) qua để Nhà nước quản lý” là hoàn toàn không có cơ sở. Toà Tổng Giám mục Hà Nội đã có văn bản bác bỏ công văn này. Nay chúng tôi xin nhắc lại như sau:

    Theo Giáo luật, Điều 1292 qui định: “… Giám mục giáo phận với sự thỏa thuận của Hội đồng Kinh tế, Hội đồng Tư vấn và những người quan thiết. Giám mục Giáo phận cần có sự thỏa thuận của những người ấy khi muốn chuyển nhượng một tài sản của Giáo phận”. Linh mục Nguyễn Tùng Cương chỉ là quản lý Toà Giám mục lúc đó, không là chủ sở hữu tài sản, không có thẩm quyền quyết định tài sản của Giáo hội Công giáo. Chúng tôi biết chắc linh mục Nguyễn Tùng Cương chỉ làm bản kê khai chứ không hiến, không có quyền hiến.

    Văn bản của Bộ Xây dựng nói trên, cũng đã không đề cập đến chính sách của Nhà nước về cải tạo nhà cửa là chính sách nào? Văn bản pháp luật nào có hiệu lực cho việc chiếm đoạt tài sản trên.

    Văn bản 05/BXD - QLN ngày 6/11/2007 nói rằng, linh mục Nguyễn Tùng Cương đã “bàn giao cơ sở nhà đất 40a (nay là số 42 phố Nhà Chung) qua để Nhà nước quản lý” là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Tài sản nói trên là của Giáo hội Công giáo Việt Nam, hoàn toàn không phải giữ hộ Nhà nước, không mượn, xin hay được Nhà nước cấp, không phải là tài sản trái pháp luật hay được Tòa án giao quản lý, nên không thể “bàn giao qua Nhà nước”.

    Không một linh mục đơn lẻ nào có thể đại diện Tòa Giám mục và bàn giao tài sản của Giáo hội cho Nhà nước. Cơ sở nhà đất 40 Nhà chung bao gồm cả Tòa Khâm Sứ cũ đã, đang và sẽ là tài sản của Giáo hội Việt Nam. Các cơ quan đã dùng các biện pháp khác nhau để chiếm đoạt một cách không ngay tình và sử dụng từ đó đến nay là việc làm bất hợp pháp.

    Xuyên tạc những hành vi của Cộng đồng dân Chúa vào ngày 25/1/2008. Chúng tôi xin trả lời từng điểm:

    1 - Huỷ hoại tài sản Nhà nước (Trụ sở phòng Văn hoá Thông tin và Nhà văn hoá quận Hoàn Kiếm). Chính các cơ quan Nhà nước đã tự tiện phá dỡ, huỷ hoại những tài sản của Giáo hội đã và đang có từ xưa cho đến tận ngày hôm nay. Cụ thể là việc tháo dỡ mái nhà và sàn nhà bằng gỗ lim vào tháng 12/2007 vừa qua.

    2- Lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép (đã dựng tượng Đức Mẹ, Thánh giá và 2 lều bạt trên khuôn viên nhà số 42 phố Nhà Chung)

    Không ai lấn chiếm đất công, đây là đất đai thuộc quyền sử dụng của Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, chưa hề cho, nhượng, hay bán vào bất cứ thời điểm nào cho bất cứ ai. Thậm chí cũng không có văn bản tịch thu. Mấy tấm bạt để che mưa không thể coi là việc xây dựng. Tại cây đa, trước đây đã có hang đá, Thánh giá và tượng Đức Mẹ, việc đặt tượng và Thánh giá là để đưa tài sản đó về nguyên trạng của nó trước khi bị chiếm đoạt.

    3 - Tập trung đông người và cư trú bất hợp pháp, gây mất trật tự giao thông công cộng và nơi làm việc của cơ quan Nhà nước khu vực số 42 phố Nhà Chung.

    Trong bằng khoán điền thổ lập năm 1933 ghi rõ ràng khu đất này là khu Nhà thờ Chính toà. Vì thế, cầu nguyện tại đây là cầu nguyện trong khuôn viên Nhà thờ Chính Toà. Giáo dân chỉ đến đọc kinh cầu nguyện chứ không cư trú nên không có việc cư trú bất hợp pháp ở đây. Đây có phải là cơ quan Nhà nước không khi trước đây cho mở vũ trường. Còn những tấm bảng “Nhà Văn hoá”, “Phòng VHTT”, “Phòng TDTT” mới chỉ được treo lên vào lúc 17g30 ngày 26/12/2007 vừa qua.

    4 - Có hành vi xúc phạm, lăng mạ và gây thương tích cho cán bộ, nhân viên Nhà nước.

    Thật quá sức xuyên tạc! Bản thân giáo dân cầu nguyện rất ôn hòa và bình tĩnh. Chính cán bộ Nhà nước, các nhân viên bảo vệ là người đã lạm dụng quyền lực, xúc phạm, lăng mạ và đánh công dân một cách nghiêm trọng. Họ là người vi phạm pháp luật cần được nghiêm trị. Chúng tôi có đầy đủ hình ảnh về việc đánh người của nhân viên Nhà nước.

    5 - Tổ chức cầu nguyện trái quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo". Tại đây, giáo dân và một số giáo sĩ đã đẩy đổ 2 cổng sắt, tràn vào sân và xô xát với một số bảo vệ và cán bộ đang làm việc tại Nhà văn hoá quận Hoàn Kiếm. Trong quá trình xô xát, các giáo dân quá khích đã đánh bị thương một số cán bộ nhà văn hoá, trong đó, có một người bị trọng thương, hiện vẫn đang được cấp cứu tại bệnh viện. Sau vụ xô xát khiến nhiều người bị thương, các giáo dân và một số giáo sĩ đã dựng một cây Thánh giá cao khoảng 5m trước phòng làm việc của Phòng Văn hoá - Thông tin và Nhà văn hoá quận Hoàn Kiếm. Tiếp đó, họ đã đập khoá cửa, dỡ biển cơ quan, treo khẩu hiệu và dựng lều bạt nilon để ăn ở, cầu nguyện ngay trong khuôn viên số nhà 42 phố Nhà Chung".
    Hoạt động cầu nguyện của giáo dân là đúng mực và hợp pháp. Các công an thường phục đã đánh người và bắt giữ giáo dân một cách bất hợp pháp. Vì hoàn cảnh như vậy, giáo dân đã yêu cầu thực thi công lý và đòi hỏi thả người. Chính việc bắt và đánh người đã khiến dân bức xúc. Họ tràn vào vì muốn những người bị bắt phải được thả, những kẻ đánh người phải được pháp luật trừng trị. Bản thân hàng giáo phẩm đã rất có trách nhiệm, kêu gọi giáo dân bình tĩnh, giải quyết sự việc trong ôn hòa. Nếu không có các linh mục ổn định, chắc chắn đã có ẩu đả lớn. Chính cán bộ Nhà nước đã đánh đập giáo dân trọng thương phải đi cấp cứu, chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về sự việc này. Đây là những người có trách nhiệm để xảy ra tình trạng đáng tiếc khi bắt đánh người gây kích động giáo dân.

    Việc một số thông tin trên mạng internet là của nhiều người đưa lên, Toà Tổng Giám mục Hà Nội không chịu trách nhiệm, nhưng đa số thông tin là chính xác và là quyền của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo vệ thể hiện tại điều 4 của Luật Báo chí. Chính những thông tin của Đài PT- THHN, của báo Hà Nội mới và báo An ninh thủ đô mới là những thông tin xuyên tạc sự thật một cách ác ý, nhằm bôi nhọ hàng ngũ tu sỹ và giáo dân chúng tôi. Những sự việc trên, diễn ra ngay giữa ban ngày, trước sự chứng kiến của đông đảo giáo dân, nhân dân khu vực và những người qua lại, được các hãng thông tấn nước ngoài chứng kiến tận mắt. Việc thông tin một chiều, xuyên tạc sự thật trắng trợn của Đài PT & THHN, báo Hà Nội mới và báo An ninh thủ đô là một bằng chứng cho thấy việc bất chấp sự thật và công lý, làm hoen ố hình ảnh một Nhà nước Việt Nam pháp quyền. Chính những hành động này, đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần đoàn kết dân tộc hiện nay.

    Với những nội dung đã nêu trên, căn cứ Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam, Luật Báo chí (đ.28), chúng tôi yêu cầu:

    1- Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, báo Hà Nội mới và báo An ninh thủ đô phải nghiêm túc nhìn nhận sự việc một cách khách quan và sự thật, tổ chức điều tra và tiến hành đính chính theo quy định của Pháp luật hiện hành. Xuất trình tất cả những bằng chứng liên quan cụ thể.

    2- Truy cứu trách nhiệm cá nhân, tổ chức đã cố tình xuyên tạc sự thật về những vấn đề nêu trên.

    3- Trả lời chúng tôi đúng trình tự hiện hành theo Luật pháp đã quy định

    Xin gửi tới Quí vị lời chào vì công lý và sự thật.

    TM. TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI
    CHÁNH VĂN PHÒNG
    (Ký tên & đóng dấu)
    Linh mục Lê Trọng Cung



         Xem tiếp ...

    Nguồn : Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ

    Chung Quanh Biến Cố Tòa Khâm Sứ Hà Nội (2)

     

    Nguyễn Đức Tuyên, CA, HK

     

    IV. Các Phóng Viên Nhìn Lại Biến Cố Trong Tuần Qua.

     

    Sau gần một tuần cầu nguyện, giáo dân đã ý thức sâu xa và rõ ràng hơn vấn đề. Tuy nhiên, một số giáo dân cho rằng cần phải cảnh giác và đề phòng những tin đồn gây hoang mang chia rẽ. Họ sẽ không chỉ cầu nguyện tại Tòa Khâm Sứ mà thôi. Họ sẽ tiến đi cầu nguyện ở những nơi khác nữa mà trước mắt có thể là tại bờ hồ Hoàn Kiếm, trước UBND thành phố Hà Nội, nơi vài tháng trước giáo dân xứ Thái Hà cũng đã tập trung giăng biểu ngữ hai buổi để đấu tranh đòi đất đai.

     

    V. Vài Nhận Định

             

    1. Tối ngày 18 tháng 12 năm 2007, sau khi tham dự Đêm Thánh Nhạc của Linh mục Kim Long, người giáo dân Hà Nội đã cùng nhau tiến sang khu đất Tòa Khâm Sứ, miệng hát Kinh Hòa Bình, tay cầm nến và họ Cầu nguyện. Trong suốt một tuần lễ tiếp theo, giáo dân cũng lập lại hành vi đó và họ tiếp tục Cầu nguyện.

    Tại sao lại có sự kiện đó và nó mang ý nghĩa gì?

    Đối với những người không cùng niềm tin tôn giáo, nhất là những anh em vô thần, có thể coi đây là một hành vi khó hiểu, nếu không nói là “một hành vi chính trị” không hơn không kém. Đối với một số người khác, do thói quen nghi ngờ và lối sống thủ đoạn hầu như đã thấm vào xương tủy, cũng khó có được một sự cảm thông hoặc tìm ra được ý nghĩa của sự Cầu nguyện đó.

    Theo giáo huấn Công giáo, Cầu nguyện là trung tâm đời sống của nguời tín hữu:

    “Lời cầu nguyện của Kitô hữu đích thực ... dẫn tới việc chia sẻ đối thoại của chính Thiên Chúa Con, với Thiên Chúa Cha theo lời diễn tả tuyệt vời của thánh Phaolô trong thơ gởi các tín hữu ở Galata: “Vì anh chị em là con cái, Thiên Chúa đã gởi Thần Khí của Chúa Con đến trong trái tim anh chị em, kêu lên, ‘Abba! Cha!’” (Gl 4:6). Lời cầu nguyện không phải là việc làm trong muôn vàn, nhưng là tại chính trung tâm cuộc sống của Chúa Kitô. Lời cầu nguyện hướng sự chú ý của chúng ta ra khỏi chúng ta và hướng sự chú ý của chúng ta vào Chúa. Lời cầu nguyện đổ đầy trí óc bằng chân lý và đem hy vọng cho trái tim. Nếu không có kinh nghiệm cầu nguyện nồng nàn sâu thẳm thì sự tăng trưởng cuộc sống luân lý sẽ nông cạn.” [1]

    Và nguời tín hữu công giáo coi lời Cầu nguyện như hơi thở: “Thực sự mà nói, thế giới ngày nay không dành nhiều chỗ cho nhu cầu cầu nguyện. Nhịp độ cuồng nhiệt của hành động hàng ngày, cùng với tính cách lấn lướt của các phương tiện truyền thông ồn ào và thường là phù phiếm, thực sự không phải là thứ dẫn tới sự chiêm niệm bề trong cần thiết cho việc cầu nguyện. Trong trường hợp đó, cũng có nhiều khó khăn quan trọng hơn nữa: người thời nay có quan điểm về tôn giáo càng ngày càng nhẹ đối với thế giới và cuộc đời. Tiến trình trần tục hóa dường như đã làm cho họ tin rằng quá trình các biến cố có thể được giải thích đủ do sự tác động lẫn nhau của những lực nội tại, độc lập với sự can thiệp từ trên cao. Những thành quả của khoa học và kỹ thuật cũng cổ vũ lòng tin của họ rằng họ đã có, và sẽ tiếp tục gia tăng, khả năng khống chế mọi hoàn cảnh, hướng họ đi theo những ước muốn của họ.

    Cầu nguyện phải được bày tỏ trong sự cam kết vô điều kiện thi hành bác ái đối với tha nhân. Vì thế, cầu nguyện xác thực phải là những việc bác ái, và chỉ có những việc đó mà thôi.

    Thực ra, vì là thụ tạo, bản chất bất toàn và khốn khó, nhân loại tự nguyện hướng tới Thiên Chúa Đấng là nguồn mọi ân sủng, để chúc tụng Người, cầu xin, và tìm kiếm trong Người để thỏa mãn ước vọng day dứt bừng bừng cháy trong trái tim họ…. Các Kitô hữu biết rằng đối với họ thì cầu nguyện cần thiết như hơi thở, và khi họ đã nếm sự dịu ngọt của việc đối thoại mật thiết với Thiên Chúa, họ không ngại ngùng dìm mình trong sự dịu ngọt đó với lòng ký thác thảnh thơi”. [2]

    Câu hỏi tiếp theo được đặt ra: Tại sao lại cầu nguyện với Đức Mẹ Maria?

    Suốt dòng lịch sử loài người, kể từ lúc Ngôi Hai nhập thể, Đức Mẹ xuất hiện nhiều lần với con cái nhân loại, lúc riêng tư, lúc công cộng, để săn sóc, an ủi, đặc biệt là để đem đến một Sứ điệp nào đó, trong một thời điểm đặc biệt.

    Trong niềm tin công giáo, Đức Mẹ là nhịp cầu hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người. Mẹ thể hiện ơn gọi là một thụ tạo chia sẻ đời sống thần linh vì sự hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa trong sự vâng phục tuyệt đối và tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Mẹ cũng hiệp thông với con người. Những ai từng có đời sống cầu nguyện, năng tiếp xúc với Mẹ, hẳn có kinh nghiệm quí báu này. Khi đón nhận Chúa Giêsu vào lòng, Mẹ cũng đón nhận Hội thánh như con Mẹ.

    Bức tượng Pieta do điêu khắc gia Michelangelo thực hiện từ năm 1498 và hòan tất năm Thánh 1500, mô tả Chúa Giêsu tử nạn trên tay Đức Mẹ Maria, được đặt tại Đền Thánh Phêrô ở Rôma. Người công giáo chiêm niệm bức tượng Sầu Bi Pieta biểu lộ tình Mẫu Tử vô biêngiữa Mẹ và Chúa Giêsu tới tình mẫu tử giữa Đức Mẹ với người tín hữu trong cuộc lữ hành trần thế. Đức Mẹ Sầu Bi là Đấng ủi an mọi tâm hồn đau khổ, cho nên họ đến với Đức Mẹ để tìm sự an ủi và nâng đỡ, phù trợ; ít nhiều giống như người con Phật đến với Phật Bà Quan Âm.

    Vì vậy, trong tiến trình đòi công lý, người công giáo không hô hoán khẩu hiệu, không sắt máu, mà thể hiện ý chí của mình trong việc Cầu nguyện, xin Ơn Trên soi sáng cho nhà cầm quyền biết thế nào là đường ngay, lối thẳng, trả lại công bằng cho những người bị áp bức. Sức mạnh của việc Cầu nguyện sẽ làm thay đổi con người.

    2. Về việc nhà nước chiếm đoạt đất đai của dân oan khắp nước, của các tôn giáo, là một vấn đề rất lớn mà ta vẫn chứng kiến hàng ngày.

    Riêng khu vực Hà Nội, hồi trước, Toà Giám Mục sở hữu 83 cơ sở khác nhau trong thành phố, tập trung nhất tại Phố Nhà Chung, phố Hàng Trống, phố Tràng Thi. Các cơ sở nhà dòng, nhà xứ cũng bị nhà nước trưng thu khá nhiều. Có Dòng Saint Paul, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Lasan, Dòng Kín, Trường Dũng Lạc, Chủng viện Liễu Giai, Nhà thờ Đa-minh, Nhà in Tê-rê-xa… bị trưng dụng Lần cuối cùng kiểm kê và sau đó bị Uỷ Ban Quân Quản Hà Nội chiếm dụng nhiều cơ sở là thời Cha Nguyễn Tùng Cương, còn đang làm quản lý tại Toà Giám Mục Hà Nội, sau này ngài được bổ nhiệm làm Giám Mục Hải Phòng năm 1979 và qua đời năm 1999.

    3. Đây là một cuộc đòi đất có tổ chức, có kế hoạch, âm ỷ từ lâu của các tín hữu công giáo miền Bắc nói chung và Tổng Giáo Phận Hà Nội nói riêng. Cuộc biểu lộ ôn hòa nhưng có sức mạnh tinh thần tiềm ẩn này phù hợp với thiên thời nhờ mùa Giáng Sinh là dịp giáo dân nghỉ ngơi, hướng lòng về Thiên Chúa và Giáo hội, qui tụ đông đảo tại các thánh đường và tiếp theo là thời gian “luân phiên cầu nguyện” qui tụ giáo dân tại nhà thờ Chính Tòa trong nhiều tuần lễ, địa lợi là vùng thủ đô, nơi có nhiều tai mắt quốc tế, chính quyền không dễ xử sự thô bạo với một tập thể có kỷ luật, bất bạo động, và nhân hòa vì lòng người tín hữu từ linh mục, nam nữ tu sĩ, đến giáo dân, ai ai cũng sẵn sàng và can đảm biểu lộ sự dấn thân cho một mục đích đòi công lý;  họ chứng tỏ rất quyết liệt và kiên trì trong hơn một tuần qua.

    4. Ban tổ chức đã lựa chọn phương pháp tranh đấu ôn hòa, nói theo thời thượng là “phi chính trị”, không hô hóan khẩu hiệu, không chăng biểu ngữ, không đấu tranh bạo động, vẫn giữ tương quan “nhã nhặn nhưng cương quyết” đối với chính quyền. Ngoài mặt, thể hiện sự đòi hỏi bằng sự cầu nguyện, xác định chủ quyền bằng việc đặt tượng Đức Mẹ Sầu Bi trong khuôn viên Tòa Khâm Sứ cũ và hàng ngày lui tới cầu nguyện, nếu không vào bên trong được thì kiên trì đứng ngoài hàng rào. Nói cho cùng, từ trước khi bị cưỡng chiếm, dưới gốc cây đa cổ thụ, đã có hang đá Đức Mẹ, nay tái lập lại để tôn kính và cầu nguyện với Ngài, cũng là bình thường ở một xã hội bình thường, biết tôn trọng sự thật và kính trọng sự thánh thiêng của các tôn giáo.

    5. Có một sự kiện đáng lưu ý là cộng đồng bên ngoài có vẻ như chỉ đứng xa quan sát, không lên tiếng về một biến cố liên tục xảy ra trong cả tuần lễ, trước thanh thiên bạch nhật với số quần chúng từ 2,000 tới 5,000 nguời. Điều này được hiểu như là: vì lẽ trước đây các chức sắc công giáo, bởi những lý do tế nhị, thường giữ im lặng đối với những sôi động trong xã hội, làm cho nhiều người khó chịu, nhưng mặt khác, lại đuợc nhiều nguời coi là khôn ngoan, cẩn trọng, thì nay, xã hội cũng xử sự một cách “tương kính”. Vả lại những người tổ chức cầu nguyện cũng không mong mỏi có sự đáp ứng từ bên ngoài, để tránh sự cáo buộc của chính quyền và điều này giúp cho những nguời điều khiển, dễ dàng kiểm soát những diễn tiến xảy ra ngoài ý muốn, phát xuất từ lòng sốt sắng hoặc vì gài bẫy.

    6. Trước sự kiện “cầu nguyện để đòi công lý” giới truyền thông của nhà nước im lặng đã đành, giới truyền thông của nguời Việt hải ngoại, xem ra cũng dè dặt. Các cơ quan truyền thông công giáo như Eglise d’Asie, UCA News, Zenit News, Đài Vatican…không thấy lên tiếng. Không thể nào có chuyện họ không biết đến những gì đang xảy ra ở Hà Nội. Phải chăng họ chưa thấy cần lên tiếng. Ngoài VietCatholic chỉ có Đài Veritas làm công tác thông tin. Hình như tin được in ra ở website Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam trước. Gần đây Little Saigon Radio, Bolsa Radio, RFA,  BBC và RFI có các cuộc phỏng vấn, cũng rọi sáng thêm đôi chút. Nhưng hình như những người được phỏng vấn chỉ muốn trình bầy trung thực, khác hẳn với phương pháp tuyên truyền là muốn “khuếch đại” sự kiện.

    Với kỹ thuật khoa học thời nay, người dân trong nước vẫn có thể trao đổi với nhau qua các báo điện tử và thư tín điện tử. Nhờ đó họ được biết cũng như được trình bày quan điểm của mình về những gì đang xảy ra chung quanh họ. Việc trao đổi và phổ biến thông tin cho nhau về những diễn biến tại Toà Khâm Sứ Hà Nội theo một luồng riêng tư, tương đối phổ biến. Nó không thu hẹp trong phạm vi Giáo Phận Hà Nội, mà cũng lan rộng trên phạm vi toàn quốc, tới được những tín hữu tại các giáo phận khác.

    7. Biến cố cầu nguyện để đòi công lý này, có người cho rằng đó là biến động tự phát của tín hữu Hà Nội. Theo sự quan sát, đó chỉ là cách nói làm nhẹ vấn đề, chưa muốn làm to chuyện. Đây là một biến động có tổ chức, có lớp lang, trải rộng cả miền Bắc vì trong hàng ngũ những người đi cầu nguyện, có mặt tín hữu nhiều giáo phận công giáo. Họ lượng giá và lượng sức mình khi hành động.

    8. Với kinh nghiệm chuyên chính trên 50 năm, nhà cầm quyền không thể không thấy vấn đề. Họ sẽ điều tra, phân tích, “phát hiện” và có đề án đối phó. Bổn cũ soạn lại câu chuyện thực dân chắc cũng xuất hiện đây đó. Vì vậy cuộc dân oan khiếu kiện lần này sẽ còn cam go. Lịch kính viếng và cầu nguyện Đức Mẹ trong 6 tuần lễ liên tiếp sau Giáng Sinh tại Tòa Khâm Sứ dành cho 12 giáo xứ thuộc Giáo Phận Hà Nội là một dấu hiệu kiên trì và liên tục của giáo dân Hà Nội.

    Nếu nhà cầm quyền vì lòng tham chiếm đất, chỉ thấy cái lợi nhỏ trước mắt và ỷ sức mạnh có võ khí trong tay, xử sự như nhiều vụ dân oan khác thì kết quả sẽ không lường trước được. Có thể nó là một diễn tiến hòa bình đem đến một kết quả như người giáo dân mong muốn.

    Ý dân là ý Trời.

     

    ______________________________________

     

    Nguồn tài liệu kể cả hình ảnh, do các phóng viên Trần Minh Bạch, Nguyễn Thanh Bình, Thanh Tâm, Thao Thức, Thẳng Tiến, Trần Minh Thiện, Đặng Nhật Trình, tường thưật trên Website Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Radio Veritas và ViêtCatholic.

    Nguồn sử liệu: Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Bùi Đức Sinh

    Kiểm chứng và bổ túc: trao đổi qua  thân hữu ở trong nước


     

    [1] [TPS 39/2, 1994. 115-6]

    [2] [TPS 38/1, 1993 44-5]

     Nguồn: Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ

    Chung Quanh Biến Cố Tòa Khâm Sứ Hà Nội (1)

     
    Nguyễn Đức Tuyên, CA, HK, tóm lược
     
    Vấn đề liên hệ giữa nhà cầm quyền cộng sản và Giáo hội Công giáo Việt Nam, tuy bề ngòai có nhiều cải thiện, nhưng tự căn bản, vẫn còn nhiều khác biệt và gai góc. Riêng vấn đề đất đai thì dường như nhà cầm quyền muốn nắm giữ những cơ sở đã chiếm đoạt được từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, đặc biệt là toàn bộ cơ sở giáo dục, từ mẫu giáo, đến đại học. Trong những năm qua, ngoài những vụ khiếu kiện tại các địa phương, người ta thấy các vị giám mục Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Saigon … chính thức lên tiếng đòi nhà cầm quyền trả lại đất đai bị chiếm đoạt dưới nhiều hình thức.

    Hội Đồng Giám mục, trong kiến nghị ngày 29 tháng 9 năm 1995 đã nêu lên 2 điểm quan trọng: 1) Đề nghị xem xét và cấp thời trao trả Giáo hoàng Học viện tại Đà Lạt; 2) Đề nghị xem xét và trao trả các đất đai và cơ sở của Giáo hội trước đây bị trưng dụng hoặc hiến cách không thỏa đáng (lý do mập mờ, văn bản không hợp pháp, chủ nhân không đồng ý hoặc bị cưỡng ép, vắng mặt v.v.)

    Sau cuộc họp thường niên năm 2005, Hội đồng Giám mục đã làm một văn thư gởi Chủ tịch Nhà Nước và Thủ Tướng Chính phủ, chính thức đề nghị trả lại: Tòa Khâm Sứ, Trung tâm Thánh Mẫu La Vang và Giáo hoàng Học viện Đà Lạt. Vụ trụ sở Tòa Khâm Sứ cũ là cơ sở của Giáo Phận Hà Nội có từ trên 100 năm, bị chiếm đọat 50 năm qua mới nổ ra từ ngày 18 tháng 12 năm 2007, là một trường hợp điển hình và có thể đem đến những hậu quả không lường trước được.

    Để theo dõi vụ cơ sở tòa Khâm Sứ ở Hà Nội xẩy ra, chúng ta nên coi vài nét lịch sử hình thành Tòa Khâm Sứ của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam; từ việc chiếm đoạt trụ sở đó đến các lá thư “dân oan khiếu kiện” của Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng, Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, của giáo dân Hà Nội, và thái độ của nhà cầm quyền dẫn tới biến cố 18 tháng 12.  Sau hết là vài nhận định:

     

     I.   Tòa Khâm Sứ

    Năm 1923, Đức Giáo Hoàng Piô XI cử Đức Cha Lécroart, Dòng Tên, làm Khâm Sai sang thăm viếng Giáo hội Việt Nam và đến năm 1925, ĐGH ban Tông thư Ex Officio supremo đề ngày 20 tháng 5 thiết lập Toà Khâm Sứ tại Đông Dương và Thái Lan, trụ sở đặt tại Kinh đô Huế. Ngài cử Đức cha Constantino Ayuti (1876-1928), người Ý làm Khâm Sứ đầu tiên và Đức Khâm Sứ Constantino Ayuti đã cho xây trụ sở ở Huế nhưng công việc chưa hoàn tất thì ngài từ trần. Trụ sở Tòa Khâm Sứ tại Huế đuợc khánh thành ngày 1 tháng 5 năm 1928. ĐGH Piô XI cử Đức Cha Columban Dreyer, người Pháp thuộc Dòng Phanxicô làm Khâm Sứ kế vị Đức Cha Constantino Ayuti vào năm 1929. Năm 1937 Đức Cha Antonin Drapier, Dòng Đaminh được cử làm Khâm Sứ thay Đức Cha Columban Dreyer.

    Năm 1950 ĐGH Piô XII đặt Đức Cha John Dooley, người Ái Nhĩ Lan (Irish) Dòng Truyền Giáo Columban làm Khâm Sứ thay thế Đức Khâm Sứ Drapier. Ngài dời trụ sở ra Hà Nội và đặt trụ sở Toà Khâm Sứ cạnh Toà Giám Mục Hà Nội.

    Năm 1959 Đức Khâm Sứ John Dooley bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trục xuất. Mấy tuần sau các nhân viên Toà Khâm Sứ cũng bị trục xuất. Tòa Thánh quyết định lập tòa Khâm Sứ tại Saigon và cử Đức Cha Mario Brini làm Khâm Sứ.

    Cũng cần đính chính một việc, trong cuộc phỏng vấn của cô Nhã Lan, Đài Little Saigon Radio vào ngày 20 tháng 12 năm 2007, L.M. Trần Công Nghị có nói Tòa Khâm Sứ đuợc thiết lập tại Hà Nội vào năm 1923 . Điều này không đúng.

    Từ năm 1959, chính quyền thành phố Hà Nội lấy Toà Khâm Sứ dùng vào các việc khác nhau.

    Một bức tường ngăn cách giữa Tòa Giám Mục và Toà Khâm Sứ đã được xây lên, nhưng ngày trước không có bức tường ấy. Một người cho biết thời còn làm lễ sinh, chính quyền đã vào ép cha Mai chứng kiến họ xây tường ngăn cách Toà Khâm Sứ với Toà Giám Mục và phân ranh giới hai bên.

    Tưởng cũng nên ghi vài dòng về khu vực công giáo thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, để những ai đã xa xứ sở lâu năm hoặc những người chưa có dịp về Hà Nội biết được vị trí. Khu vực công giáo này ở gần bờ hồ Hoàn Kiếm, bao quanh bởi các phố Nhà Chung-Lý Quốc Sư, Ấu Triệu, Phủ Doãn và Trường Thi. Nếu đi từ phía Trường Thi vào, trên phố Nhà Chung, ta sẽ gặp Tòa Khâm Sứ cũ, kế tiếp là Tòa Giám Mục và nhà thờ Chính Tòa, còn gọi là nhà thờ Thánh Guise, xây cất năm 1886. Khu vực Tòa Giám Mục bị chắn bởi dẫy phố Nhà Chung, phía sau dẫy phố là Nhà Chung Hà Nội và Đại Chủng Viện, đó là chưa kể khu đất bị chiếm dụng làm trường trung học. Đầu và bên hông nhà thờ Chính Tòa có lối đi vào Nhà Chung và Đại Chủng Viện. Nếu tiếp tục từ phố Nhà Chung đi sang phía Ấu Triệu là phố Lý Quốc Sư.

    Ngôi nhà Tòa Khâm Sứ cũ, có thời kỳ được chính quyền dùng làm Cung Thiếu nhi. Trong thời gian này họ xây một số công trình ở phía trước và phía sau toà nhà chính. Mấy năm trước đây, họ phá toà nhà phía trước, tính tái quy hoạch và xây dựng công trình gì đó. Dạo ấy, Tòa Giám Mục Hà Nội có gửi thư đi các giáo xứ để báo động. Các công việc sửa sang, xây dựng bị dừng lại. Tuy nhiên, trong thời gian này, ngôi nhà nhỏ mới xây quay mặt ra phố Nhà Chung vẫn dùng làm nơi bán phở. Còn ngôi nhà mới xây phía sau ngôi nhà chính thì được dùng làm địa điểm kinh doanh ăn chơi, gây náo động cạnh khu vực tôn nghiêm là Tòa Giám Mục và Nhà thờ Chính Tòa.

    Khi Đức Hồng Y Trịnh Như Khuê đòi lại cơ sở đặt Tòa Khâm Sứ, nhà cầm quyền nói quanh rằng Toà Khâm Sứ không thuộc đất Tòa Tổng Giám Mục, để khi nào có quan hệ ngoại giao với Vatican thì sẽ trả. Tòa Tổng Giám Mục đã đưa ra hai bằng chứng: 1) Giấy Điền Thổ, xác nhận chủ quyền của Địa Phận Hà Nội. 2) Thư của Đức Khâm Sứ Dooley trước khi ra đi cám ơn Đức Cha Trịnh Như Khuê đã cho ngài mượn đất làm Tòa Khâm Sứ và ngài đã trả lại cho Địa Phận Hà Nội.

    Mặc dù có sự phản đối và nhiều đơn từ đòi lại, mới nhất là ngày 03.12.2007 của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, nhưng không thấy chính quyền trả lời. Từ sáng 13.12 .07, người ta bắt đầu dỡ mái Toà Khâm Sứ và tiếp tục đến ngày 18.12, nghe nói định dùng làm ngân hàng. Trong khi đó khoảng sân rộng phía trước Toà Khâm Sứ, họ đã cho siêu thị điện máy Nguyễn Kim ở phố Tràng Thi thuê làm bãi giữ xe.

     

    II. Các Lá Thư Khiếu Kiện Đòi Lại Đất Tòa Khâm Sứ Bị Chiếm Dụng

    1. Thơ của ĐHY Phạm Đình Tụng, Hội Đồng Linh Mục và Giáo Dân

    Năm 2000, người ta định xây dựng khu giải trí ở Tòa Khâm Sứ với ngôi nhà 7 tầng và bể bơi ngay cạnh ngôi nhà khách Tòa Tổng Giám Mục.  Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng gửi thư đến các cấp chính quyền từ Trung ương đến Hà Nội để phản đối, nhưng ba tháng sau không được hồi đáp. Trái lại, công trình vẫn đóng cọc thi công như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ đến khi văn thư thứ 2 gửi đi có chữ ký của Tòa Giám Mục, Hồng Y Tụng, Linh mục đoàn Hà Nội được phổ biến cho toàn thể giáo dân, và giáo dân các xứ đạo nô nức ký tên, thì mới có biến động từ phía chính quyền. Công trình phải dừng lại.

    2. Thơ của ĐTGM Ngô Quang Kiệt

    Hà nội ngày 15 tháng 12 năm 2007

    Gửi: Các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh

    Và anh chị em giáo dân Tổng Giáo phận Hà nội.

    Anh chị em thân mến,

    Từ nhiều năm qua, sinh hoạt của Tổng Giáo Phận bị giới hạn vì thiếu thốn cơ sở vật chất. Nay trong tình hình xã hội đổi mới, số linh mục ngày càng tăng, các tổ chức sinh hoạt ngày càng nhiều, cơ sở Tòa Tổng Giám Mục càng trở nên chật hẹp. Đã có những buổi lễ người tham dự phải tràn ra đường phố. Đã có những tổ chức sinh hoạt như sinh hoạt giới trẻ phải khổ sở chen chúc nhau trong sân Nhà Chung.

    Hơn nữa, Tòa Tổng Giám Mục Hà nội còn là nơi đặt trụ sở chính của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thế mà hiện nay, vẫn chưa có đủ phương tiện cần thiết cho những hoạt động tối thiểu của cơ quan quan trọng, là tổ chức đứng đầu Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Thậm chí chưa có được một căn phòng nào dành riêng cho Hội đồng Giám mục. Hoàn cảnh thật đau lòng.

    Vì thế từ nhiều năm nay, Tòa Tổng Giám Mục và Hội đồng Giám mục đã nhiều lần đệ đơn lên Chính quyền các cấp xin giao lại Tòa Khâm Sứ để Giáo hội có đủ phương tiện cần thiết cho những hoạt động tôn giáo tối thiểu. Đề nghị chính đáng của tôn giáo chưa được đáp ứng, trong khi đó Quận Hòan Kiếm lại dùng Tòa Khâm Sứ để kinh doanh buôn bán. Trước đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng. Và ngày 13-12-2007 vừa qua thêm kinh doanh giữ xe với quang cảnh thật hỗn độn.

    Vì thế, xin anh chị em hãy tích cực cầu nguyện để những nơi tôn nghiêm của tôn giáo được tôn trọng, nhu cầu chính đáng của Giáo phận và của Hội đồng Giám  mục được đáp ứng và những sinh hoạt tôn giáo được thuận lợi, góp phần xây dựng xã hội, đặc biệt khuôn mặt thủ đô được tốt đẹp.

    Thân ái chào anh chị em.

    +Giuse Ngô quang Kiệt

    Tổng Giám mục Hà nội

    3. Thơ của Tập Thế Giáo Dân Hà Nội Năm 2007

    Trong lá thơ đề ngày 23 tháng 12 năm 2007, có các điểm chính như sau, làm cho vấn đề sáng tỏ hơn:

    Đất Tòa Khâm Sứ là tài sản của Tổng Giáo Phận Hà nội từ hơn 100 năm nay. Tuy Tòa Khâm Sứ mượn đất làm văn phòng nhưng hai bên vẫn liền lạc với nhau, không có tường rào ngăn cách. Và cả hai nhà đều có địa chỉ duy nhất mang số 40, phố Nhà Chung, Hà nội.

    Tại gốc cây đa vẫn có hang đá Đức Mẹ với tượng Đức Mẹ nhìn thẳng vào tiền sảnh của Tòa Tổng Giám Mục. Mỗi buổi tối mọi người trong Tòa Tổng Giám Mục vẫn đến đọc kinh kính viếng Đức Mẹ cách dễ dàng vì cùng chung một sân.

    Từ 50 năm trước, sau khi công an vào can thiệp, tường mới được xây lên và xuất hiện số 42, phố Nhà Chung.

    Khu đất nằm ngay trong Tòa Khâm Sứ đã được một cơ quan dùng vào mục đích kinh doanh ngay từ ban đầu.

    Giáo dân vui mừng khi thấy Phật giáo được cấp đất, tại Đà Lạt có 50 ha để xây Thiền Viện Trúc Lâm, tại Vĩnh Phúc có 50 ha để xây Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, và tại Hà Nội có 10 ha đất để xây dựng Viện Phật học, tại Nam Định có 10 ha để xây dựng Thiền Viện. Ước mong mọi tôn giáo đều được như thế.

    Giáo dân đề nghị Chính quyền các cấp hãy trân trọng ý kiến của Hội đồng Giám mục và của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Hãy giao lại đất này cho Giáo hội vì đây là đất hương hỏa tổ tiên trong Giáo hội để lại.

     

    III. Phản Ứng Của Các Tín Hữu - Việc Từng Ngày

    18.12.2007

    Tối 18.12, có khoảng 4,000 người tới khuôn viên Đại Chủng Viện Hà Nội tham dự buổi trình diễn Thánh Ca kỷ niệm 50 năm sáng tác thánh nhạc của Linh Mục Kim Long.

    Ðêm Thánh Ca trình diễn 19 bài hát được tuyển chọn trong hơn 3,000 bài thánh ca của tác giả. Ðêm Thánh Ca đã diễn ra hết sức long trọng với sự tham gia biểu diễn của Ðại Chủng Viện, Hội dòng Mến Thánh Giá và Phaolô Hà Nội, ca đoàn các giáo xứ Hàm Long, Nam Ðịnh, Nhà thờ Chính Tòa, Thái Hà thuộc giáo phận Hà Nội, ca đoàn Vượt Qua của Nhà thờ Chính Tòa Sài Gòn.

    Lời Kinh Hoà Bình của ca đoàn tổng hợp vừa dứt trong tiếng vỗ tay của chừng 4,000 người tham dự thì tiếng cha Giuse Nguyễn Khắc Quế, hiện đang làm chính xứ Thạch Bích, Hà Tây vang lên. Ngài nói đến việc đòi đất Toà Khâm Sứ theo nội dung bức thư chung của Đức Tổng Giám Mục gửi cộng đồng dân Chúa ngày 15 tháng 12. Thế là khoảng 2,000 người, có linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân trong và ngoài giáo phận đến từ nhiều giáo phận miền Bắc. Tất cả trong trang phục lễ hội. Từ sân Đại Chủng Viện đoàn người đi qua khu vực Toà Giám Mục tiến thẳng sang sân Toà Khâm Sứ cũ, nơi đang bị chiếm dụng bất công và bất hợp pháp từ gần nửa thế kỷ nay trong đêm "Thắp Nến hát Thánh ca cầu nguyện đòi Công lý". Lúc đó là 22 giờ tối ngày 18.12. 07.

    Họ tiến thẳng vào cửa chính Toà Khâm Sứ, nhưng cửa chính đã khoá. Thánh giá nến cao dừng lại nơi bậc cấp trên cùng sát cửa chính, quay ra và hướng xuống sân cho cộng đoàn đông đảo chiêm ngưỡng và cầu nguyện. Đoàn người tiếp tục tiến vào. Họ đứng chật cái sân rộng mênh mông. Nhiều người đứng tràn ra hai bên hè Phố Nhà Chung.

    Họ vẫn cầm nến sáng trong tay. Họ tiếp tục cầu nguyện. Rồi lại có tiếng cầu xin Chúa Thánh Thần được cất lên. Rồi lời ca “Lạy Mẹ xin thương đến Giáo phận con đây” lại được cất lên.

    19.12.2007

    Tòa Tổng Giám Mục vào khoảng 10 g sáng thấy có chiếc “xe càn” của công an, loại xe hay đi rà trên phố và bắt những người và vật vi phạm luật pháp. Có hai dân phòng quân phục chỉnh tề đang ngồi ở sân, nơi cửa nhà khách Toà Tổng Giám Mục.

    Hơn 11 giờ tại nhà thờ Hàm Long, đã in các bài báo tường thuật chuyện xuống đường cầu nguyện đêm hôm  trước

    Nhà thờ Thái Hà, cũng có những bài dán trên bảng tin giáo xứ. Buổi tối tại Thái Hà có lễ khánh thành nguyện đường mới xây dựng trên khu đất giáo dân đấu tranh đòi lại được trong hai tháng qua.

    Có mặt giáo dân của tất cả các giáo xứ trong thành phố khoảng gần 3,000 người. Ở đây cũng đang nóng bỏng chuyện đất đai.

    Kết thúc một ngày, không thấy chính quyền có động thái nào tích cực. Công việc thi công của đơn vị dịch vụ quận Hoàn Kiếm bên Toà Khâm Sứ vẫn tiếp tục.  Cuộc cầu nguyện tối hôm trước của giáo dân mới chỉ làm cho họ dừng chuyện cho Siêu thị Nguyễn Kim nhờ đất làm bãi giữ xe.

    20.12.2007

    Trước Thánh lễ, lúc 8 giờ30 sáng, đoàn tín hữu đông đảo khoảng 4,000 người từ sân Đại Chủng Viện, tiến ra khu vực Tòa Khâm sứ cũ.

    Đi đầu là Thánh Giá nến cao, đội kèn hùng hậu, đoàn cồng chiêng của bà con dân tộc Mường, tiếp đến là tượng Đức Mẹ Sầu Bi ẵm Chúa Giêsu, được nhiều giáo dân rước và đặt trên bậc cao cạnh cây đa, ngay trước cửa Tòa Khâm Sứ. Tại đây cộng đoàn tín hữu cất vang lời kinh “Kính mừng Maria...” và bài hát bất hủ “Kinh hòa bình”. Sau khi cầu nguyện, đoàn chiên lại tiến về sân Đại Chủng Viện, nơi diễn ra Thánh lễ truyền chức linh mục cho 18 thầy phó tế, thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội.

    Đúng 9 giờ 15, đoàn đồng tế từ nhà nguyện Fatima tiến ra lễ đài. Cùng dâng Thánh lễ hôm nay, ngoài Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội, chủ tế, còn có Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn,  ban Giám Đốc và giáo sư của Đại Chủng Viện, nhiều linh mục trong và ngoài giáo phận, bề trên các hội dòng, các nam nữ tu sĩ, chủng sinh và khoảng 5,000 giáo dân.

    Điểm đặc biệt trong thánh lễ truyền chức hôm nay là sau thánh lễ, mọi thành phần dân Chúa lại tiến bước về Tòa Khâm Sứ trong tiếng kèn, tiếng hát. Từng lẵng hoa tươi, từng cành hoa thắm cộng với những nén hương ngát thơm phủ kín dưới chân Thánh tượng Mẹ Sầu Bi, tràn cả lên gần nửa thân cây đa đại thụ.

    Có rất nhiều giáo dân đến từ các giáo xứ ngoài thành phố Hà Nội, như Nam Định, An Phong, Phú Đa, Lan Mát, Chúc Sơn, Phủ Lý, Thạch Bích, Tân Độ, Sở Kiện, v.v... Có cả giáo dân của Thái Bình, Hưng Yên cũng đến dự lễ.

    21.12.2007

    Sáng 21 tháng 12 năm 2007, nhiều người đã đến trước cổng Toà Khâm Sứ để hy vọng có thể vào viếng Đức Mẹ Sầu Bi, nhưng cổng vào đã bị khoá, khác với hôm qua, giờ đây cổng được bảo vệ cẩn thận hơn với ba lần khoá.

    Theo nhiều người cho biết, buổi chiều ngày 20 tháng 12, công an đã cho gọi cả người dùng xe xích lô để chở tượng và những người mà theo họ là “cầm đầu” khi đặt tượng lên gốc cây đa trước Toà Khâm Sứ, giam giữ họ và điều tra đến xế chiều mới cho về.

    Trong lúc cả cộng đồng giáo phận đang dự lễ truyền chức thì mái ngói Toà Khâm Sứ đã được thợ của Công ty Dịch vụ Quận Hoàn Kiếm lợp xong.

    Nghe nói ngày 19.12, chính quyền quận Hoàn Kiếm đã gửi một văn bản trả lời văn thư ngày 03.12 của Toà Giám Mục. Nội dung vẫn khẳng định nhà đất số 42 phố Nhà Chung, tức là Toà Khâm Sứ thuộc sở hữu nhà nước và chính quyền chỉ trả lại khi nào ở trên có chủ trương (!).  Một nguồn tin khác còn cho biết sáng ngày 20.12,  chính quyền có gửi văn thư xin không cầu nguyện bên Toà Khâm Sứ nữa và hứa sẽ giữ nguyên trạng.

    22.12.07

    Sau thánh lễ chiều, đông đảo bà con giáo dân lại tụ họp nhau để cầu nguyện với Mẹ tại mảnh đất Toà Khâm Sứ.

    Tuy nhiên, khác hẳn với mấy ngày hôm trước, hôm nay chính quyền đã tỏ ra thái độ khá căng thẳng, công an liên tiếp gây khó dễ, làm dân chúng phẫn nộ.

    Chính quyền đã gửi công văn tới Toà Giám Mục nói đã ngưng lại việc sửa chữa tháo dỡ mái Toà Khâm Sứ và các công việc sử dụng toà nhà và khu đất này, tuy nhiên, những quán phở trong khu đất vẫn khá đông khách, những tấm bảng hiệu của một ngân hàng vẫn chưa tháo xuống, sân tennis, khu nhà thể thao vẫn hoạt động.

    Trong những ngày tới đây, chắc chắn giáo dân vẫn đều đặn đến viếng Đức Mẹ ở Toà Khâm Sứ này. Tin tưởng, phó thác và cậy trông nơi Mẹ sẽ là động lực để mọi người kiên trì cầu nguyện và tranh đấu cách hoà bình cho một xã hội tốt đẹp và công bình.

    Trong buổi sáng,  thấy xe của Đài Truyền hình Hà Nội vào Toà Giám Mục. Hôm nay bản tin công cộng của giáo xứ Hàm Long không còn các bài viết về vụ cầu nguyện ở Toà Khâm Sứ nữa. Lý do là Công an phường Hàm Long đã vào tịch thu.

    Cũng có nguồn tin khác cho biết: các bài viết về việc cầu nguyện đòi đất dán trên bản tin của giáo xứ Thái Hà vẫn còn nguyên.

    Có tin cựu Bí thư Thành uỷ Hà Nội là ông Phạm Thế Duyệt, đương kim Chủ tịch Ủy Ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vào chúc mừng Giáng Sinh đức Tổng giám mục. Hai bên gặp gỡ theo nghi thức ngoại giao. Khi ông đi ra, thì cha Nguyễn Khắc Quế, có dẫn và chỉ cho ông xem tường tận hiện trạng Toà Khâm Sứ bên cạnh và nhắc lại yêu cầu trả lại cho Giáo hội.

    Cha xứ nhà thờ Chính toà cho biết: Tuần tới là phiên cầu nguyện của Giáo hạt Chính Toà. Như vậy là giáo dân khắp giáo phận đã sẵn sàng cho một cuộc cầu nguyện dài ngày và rộng rãi một cách hoà bình.

    23.12.07

    Sau  tiếng mời gọi trên tăng âm Nhà Thờ Lớn xin anh chị em lễ xong ra cầu nguyện tại Toà Khâm Sứ. Thế là các giáo dân đi lễ sáng từ Nhà Thờ Chính Toà lại sang khu vực Toà Khâm Sứ và cầu vọng từ mặt phố Nhà Chung. Tượng Đức Mẹ Sầu Bi vẫn an vị tại gốc đa. Hoa xung quanh vẫn ở vị trí cũ. Một nữ tu đã vào dọn dẹp xung quanh tượng Đức Mẹ.

    Trong ngày, người ta thông tin cho nhau người này người kia ở các giáo xứ trong thành phố bị công an gọi lên đồn. Một số bà nói: “công an nói chúng tôi đừng đi đòi đất! Việc đòi đất là việc của các ông cha bà sơ!”

    Các sinh viên công giáo chưa có ngày cầu nguyện riêng, chưa tổ chức một buổi cầu nguyện nào, thì một số bạn đại diện các nhóm sinh viên, cũng đã được công an hỏi tới. Một số người ở Hàm Long cho biết: Sự kiện công an vào lột bản tin của Giáo xứ Hàm Long liên quan đến nhà đất Toà Khâm Sứ đã được trình báo lên Đức Tổng Giám Mục. 

    Suốt ngày từng lúc từng lúc đều có người đi qua dừng lại đứng trên hè phố hướng về Đức Mẹ bên trong Toà Khâm Sứ.

    Nhìn cảnh tượng bên ngoài ai bảo Việt Nam không có tự do tôn giáo? Nhưng kết cục sau hơn 10 ngày gửi đơn thư và sau 6 ngày cầu nguyện, chính quyền địa phương vẫn chưa có động thái nào tích cực trong việc trả lại nhà đất cho Giáo hội.

    Lễ tối xong, khoảng 19 giờ, cả một đoàn người đông đảo đi từ đầu Nhà Thờ Lớn qua Toà Giám Mục sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện. Lẫn trong đoàn người ấy là nhiều nhân viên an ninh quay phim chụp hình và quan sát. Cổng khoá. Mọi người đứng hai bên vỉa hè phố Nhà Chung. Đứng tràn xuống lòng đường.

    24.12.2007

    Nhiều người Hà Nội đến Nhà Thờ Lớn chiêm ngưỡng cảnh Chúa Giáng Sinh nằm trong hang đá an bình. Đầu phố Nhà Chung, giáp phần đất Tòa Khâm Sứ, không thấy xe cảnh sát.

    Quán phở hoạt động trở lại. Ngân hàng vẫn đóng cửa. Mấy anh bảo vệ đi lại trong Tòa Khâm Sứ.

    Trước thánh lễ Giáng Sinh, có cầu nguyện tại Tòa Khâm Sứ do giáo dân tổ chức. Sau đó cộng đoàn đã về sân Chủng Viện để tham dự buổi văn nghệ mừng Chúa Giáng Sinh lúc 21 giờ 15.

    Thánh Lễ Nửa Đêm Giáng Sinh vừa xong, linh Mục Antôn Trần Duy Lương, cha xứ Nhà Thờ Chính Tòa kêu gọi cộng đoàn sang bên Tòa Khâm Sứ cầu nguyện. Thánh giá nến cao, quý cha đồng tế, quý thầy, quý sơ và đông đảo giáo dân lại tiếp tục lên đường. Đoàn người trang nghiêm tiến bước. Khoảng 4,000 người đã thắp nến tuần hành và cầu nguyện. Rất nhiều người ngoại đạo và người ngoại quốc đi lễ Giáng Sinh cũng tham gia.

    Một nhóm giáo dân đã chuẩn bị một cây thánh giá lớn cao khỏang 1,5 m, bằng gỗ vuông đem dựng bên phải tượng Đức Mẹ.

    25.12.07

    Tại Nhà Thờ Chính Toà, 5 giờ 30 thánh lễ rạng đông. Cha Giuse Nguyễn Văn Diễm chủ tế. Dự lễ phần lớn là giới các cụ ông cụ bà đáng kính.

    Lễ xong cộng đoàn lại kéo nhau sang Toà Khâm Sứ cầu nguyện.

    Giữa buổi sáng, thánh Lễ trọng thể do Đức Tổng Gián Mục chủ tế. Khi kết thúc thánh lễ, cha Nguyễn Văn Lý, Chính xứ Hàm Long kêu gọi cộng đoàn hưởng ứng Thư chung của Đức Tổng Giám Mục về việc cầu nguyện để nhà đất Toà Khâm Sứ sớm được trả lại Giáo hội. Đi đầu là thánh giá nến cao và ngay sau đó là đoàn đồng tế gồm14 linh mục và đông đảo các tu sĩ và chủng sinh.

     

    Xem tiếp phần IV và V

    March 27

    Vẫn còn nhiều vụ đàn áp, sách nhiễu vì lý do tôn giáo tại VN

    Vẫn còn nhiều vụ đàn áp, sách nhiễu vì lý do tôn giáo tại VN

    2008.03.27

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    Mặc dù chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định tôn trọng quyền tự do tôn giáo, thế nhưng những tố cáo về các hành động đàn áp, sách nhiễu của chính quyền liên quan đến sinh hoạt tôn giáo trong nước vẫn không ngừng gia tăng.

    Nghe audio ở đây .

    Tải xuống máy để nghe ở đây.

    Trong số những lời kêu cứu công luận mà đài chúng tôi nhận được gần đây có trường hợp của hai vị thựơng toạ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

    Tự do trong khuôn khổ

    Người dân có quyền "tự do" đi nhà thờ, đi lễ chùa. Các nơi hành đạo có quyền "tự do" sinh hoạt thờ phượng, thực hành tín ngưỡng, với điều kiện: phải đăng ký, và quan trọng trên hết là "phải được nhà nước cho phép".

    Các tổ chức tôn giáo, những thành viên của các giáo hội không được chính quyền công nhận hoặc những sinh hoạt tín ngưỡng không được cấp phép thường gặp áp lực, khó khăn, sách nhiễu bằng nhiều hình thức khác nhau, từ nặng tới nhẹ.

    Đó cũng chính là nguyên nhân của các tố cáo về vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam.

    Một trong những giáo hội bị gây khó dễ trong sinh hoạt đạo lâu nay là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một tổ chức tôn giáo đã có từ lâu đời, nhưng từ ngày thống nhất đất nước tới nay không được nhà nước công nhận, mà ngược lại, còn bị chính quyền cáo buộc là một tổ chức "phản động".

    Các thành viên của Giáo Hội, từ các vị lãnh đạo cấp cao mà tên tuổi đã được thế giới biết đến như Đại Lão Hoà Thựơng Thích Huyền Quang, Hoà Thựơng Thích Quảng Độ - ứng cử viên Giải Nobel Hoà Bình năm nay, cho đến các tu sĩ, Phật tử tham gia Giáo Hội đều thường xuyên bị chính quyền sách nhiễu, từ tù tội, quản thúc tại gia, đến đe doạ bắt bớ hay cô lập.

    Gần đây nhất là trường hợp của Thựơng Toạ Thích Thiện Minh tại Bạc Liêu, người tù lương tâm được trả tự do vào năm 2005 sau 26 năm bị giam cầm vì tranh đấu cho tự do tôn giáo cũng như đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo Hội phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và Thựơng Toạ Thích Gíac Hiếu ở Phú Yên.

    Bị cáo buộc âm mưu lật đổ chính quyền

    Trong câu chuyện với chúng tôi, Thựơng Toạ Thích Thiện Minh cho biết tình trạng hiện giờ của ông:

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh: Vấn đề nan giải của tôi là đang bị khủng bố và những ngày tới có thể bị bắt giam bất cứ lúc nào. Chính quyền công an của tỉnh Bạc Liêu họ đang tổ chức trên đài truyền hình, đài phát thanh và những cuộc họp để bôi nhọ và chụp mũ tôi là liên hệ với các tổ chức chính trị nhằm mục đích lật dổ chính quyền.

    Họ kêu gọi tất cả các ban ngành ra tay để trấn áp cũng như là có những biện pháp nghiêm khắc đối với Huỳnh Văn Ba tức Thích Thiện Minh. Trong những buổi làm việc họ quy kết tôi tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là giáo hội bất hợp pháp, là giáo hội mà nhà nước Việt Nam không thừa nhận.

    Thứ hai nữa là tôi tổ chức hoạt động của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam mà họ cho là bất hợp pháp, mặc dầu tôi đã có đơn gửi tới Thủ Tướng Chính Phủ cũng như Bộ Tư Pháp để hợp thức hoá, cũng như là thư ngỏ; nhưng mà hai lần gửi đến rồi thì bà Nguyễn Thị Mai và Vũ Thị Ninh là những người thư ký riêng của Thủ Tướng Chính Phủ chỉ ký nhận thôi chứ chưa trả lời chính thức.

    Tôi có thông báo với họ rằng nếu chính phủ cấm đoán mà ra công khai trực tiếp trả lời với tôi thì tôi có thể đình hẳn hoạt động của Hội, nhưng mà tới ngày hôm nay vẫn không có trả lời dứt khoát. Nhưng ở địa phương thì lúc nào họ cũng đàn áp, đòi chúng tôi xoá bỏ đi hội ái hữu cũng như đừng tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

    Trà Mi: Với lời tố cáo của chính quyền là Thượng Toạ tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là giáo hội không được nhà nước cho phép thì thưa cái phản hồi của Thượng Toạ như thế nào?

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh: Tôi phản bác rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời cách đây hai ngàn năm trăm năm mươi mấy năm thì không lẽ Đức Phật Thích Ca ra đời để chờ cái đảng cộng sản cách đây mới một trăm mấy chục năm của Các-Mác Lê-Nin ra đời để chống đối hay sao?

    Rồi Đạo Phật có ở Việt Nam trước năm 40 Công Nguyên không lẽ bây giờ đợi cụ Hồ mang học thuyết Mác-Lênin về năm 1941-1942 để chống hay sao? Còn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có trước năm 1975 không lẽ đợi ngày 30 tháng 4-1975 các ông vào đây chúng tôi chống hay sao?

    Thì tôi có trình bày với họ một số vấn đề như vậy và họ làm thinh thôi. Tôi cũng có trình bày với họ là Giáo Hội này đã tồn tại từ lâu đời, còn giáo hội mớí thành lập kể từ sau năm 1981 chỉ phục vụ quyền lợi của đảng thôi và là một giáo hội làm công cụ cho Mặt Trận Tổ Quốc thôi, còn nếu không làm công cụ thì họ xoá bỏ đi.

    Hiện giờ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong tình trạng họ muốn xoá bỏ mà xoá bỏ không được cho nên họ không cho hoạt động gì cả.

    Họ hoàn toàn phi lý bởi vì nhà nước Việt Nam chưa có văn bản nào loại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra ngoài vòng pháp luật, hoặc cấm đoán, đình chỉ, không cho hoạt động, cho nên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam vẫn còn tồn tại dưới sự lãnh đạo hiện nay của Đệ Tứ Tăng Thống là Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang hiện bây giờ ở tại tu viện Nguyên Thiều, và Viện Trưởng Viện Hoá Đạo là Hoà Thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện ở Sài Gòn.

    Trà Mi: Tình trạng của Thượng Toạ đã gặp rắc rối với phía chính quyền từ thời gian nào cho tới nay, đã bao lâu rồi, thưa Thượng Toạ?

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh: Sau 26 năm tù thì tôi ở trong nhà tù nhỏ bây giờ trở về nhà tù lớn thì kể từ ngày 2-2-2005 đến nay tôi hoàn toàn bị cô lập, bị truy bức thường trực, hai lần bị khám xét nhà, bị tịch thu niêm phong tài sản, bị đập phá tịnh thất, chùa chiền thì bị chiếm đoạt mà không được trả lại, Phật tử bị cấm đoan đến chùa, bị cắt đứt đường dây internet, bị tịch thu điện thoại di động. Nếu ai đến thăm hoặc gần gũi chúng tôi thì gia đình họ bị cô lập, bị gây khó khăn về hoàn cảnh kinh tế.

    Trà Mi: Ngôi chùa mà Thượng Toạ vừa nói đó thì toạ lạc ở đâu vậy? Chùa tên gì vậy thưa Thuợng Toạ?

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh: Ngôi chùa của tôi ngày xưa là Chùa Vĩnh Bình, xã Châu Hương, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu cũ, nhà nước Việt Nam chiếm giữ không có giấy tờ gì hợp pháp cả sau khi bắt tôi. Và khi tôi về thì tôi xây cất một ngôi tịnh thất nho nhỏ thì chính quyền ở tỉnh bắt đầu xuống đập phá.

    Họ nói rằng tôi làm cơ sở của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là giáo hội phản động. Họ tịch thu giấy tờ tuỳ thân của tôi đến hôm nay là gần 4 tháng rồi và tôi không có giấy tờ tuỳ thân gì trong người để đi lại hết.

    Trà Mi: Trong hoàn cảnh hiện tại thì Thượng Toạ có nghĩ cách nào bảo đảm cho sự an toàn của mình, ngoài việc lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do hay không?

    Thượng Toạ Thích Thiện Minh: Tôi đang làm đơn gửi lên Uỷ Ban Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ cũng như là Uỷ Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế, các đài truyền thông quốc tế, cũng như hội ái hữu chúng tôi lên tiếng phổ biến tất cả những sự khó khăn của tôi hiện tại và mong rằng các tổ chức quốc tế lên tiếng can thiệp sớm để cho tôi được trả lại sự công bằng.

    GHPGVNTN ở miền Trung bị ngăn cấm

    Trà Mi: Từ tịnh thất Minh Hải, xã Xuân Thịnh, huyện Sông Cầu, Thượng Toạ Thích Giác Hiếu, Phó Đại Diện GHPGVNTN ở Phú Yên, chia sẻ những khó khăn mà ông và Giáo Hội ở Miền Trung đang gặp phải:

    Thượng Toạ Thích Giác Hiếu: Hiện tại họ nói là cho tự do tín ngưỡng và tự do sinh hoạt, nhưng mà rất tiếc là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng tôi luôn bị kềm kẹp, luôn bị sách nhiễu và bị đe doạ.

    Họ theo dõi liên tục, gây trở ngại khó khăn cho sự sinh hoạt của giáo hội chúng tôi nói chung. Ở đây thì họ ngăn chận, không cho tín đồ Phật tử tới đây, đồng thời họ tuyên truyền là cấm tuyệt đối đến chùa, muốn lên chùa thì họ không cho. Còn các trẻ em thì họ không cho đi học hoặc đuổi học.

    Đó là hiện tại và bây giờ họ vẫn còn tuyên truyền như vậy. Hiện tại chùa chúng tôi bị cô lập. Trong những buổi lễ của các chùa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ở huyện, họ đến đó đứng trên bục tuyên truyền Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là phản động, rằng nếu ai đến những ngôi chùa hoặc đến những thầy của Giáo Hội PGVNTN thì có thể bị bắt. Những Phật tử đến chùa của GHPGVNTN thì bị cán bộ và công an đến nhà nhũng nhiễu, theo dõi.

    Trà Mi: Ngoài ra họ có mời Thượng Toạ lên làm việc với chính quyền địa phương, có những buổi làm việc hay là những buổi trao đổi như thế nào hay không?

    Thượng Toạ Thích Giác Hiếu: Thưa rất là nhiều lần. Năm ngoái làm việc rất là nhiều lần. Năm nay thì tôi tuyên bố rằng nếu có mời thì tôi cũng không đi.

    Trà Mi: Qua những buổi làm việc đó thì nội dung chính họ yêu cầu Thượng Toạ là như thế nào?

    Thượng Toạ Thích Giác Hiếu: Họ nói là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là bất hợp pháp, nhà nước không công nhận. Chúng tôi nêu lên rằng nếu là bất hợp pháp thì các anh cứ cho tôi một văn bản là cấm đi thì họ nói không được.

    Trà Mi: Hỏi thăm một Phật tử tại đây, chúng tôi đựơc biết như sau:

    Một nữ Phật tử: Đến chùa mà công an họ theo dõi quá. Chính quyền địa phương hay đến hỏi, ghi tên, ở đâu, như thế nào. Thành thử ra bà con đạo hữu họ không dám tới chùa.

    Một đạo hữu khác của Giáo Hội bức xúc: “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Phú Yên rất là khó khăn. Trên mặt hình thức mà nói là rất tự do tôn giáo nhưng thật tế là (chính quyền) dùng những thủ đoạn lừa bịp thế giới. Ai tới chùa (của Giáo Hội) thì họ tìm cách bao vây, cô lập, trù dập.

    Cụ thể nhất là ngày 8 tháng 1 và ngày vừa rồi là hôm qua - ngày giỗ mẹ của ngài Giác Hiếu thì tất cả các đạo hữu đến tham gia cúng dường cầu nguyện thì bị khó khăn đủ mọi vấn đề hết, bị công an đến hỏi tên tuổi từng người, hăm doạ từng người rằng tại sao đi chùa này, tôn giáo này là tôn giáo bất chính, tôn giáo phản động, có âm mưu diễn biến hoà bình.”

    Để có thể đưa lên tiếng nói từ mọi phía, chúng tôi tìm hiểu quan điểm của giới hữu trách, và đã nhận được những lời giải thích chung chung: "Cái việc tự do tín ngưỡng là quyền tự do của dân thôi, nhưng mà tín ngưỡng đó thì phải được phép, được sự công nhận của nhà nước, và cái đó nhà nước chưa cho phép thì mình chưa được làm vậy thôi."

     
    March 26

    Tại sao các quan chức ngang nhiên lấy đất tôn giáo làm chốn ăn chơi?

     
     
    VietCatholic News (Thứ Tư 26/03/2008 17:44)
     
    Tại sao các quan chức ngang nhiên lấy đất tôn giáo làm chốn ăn chơi?

    Một số học sinh lớp 12, thường là con của các đảng viên, cán bộ, khi được hỏi:

    - Em sẽ thi vào đại học nào ?

    Các em ấy trả lời:

    - An Ninh, Biên Phòng.

    - Ơ, sao lại yêu nước đột xuất vậy ?

    - Vì học không phải đóng tiền.

    - Nhưng khi ra trường lương tháng đâu có bao nhiêu ?

    Nghe hỏi thế các em chỉ cười. ..

    Các bạn độc giả thông minh, chắc các bạn hiểu tại sao những em đó cười. Ngay khi chưa thi vào trường An Ninh hay Biên Phòng, thí sinh đã có trong đầu cái ý tưởng học xong ra trường không sống bằng lương. Vì thế ta chẳng lạ gì phẩm chất của đội ngũ công an nhà nước. Các trường đào tạo cán bộ khác cũng cá mè một lứa cả thôi.

    Vì thế khi các thí sinh thân yêu ấy đã an vị trên ghế thì y như đã lập trình từ đầu, các vị bắt đầu vơ vét. Và đất đai chính là miếng bánh ngon lành nhất. Nhà cửa đất đai của “kẻ thù” chế độ là thứ dễ xơi nhất, đó là thứ “cướp” mà lại có công với cách mạng, có khi còn được tuyên dương thăng chức nếu biết ăn đồng chia đủ với xếp. Ai là kẻ thù ? Chính là bọn nhà giàu và bọn tôn giáo buôn “thuốc phiện mê dân”. Vì thế mới có “cải cách ruộng đất”, mới đánh “tư sản mại bản”, mới cho các đấng tu hành ngồi đếm lịch rồi nhân tiện “xin đểu” các cơ sở tôn giáo. ..

    Người có “văn hoá” là người biết rinh của người ta về làm của mình sao cho có bài bản. Trước tiên phải tuyên bố “Đây là tài sản quốc gia”, “Đây là mồ hôi nước mắt của nhân dân” phải thu về cho nhân dân. Đồng thời luôn luôn phải giáo dục cho nhân dân biết rằng nếu không có “thiên tài Đảng ta” thì cả cái đất nước này đã mất về tay Pháp, đất đai này đã thành tiểu bang Mỹ chứ làm gì còn. Vì thế nhân dân bây giờ ai còn được mét vuông nào thì phải cắn cỏ ngậm vành biết ơn, đừng có ti toe lộn xộn. Quân nào khiếu kiện đất đai là vô ơn với những người đã có công giải phóng đất nước. Bọn biểu tình Hoàng Sa Trường Sa là dốt nát không nhìn xa thấy rộng, nếu không biếu đàn anh vài cái đảo bé tí ấy biết đâu đàn anh nổi điên lấy cả nước thì sao. Vả lại những kẻ xưa đã có công giành lại “nước” từ tay Pháp Mỹ nay chẳng lẽ lại không. .. bán được tí “nước” ru !

    Sau khi đã có trong tay nhà cửa đất đai của bọn tư sản, chính quyền cấp lại cho cán bộ. Cán bộ “nghèo” quá nên chỉ biết ở chứ làm gì có tiền mà sửa chữa. Nhà xuống cấp. Hoá giá ! Lạ thay, sau khi hoá giá thì con vịt bỗng nhiên biến thành thiên nga. Ấy là do cán bộ nghèo trúng số hoặc trúng đậm chứng khoán, hoặc do cán bộ nghèo đã bán cho chủ mới để về ở cái nhà “sơ cua” nào đấy. Đó là một trong muôn vàn chiêu thức “rửa nhà” của các đồng chí dí đồng bào. Biết bao nhiêu nhà cửa của những người bỏ nước ra đi, biết bao nhiêu đất đai tài sản của những người giàu bị tù đày, bị chụp mũ “bóc lột” đã sang tay “đầy tớ nhân dân”. Vì thế khi cái phong trào khiếu kiện đất đai bùng lên thì “lãnh đạo” nhất quyết dẹp, dẹp ngay. Cấp trên thừa hiểu cấp dưới làm bậy nhưng cách chức hết quan tham thì lấy ai lãnh đạo từ trung ương đến khu xóm, rung rinh cả chế độ à. Cấp dưới không tham nhũng thì cấp trên bảo nó đâu có chịu nghe. Cấp trên không hối lộ thì cấp dưới phải “vận động” cho bác ấy về hưu non bằng không thì chính mình sẽ mất ghế.

    Riêng cái khoản tài sản tôn giáo thì có hơi cầu kỳ khi muốn bê nó về làm của gia bảo. Trước hết là “mượn không biết bao giờ trả” để khỏi mang tiếng là đàn áp tôn giáo. Thoạt đầu cứ giữ đấy làm công việc xã hội, sau đó phải đẻ ra đủ thứ lý do để chuyển mục đích sử dụng, ví dụ từ nhà trẻ chuyển thành vũ trường cho nó tăng thu nhập vì đất nước ta còn nghèo, nhưng có trời mới biết cái khoản tăng thu nhập này chui vào kho bạc nhà nước được bao nhiêu. Phải để lâu lâu một tí cho “cứt trâu hoá bùn”, khi thấy thuận tiện, nhà nước sẽ đánh lận con đen tuyên bố đây là tài sản quốc gia. Ví dụ như nhà 32bis của các xơ Nữ tử Bác Ái vậy. Rồi khi thấy tài sản quốc gia “không sinh lợi gì” thì trên dưới hè nhau làm thịt và chia chác. Các xếp cứ ký với nhau, mỗi chữ ký kiếm một vài miếng đất hoặc tí tiền cò. Quý bạn cứ thử đi một vòng hỏi mua đất, bạn sẽ gặp bao la, nhưng không thấy chủ, chỉ thấy cò !

    Các cách thức phù phép nói trên chỉ là lẻ tẻ trong đủ thứ thủ đoạn tinh vi để xà xẻo của công lẫn của tư và ăn chận phúc lợi từ thiện mà nhân dân lẽ ra được hưởng. Các quan ngang nhiên làm những chuyện này trước mắt bàn dân thiên hạ vì họ biết rằng:

    - Họ có quyền trả lời hay không trả lời đơn từ của các tổ chức tôn giáo mà chẳng ai làm gì được họ. Toà Khâm Sứ, Xứ Thái Hà, Nhà xứ Hà Đông, 32bis Nguyễn Thị Diệu. .. cứ dậm chân tại chỗ. Các bác nhà quê “Hà Lội” cứ chết rét mà canh Toà Khâm Sứ, tớ đặt camera vừa nhậu vừa xem thằng nào nhiệt tình hăng hái để chịt cổ, làm gì tớ nào ? Các bà xơ cứ phơi nắng giữa trưa cầu nguyện, tớ bên này đường khui mấy lon bia gác chân lên bàn giải khát, cái nhà nhảy hái ra tiền ấy vẫn là của tớ, thằng nào dám nhào vô ?

    - Mấy ông cha bà xơ nộp đơn ra toà hả ? Về nói với mấy ông bà đó chịu khó coi cái đoạn video “bịt miệng” nổi tiếng khắp thế giới đấy. Nổi tiếng thế mà có xi nhê gì với tớ đâu !

    - Ngậm miệng ăn tiền là phương pháp ưu việt để trả lời cho khiếu kiện của bọn tu hành. Mà ngay cả khi chính quyền có làm siêng hạ bút phúc đáp đi nữa thì họ cũng chẳng cần phải đi thẳng vào vấn đề, cũng chẳng buộc phải giải thích chuyện đất đai hay chuyện sai phạm của đồng bọn. Họ chỉ nói rằng “nhà nước đã tạo điều kiện” cho chúng mày sống đến ngày nay là đạo đức lắm rồi, còn được tu, được làm lễ,. .. chưa đủ sao mà còn muốn đòi với hỏi. .. Ấy, giống như Bà Ngô Thị Hằng kể công với Tòa Giám Mục Hà Nội: “đón Đức Hồng Y Sepe, thụ phong linh mục, lễ Noel, đảm bảo cho cuộc họp thứ mười của Hội Đồng Giám Mục diễn ra tốt đẹp. ..” chưa đủ sao mà còn làm loạn đòi Tòa Khâm Sứ !

    - Điệp khúc hồi âm muôn thuở vẫn là “Không có căn cứ để xem xét, cơ sở đã được Nhà Nước sử dụng ổn định từ năm. ... hồi đó”. Chính quyền cứ ngểnh ngãng hình như chẳng rõ cái cơ sở ấy bây giờ nó đang làm gì: cho thuê hay kinh doanh tệ nạn. .. Lắm khi cũng cần phải trích vài điều khoản luật lệ cho nó có văn hóa thì chẳng bao giờ họ sử dụng các thứ “nhớn” như Hiến Pháp hay Bộ Luật dân sự hay Pháp lệnh tôn giáo. .. họ chỉ trích dẫn các nghị quyết, hướng dẫn. .. trái với Hiến Pháp. Ở nước ta các văn bản dưới luật không đúng luật là chuyện thường ngày ở huyện, cứ thích thì “nghị” rồi “quyết” thôi !

    - Ở nước ngoài làm bậy thì báo chí nó chửi cho không biết chui vào đâu, nhưng ở nước ta thì làm gì có cái chuyện “vô phép” với nhân viên công lực như thế. Báo chí mà lạng quạng đi sang lề bên trái là “xe tông” tổng biên tập liền. Cứ như ngựa, chịu khó che mắt hai bên đi đúng lề phải thì sẽ được kéo xe đến già không vào quán phở ! May mà có internet, cho dù bị chận nhưng vẫn tìm cách chui nhủi được. Mà cũng kỳ, mấy cái trang ở truồng không mời cũng tới, sao không chặn nó lại mà cứ để con nít coi hà rầm ngoài dịch vụ, còn mấy cái trang như vietcatholic.net, nguoitinhuu.com, conggiaovietnam.net, memaria.org. .. toàn đăng những chuyện có đầy đủ quần áo lại không được coi.

    - Các quan cứ mạnh dạn xơi tái đất đai nhà cửa tôn giáo vì vụ việc có bị phanh phui đi nữa thì người vi phạm cũng chỉ bị kiểm điểm nội bộ... cùng lắm là chuyển qua công tác khác, có khi lại ấm hơn. (Ta cứ thử chờ xem Ông Nguyễn Minh Dũng, Giám đốc Sở Xây dựng, người ký tên đề xuất xác lập sở hữu cơ sở 32 bis Nguyễn Thị Diệu theo diện nhà vắng chủ sẽ đi về đâu)

    - Chính quyền không có thói quen và cũng không buộc phải đối thoại, lắng nghe. Vì thế, họ không bị buộc phải trả lời các chất vấn về các sai phạm của mình.

    Mới đây, nhân vụ các bà xơ cầu nguyện tại vũ trường, Tiến sĩ Nguyễn Đức Truyến, chuyên gia xã hội học tôn giáo tại Viện Xã hội học khi trả lời đài BBC cũng khẳng định: “Nhà nước đã bắt đầu lắng nghe chứ không từ chối đàm phán như trước đây. Đấy là bước tiến bộ”. Tiến bộ ư ? Hổng dám đâu ! Chúng ta thấy đàm phán chỉ xảy ra khi nuốt không trôi (Vụ Tòa Khâm sứ), còn vụ 32bis Nguyễn Thị Diệu thì nhà nước chỉ cử đại diện lập biên bản sau 7 tiếng cầu nguyện dưới cái nắng như đổ lửa của 100 nữ tu. Nên nhớ rằng nhà nước ta chỉ ngồi vào bàn đàm phán khi “yếu”, để cù cưa tìm kế sách chứ không bao giờ lùi, còn khi “mạnh” thì đừng hòng ! Nếu bạn còn nhớ chuyện hòa đàm Paris 1972 thì sẽ kinh nghiệm điều đó.

    Điều thiện chí nhất mà chính quyền có thể làm khi có đơn khiếu nại là “giữ nguyên hiện trường tranh chấp” giống như Satan bị Chúa dũa cho một trận trong sa mạc bèn rút đi chờ dịp khác. Không bao giờ có chuyện buông ra ! Muốn thắng Satan dân Chúa phải chịu đóng đinh như Chúa, khi ấy thằng Giuđa mới chịu ném bạc vào đền thờ rồi đi thắt cổ ! Bạn sẽ thấy trong thời gian hoãn binh thì “bảng hiệu” là quan trọng hàng đầu. Này nhé, bạn có thấy người ta tranh thủ gắn bảng “Nhà văn hóa” lên Tòa Khâm sứ, gắn “Ban Quản lý Đường sắt” lên vũ trường 32bis. Hổng chừng thấy mấy bà xơ quậy quá người ta lại gắn bảng “Coi chừng chó dữ” lên tường 32bis đấy.
     
    Nguyên Thạch
    March 25

    NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

     
    Điểm nhấn : Thế vận hội Olympics sẽ được khai mạc tại nhà tù lớn nhất thế giới là Trung Quốc vào ngày 08.08.08, trùng hợp kỳ lạ với những còng số 8.
     
     the Reporters Without Borders campaign
     
     
    VietCatholic News (Thứ Hai 24/03/2008 22:48)
     
    NHÂN PHẨM và NHÂN QUYỀN TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

    Tôi được phân công trình bày tóm lược về Con người trong Học thuyết Xã hội của Giáo Hội. Tài liệu sử dụng là cuốn Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo (viết tắt TL) do Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình soạn thảo và xuất bản năm 2004, bản dịch của Ủy ban Bác ái Xã hội thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007). Một tài liệu khác là tập The Social Agenda. A collection of Magisterial Texts, cũng do Hội đồng nói trên xuất bản nhân dịp Năm thánh 2000, bản dịch Việt ngữ của Lm Nguyễn Hồng Giáo OFM, mang tựa đề: Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội. Một hợp tuyển những văn kiện của Huấn quyền, Tp HCM, năm 2001. Bài giới thiệu của tôi tương ứng với Mục II của cuốn Agenda social (=AS) nhan đề Con người [AS chia thành Mục thay vì Chuơng], và chương Ba của tập Tóm lược, nhan đề Con người và Nhân quyền. Đây là chương nền tảng, nằm trong phần I của tập sách, còn phần II và III là những phần áp dụng. Gọi là chương nền tảng vì chính cuốn TL khẳng định: “Trong HTXH của mình, GH trước tiên đưa ra một cái nhìn tổng thể về con người và một sự am hiểu trọn vẹn về những chiều hướng cá nhân và xã hội của con người” (số 522).

    Chương Ba gồm 4 mục lớn: I/ HTXH và nguyên tắc Nhân vị; II/ Con người như Hình ảnh Thiên Chúa; III/ Những khía cạnh đa dạng của Con người (Tính thống nhất, – Mở ra với siêu việt và độc nhất vô nhị, - Tự do,- Phẩm giá bình đẳng của mọi người, - Bản tính xã hội); IV/ Nhân quyền.

    Thay vì lần lượt tóm tắt những điểm trên, tôi sẽ tập trung vào hai mục: Nhân phẩm và Nhân quyền

    Phần I
    NHÂN PHẨM

    HTXH của GH gắn liền mật thiết với quan niệm thần học về con người. Trong Thông điệp Phát triển các dân tộc (số 13), Đức Thánh Cha Phaolô VI viết rằng vì muốn giúp cho con người đạt tới sự triển nở sung mãn, nên Giáo Hội đề nghị cho họ “một cái nhìn bao quát về con người và loài người” ( une vision globale de l’homme et de l’humanité). Nhân sinh quan ấy, tuy dựa trên giáo lý đức tin, nhưng không đi ngược với quan niệm triết học nghĩa là tự nhiên về con người, trái lại kiện toàn quan niệm ấy.

    1. Phẩm giá “tự nhiên” của con người

    Phẩm giá tự nhiên, nghĩa là phẩm giá nội tại con người có, duy chỉ vì nó là người, không phải do xã hội hay quyền bính nhân loại nào ban cho. Phẩm giá tự nhiên, do đó, cũng có nghĩa là lý trí con người có thể nhận ra nó.

    Con người là một sinh vật trong thiên nhiên và là một phần của thế giới vật chất, nhưng đồng thời lại vượt lên trên nó nhờ trí khôn và tự do. Bằng chứng là con người có khả năng hiểu biết thiên nhiên, và nhờ đó có thể biến đổi thiên nhiên, sử dụng thiên nhiên theo ý mình, nghĩa là làm chủ nó. Triết học từ xa xưa đã định nghĩa con người là con vật có lý trí. Và dân gian cũng nói như thế (chẳng hạn trong chuyện ngụ ngôn thi vị Con cọp và người nông phu). Khi ĐGH Gioan-Phaolô II quả quyết “con người là trung tâm và đỉnh cao của mọi thụ tạo trên trái đất”, thì đó không hẳn là một khẳng định của giáo lý và chắc hẳn bất cứ ai cũng có thể chấp nhận, dù không tin vào một Thiên Chúa tạo thành. Đàng khác, nhờ trí khôn và tự do, con người là động vật duy nhất trên trái đất có một đời sống tinh thần và đặc biệt là đời sống đạo đức, luân lý. “Con người không coi mình chỉ như một mảnh vụn của thiên nhiên hay một yếu tố vô danh trong xã hội loài người” (Vui Mừng và Hy vọng, số 14). Mọi vật có thể được sử dụng như phương tiện cho con người nhưng chính con người thì không là phương diện cho bất cứ vật nào khác. Mỗi người đều có phẩm giá riêng làm cho họ luôn luôn là một giá trị tự nơi bản thân mình và cho bản thân mình; nhờ phẩm giá đó, họ vượt lên trên thế giới vật chất về mặt giá trị. Một trong các châm ngôn của nền đạo đức học của triết gia Emmanuel Kant (1724-1804) là: “Bạn hãy kính trọng nhân tính (con người) như một cứu cánh, không bao giờ đối xử với nó như một phương tiện”. Đó là một nền đạo đức rất cao cả, dựa hoàn toàn trên lý trí hay bản tính nhân loại. Kant đối chọi “phẩm giá” hay “phẩm cách”(dignity) với “trị giá” (price): trị giá là một giá trị mà người ta có thể tìm được cái gì tương đương với nó (ví dụ trị giá của một tác phẩm nghệ thuật), còn phẩm giá là cái làm cho mỗi con người là “độc nhất vô nhị”, không thay thế nổi. Con người chỉ có phẩm giá, không có trị giá. Người ta không được phép nhìn con người theo khía cạnh duy lợi ích; không được dùng con người làm phương tiện để đạt tới điều gì khác, chẳng hạn để mua vui, hay ngay cả để phục vụ công ích xã hội hoặc phục vụ tiến bộ khoa học.

    2. Phẩm giá “siêu việt”

    Những điều nói trên về nhân phẩm theo quan điểm triết học không bị chối bỏ trong cái nhìn của đức tin, trái lại còn được nâng lên tới tột đỉnh, theo nguyên tắc: ân sủng kiện toàn tự nhiên. GHXH khẳng định phẩm giá con người là siêu việt và có giá trị siêu việt vì được đặt cơ sở trên chính mầu nhiệm Tạo thành và mầu nhiệm Cứu chuộc

    2.1. Con nguời nhìn trong trật tự tạo thành

    Phẩm giá siêu việt của con người phát xuất trước tiên từ việc con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Người và giống như Người (x. ST 1,26-28). “Theo thông điệp căn bản của Kinh Thánh (…), hình ảnh Thiên Chúa nơi con người chính là yếu tố định tính và phân biệt con người” (TL, số 108. Giống như yếu tố lý trí là yếu tố phân biệt trong định nghĩa triết học về con người). HTXHGH nhấn mạnh đặc biệt điểm giáo lý này. Bản Tóm lược viết thêm: “Giống (như) Thiên Chúa, điều này chứng tỏ bản chất và hiện hữu của con người có liên quan tới Thiên Chúa một cách hết sức sâu xa. Đây là một mối quan hệ tự thân, vì thế không phải là một cái gì đó đến sau và được thêm vào từ bên ngoài. Toàn thể cuộc sống con người chẳng qua chỉ là một sự tìm kiếmThiên Chúa. Mối quan hệ này của con người có thể không được người ta biết đến, thậm chí bị bỏ quên hay từ chối, nhưng không bao giờ bị loại bỏ hẳn” (số 109). Tất cả sự cao cả của con người nằm chính ở đây. Dù chỉ là sự cao cả “nhận được” nhưng nó không hề bị mất đi dù con người phạm tội, bởi vì con người tự thân là hình ảnh Thiên Chúa.

    Nói tóm lại, câu nói: con người là hình ảnh của Thiên Chúa có thể được coi như định nghĩa của Kitô giáo về con người.

    Truyền thống thần học thường giải thích thuật ngữ “hình ảnh Thiên Chúa” theo ba nghĩa (x. Homme/Image de Dieu, trong: Dictionnaire de Théologie, Cerf, Paris 1988).

    - Một là con người có khả năng đi vào một mối tương quan cá vị với Thiên Chúa, khả năng đối thoại với Người;

    - Hai là con người có khả năng tự lập, tự trị (autonomie), tự quyết và một sự tự do đồng sáng tạo (liberté co-créatrice) nào đó với Thiên Chúa;

    - Ba là con người có khả năng làm chủ, tức là thống trị và biến đổi vạn vật.

    Trong ba nghĩa này thì nghĩa thứ nhất là đặc thù của Kitô giáo, vì như trên kia đã nói, lý trí tự nhiên cũng nhìn nhận khả năng tự lập, sáng tạo và làm chủ của con người, -dĩ nhiên không phải là tuyệt đối. Các thánh Giáo phụ đã gọi khả năng đi vào mối tương quan cá vị với Thiên Chúa là capax Dei (x. TL, số 109). Công đồng Vaticanô II quả quyết: “Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian này được Thiên Chúa dựng nên cho chính mình họ (sola creatura quam Deus propter seipsam voluerit)” (x.TL, số 133)

    2.2. Con người trong trật tự Cứu chuộc

    Phẩm giá con người lại còn “được biểu lộ rạng ngời” trong vận mệnh của nó: con người được gọi “làm con trong Người Con” và “được dành cho sự sống đời đời”.

    Đức Kitô, Ađam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha và về tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính mình và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ. Mầu nhiệm con người chỉ thực sự sáng tỏ trong mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người (x. TL, 121). Chính trong mầu nhiệm Nhập thể, phẩm giá con người được mặc khải và nâng lên, vì “Đức Kitô, Con Thiên Chúa, qua sự nhập thể của mình đã tự kết hợp chính mình một cách nào đó với mỗi một con người” (TL số 105). “Trong căn bản, mầu nhiệm Đức Kitô và mầu nhiệm con người làm thành một mầu nhiệm duy nhất” (J.Mouroux: Sur la dignité de la personne humaine, trong: L’Eglise dans le monde de ce temps. Tome II, coll. Unam Sanctam 65b, Cerf, Paris 1967, tr.249). “Là ‘hình ảnh của Thiên Chúa vô hình’ (Cl 1,15), chính Người là con người hoàn hảo đã trả lại cho con cháu của Ađam hình ảnh Thiên Chúa đã bị tội nguyên tổ làm sai lệch; bởi vì nơi Người bản tính nhân loại đã được đảm nhận chứ không bị tiêu diệt, do đó nơi chúng ta nữa, bản tính ấy cũng được nâng lên tới một phẩm giá vô song” (Hc Vui mừng và Hy vọng, số 22, x.Tđ Đấng Cứu chuộc loài người, số 13). Nếu tội lỗi có làm tổn thương phẩm giá ấy thì ơn cứu chuộc được thực hiện bằng thập giá đã dứt khoát trả lại nó cho con người.

    3. Nhận định

    Trong Giáo huấn của GH về con người, ta có thể thấy ba điểm nhấn sau đây.

    3.1- Trước hết, giáo huấn ấy nhắc đi nhắc lại rằng con người có tính siêu việt (transcendence). “Mở ra với siêu việt là một đặc tính thiết yếu của con người: con người mở ra với Đấng vô biên cũng như với mọi thụ tạo”, đó là giải thích của GH (TL, số 130). Một vài triết thuyết cũng nói tới tinh siêu việt của con người, nghĩa là con người luôn vượt qua khỏi chính mình, nhưng các thuyết ấy chỉ nhìn nhận tính siêu việt chiều ngang, và phủ nhận siêu việt chiều dọc (vươn lên với Đấng Tuyệt Đối). Con người bị đóng khung lại trong thế giới vật chất và thời gian lịch sử này. Vì thế các nền Nhân bản dựa trên quan niệm đó (thường gọi là Nhân bản vô thần) không tìm được biện minh tối hậu cho sự cao cả của con người cũng như bất lực trong việc phục vụ thực sự lợi ích của con người, và thậm chí nhiều khi còn xâm phạm phẩm giá con người cách trầm trọng.

    3.2- Giáo huấn của GH cũng nhấn mạnh con người toàn diện, tức con người trong mọi chiều kích của nó: thể xác và linh hồn (vật chất và tinh thần), cá nhân và xã hội, tự nhiên và siêu nhiên (“tâm linh”), hoặc nói theo cuốn TL, “ thể xác và linh hồn, với tình cảm và lương tâm, với lý trí và ý chí” (số 13). Một sự phát triển xã hội đích thực không được bỏ quên một khía cạnh thiết yếu nào của con người, và cũng không được đảo lộn trật tự (về giá trị) của các chiều kích đó, chẳng hạn đặt vật chất lên trên tinh thần, gia tăng của cải vật chất mà làm hại cho luân lý, đạo đức. Ngay tục ngữ ta cũng nói: tốt danh hơn lành áo, chết vinh hơn sống nhục…

    3.3- Ta cũng nhận thấy GH thường nói tới sự thật toàn vẹn về con người. Sự thật toàn vẹn ấy bao gồm một thực tế thường bị phủ nhận hoặc lờ đi, đó là tội lỗi (x.TL số 115-119). Tội lỗi làm cho con người suy yếu đi và thường xuyên đe dọa mọi công trình của con người. Tội lỗi không nằm trong bản chất con người, nghĩa là không phải thiết yếu đối với con người, nhưng nó được bao hàm trong tự do của nó, và trong thực tế con người tự do đã “sa ngã”. Vì thế tự do cũng phải được giải phóng (x. TL 143).

    4. Hai quan niệm giản lược về con người

    Tất cả HTXHGH được xây dựng trên cơ sở quan niệm trên đây về con người, và cũng từ quan niệm này, Giáo Hội đánh giá hoặc phê phán các chủ trương chính sách, các tổ chức cơ cấu, các hệ thống xã hội, kinh tế, chính trị cũng như mọi học thuyết có liên quan tới các mặt đó. Quả thế, “trong những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, con người chính là trọng tâm và linh hồn của tư duy xã hội Công giáo. Thật vậy, toàn bộ HTXH Công giáo chẳng qua chỉ là sự khai triển nguyên tắc: con người có phẩm giá bất khả xâm phạm” (TL số 107). Hiến chế Vui mừng và Hy vọng lấy lại tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Piô XII (Thông điệp truyền thanh lễ Giáng sinh 24/12/1944): “Cả trong đời sống sống kinh tế - xã hội nữa, phảitôn trọng và thăng tiến phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xã hội. Vì con người là tác giả, là tâm điểm và cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế-xã hội” (số 63).

    Ở đây, tôi đề nghị dừng lại ở hai quan niệm lớn đã và đang có ảnh hưởng trên thế giới, đó là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.

    a. Ngoài định nghĩa đã nêu trên đây về con người (là con vật có lý trí), triết học còn định nghĩa con người là con vật xã hội. Chiều kích xã hội là một chiều kích thiết yếu của con người. HTXHGH cũng khẳng định như vậy, nhưng nhờ đức tin soi sáng, GH có thể đi đến tận nền tảng sâu xa nhất của xã hội tính của con người. GH biết rằng Thiên Chúa không tạo dựng con người như một hữu thể đơn độc, nhưng Ngài muốn tạo con người thành một “hữu thể xã hội”, vì thế “con người chỉ có thể tăng trưởng và thực hiện ơn gọi của mình trong tương quan với kẻ khác” (TL, số 149). Như vậy, không được phép đối chọi con người với xã hội như hai thực thể chống nghịch nhau, hoặc để cho cá nhân mỗi con người tan biến trong tập thể.

    Theo Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II,“sai lầm căn bản của chủ nghĩa xã hội là ở quan niệm về con người” khi “coi cá nhân chỉ đơn giản là một nhân tố, một phần tử trong cấu trúc xã hội”, tương tự như một bộ phận trong một guồng máy hay một hệ thống, “đến nỗi điều thiện hảo (bonum) của mỗi người hoàn toàn tùy thuộc vào hoạt động của bộ máy kinh tế và xã hội”, thậm chí “chính điều thiện hảo ấy cũng có thể có được mà không cần đến chọn lựa tự do của cá nhân, không cần quyết định duy nhất, tuyệt đối và có trách nhiệm [của cá nhân] trước điều thiện hay điều ác. Như thế, con người chỉ còn là một tổng hợp [tổng hòa] những tương quan xã hội, và lúc ấy con người không còn được quan niệm như một chủ thể có quyền tự quyết về luân lý.” (Thông điệp Bách chu niên, số 13, x.TL số 125. Có thể xem thêm Thông điệp Spe Salvi của ĐGH Bênêđictô, số 21). Nguyên nhân sâu xa của sai lầm trên là thuyết vô thần. Đức Thánh Cha giải thích: “Việc phủ nhận Thiên Chúa cắt đứt con người khỏi gốc rễ của mình,và vì thế, khuyến khích việc tổ chức lại trật tự xã hội mà không đếm xỉa gì đến phẩm giá và trách nhiệm của ngôi vị” (Bách chu niên, số 13).

    b. Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu, Đức Gioan-Phaolô II cảnh cáo rằng như thế không đương nhiên có nghĩa là các nước đang phát triển chỉ còn chọn lựa duy nhất là chủ nghĩa tư bản. Ngài phân biệt hai cách hiểu tên gọi “CNTB”. Theo cách thứ nhất, “CNTB” chỉ về nền kinh tế thị trường, (cũng có thể gọi là “kinh tế thương mại” hay “kinh tế tự do”), nghĩa là “một hệ thống kinh tế nhìn nhận vai trò căn bản và tích cực của kinh doanh, nhìn nhận thị trường, quyền tư hữu và trách nhiệm về hậu quả đối với các phương tiện sản xuất, cũng như sự sáng tạo tự do của con người trong địa hạt kinh tế”. Hiểu như thế thì, theo ngài, giải pháp CNTB là thích hợp. Còn cách thứ hai hiểu CNTB như “một hệ thống, trong đó tự do kinh tế không hề bị giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý vững chắc” –, một khuôn khổ nhằm làm cho tự do kinh tế có thể thực sự phục vụ tự do của con người …TBCN theo nghĩa này thì không thể chấp nhận được (Bách chu niên, số 42, x. TL số 335).

    Văn minh Tây phương hiện đại tỏ ra rất đề cao con người, nhưng không phải con người hiểu như ngôi vị mà là con người như cá nhân,- chủ thể của những quyền lợi và bổn phận. Nó có khuynh hướng giới hạn quyền bính của các định chế và truyền thống (gia đình, giáo hội, nhà nước) thường bị coi là “áp bức và ngu dân”, để ưu tiên cho các quyền lợi của cá nhân (chẳng hạn nhìn nhận những cuộc sống chung của hai người đồng phái là hợp pháp như hôn nhân, chỉ vì quyền lợi của những người trong cuộc). Nhưng vì không đề ra được cho các cá nhân một lẽ sống có giá trị, nên lớp trẻ một thời được hưởng thụ mọi tiện nghi của xã hội tiêu thụ, đã quay lại chống chính cái xã hội nuông chiều họ ấy, chống lại mọi biểu tượng của quyền uy (Establishment), đòi bãi bỏ mọi thứ cấm đoán, luật lệ. Dường như họ muốn một sự tự do không hạn chế, dù không biết dùng tự do để làm gì. Phải chăng chủ nghĩa cá nhân của nền văn hóa Tây phương hiện đại là hậu quả kéo dài của chủ nghĩa Tự do (Libéralisme), phát sinh từ phong trào Khai Minh (Enlightenment) của châu Âu thế kỷ XVIII và cuộc đại cách mạng Pháp 1789?

    Nền văn minh Tây phương hiện đai nói là đề cao con người, nhưng vì cắt đứt con người khỏi mọi chiều kích siêu việt và những chân lý nền tảng khách quan, nên thực tế nền văn minh ấy lại thường hạ thấp con người, thậm chí chà đạp con người, như lịch sử thế kỷ XX đã cho ta thấy, và như chúng ta vẫn đang thấy diễn ra khắp nơi.

    Phần II
    NHÂN QUYỀN


    Trong học thuyết xã hội của Giáo Hội, lãnh vực nhân quyền chiếm một vị trí rất quan trọng, có thể nói là trọng tâm, nhất là kể từ thời Đức Thánh Cha Gioan XXIII, đến nỗi đối với nhiều người, tư tưởng và hành động của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II xem ra có thể đồng hoá với việc bảo vệ và thăng tiến nhân quyền, và gần như thu tóm vào trong việc đó (x Roger Etchegaray: Préface cho cuốn Giorgio Filibeck: Les droits de l’homme dans l’enseignement de l’Eglise: De Jean XXIII à Jean-Paul II, Cité du Vatican 1992).

    Tuy nhiên ở đây người ta thường gặp hai loại ý kiến phê bình Giáo Hội. Một đàng, không ít người cho rằng GH chỉ mới nói tới nhân quyền gần đây thôi, còn trước kia thì cương quyết bài bác. Theo một cách nhìn khác, có người lại nghĩ rằng GH ngày nay bàn về nhân quyền một cách trệch hướng so với truyền thống. (x. G.Filibeck: Sđd, Note liminaire, tr 9 và Walter Kasper, Nền tảng thần học của nhân quyền, bản dịch Việt ngữ đăng trong Cầu nguyện và Suy tư, 1999, tr.181-182). Vì lý do trên, chúng ta cần nhắc lại vài nét lịch sử liên quan tới vấn đề nhân quyền.

    I- MỘT CHÚT LỊCH SỬ

    Từ thời Trung cổ Tây phương và cả trước đó, đã có những phác thảo luật pháp về các quyền con người, nhưng phải đợi đến hạ bán thế kỷ XVIII, người ta mới gặp những bản Tuyên ngôn nhân quyền đầy đủ.

    Trước hết là bản Tuyên ngôn độc lập của Hiệp Chủng Quốc ngày 4.7.1776, cũng như những bản Tuyên ngôn lập hiến khác về quyền của các tiểu bang thuộc liên bang Hoa-Kỳ (Virginia, Pensylvania, Maryland và Bắc Carolina năm 1776; Vermont năm 1777; Massachusetts năm 1780; New Hamshire năm 1783). Bản Tuyên ngôn long trọng khẳng định: “Chúng tôi coi là hiển nhiên những chân lý sau đây: Mọi người được dựng nên bình đẳng, được Đấng Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả nhượng”. Tuyên ngôn nhấn mạnh đến quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

    Tiếp đến là Tuyên ngôn quyền Con người và quyền Công dân (Déclaration des Droits de l’Homme et du Citoyen) của Pháp năm 1789. (x. René Coste, L’Eglise et les Droits de l’homme, Desclée Paris 1982, bản dịch Việt ngữ: Giáo Hội và vấn đề nhân quyền, ronéo, không đề tên dịch giả và năm in, tr. 12). Đây là khúc ngoặt quyết định trong lịch sử nhân quyền, vì tuy chịu ảnh hưởng của bản Tuyên ngôn của Hoa-Kỳ, bản Tuyên ngôn nhân quyền này không dựa trên những xác tín tôn giáo nhưng coi nhân quyền là quyền tự nhiên dựa trên bản tính con người. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hiệp chủng quốc ra đời trong phong trào đòi tự do dân chủ do những người châu Âu định cư tại Mỹ khởi xướng chống lại chính quyền thuộc địa Anh, còn Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp dựa trên trào lưu triết học duy lý thế kỷ XVII và XVIII, được mệnh danh là Triết học Ánh Sáng (philosophie des Lumières). Mặc dù các nhà cách mạng Pháp chỉ muốn dựa trên lý trí và đã quyết liệt chống lại Giáo Hội nhưng chính “sức năng động đặc thù của Kitô giáo”, đặc biệt là “chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo thời Phục Hưng” đã góp phần sinh ra bản Tuyên ngôn nhân quyền của họ (x.R Coste, sđd tr.13).

    Lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ mà nó đề ra, rốt cuộc cũng chỉ dành cho một thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản. Thiếu sót lớn của nó là quan niệm con người như một cá nhân đơn độc và do đó trừu tượng, không phải con người mang tính xã hội, con người liên đới với đồng loại, đặc biệt với người nghèo khổ, người bị bỏ rơi. Thực tế, quan niệm đó đã hỗ trợ cho thuyết Tự do kinh tế tức chủ nghĩa Tư bản, dẫn tới sự ra đời của giai cấp công nhân và việc bóc lột khủng khiếp giai cấp này. Nó cũng đã đẩy mạnh sự ra đời của các chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội mệnh danh là khoa học của Marx và Engels, mà về sau sẽ trở thành chủ nghĩa Cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội hiện thực).

    Bản tuyên ngôn nổi tiếng của thời hiện đại là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10.12.1948. Tác giả chính của bản văn này là René Cassin, nhà luật học nổi tiếng người Pháp. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, thế giới đã nhất trí với nhau về một tuyên ngôn khẳng định những quyền căn bản của con người, với xác tín rằng: “Việc nhìn nhận phẩm giá của hết mọi người trong gia đình nhân loại và các quyền lợi bình đẳng, bất khả nhượng của con người là nền tảng để có được tự do, công lý và hoà bình trên thế giới” (Tuyên ngôn, Lời mở đầu). Từ Tuyên ngôn 1789 của Pháp đến Tuyên ngôn quốc tế này, đã có một bước tiến lớn trong ý thức về nhân quyền: thay vì chỉ nhấn mạnh tới các quyền tự do cá nhân, người ta đã đề cao thêm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Về sau, ý thức ấy sẽ còn được mở rộng tới quyền tập thể của các dân tộc, chủng tộc, nhóm dân thiểu số v.v. như quyền được phát triển, được chia sẽ của cải, được hưởng hoà bình (x.René Coste, sđd, tr 27 và 32).

    Liên Hiệp Quốc còn tiếp tục công việc phát huy nhân quyền bằng nhiều văn kiện quan trọng khác, như: Hiệp ước về qui chế cho người tị nạn (1951), Hiệp ước về quyền chính trị của phụ nữ (1952), Tuyên ngôn về quyền trẻ em (1959), Hiệp ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (1966). Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật (1975).

    Xét về mặt pháp lý, Tuyên ngôn quốc tế chỉ là một nghị quyết, không phải một thỏa ước; nó chỉ nêu một “lý tưởng chung cho mọi dân tộc, mọi quốc gia vươn tới” (Lời mở đầu), do đó cũng chỉ mang hình thức một sức mạnh trị tinh thần mà thôi, nhưng trong thực tế ảnh hưởng của nó rất lớn và không ngừng gia tăng.

    Bản Tuyên ngôn quốc tế này đã được đại đa số các nước hoan nghênh, nhưng bị nhiều nước Hồi giáo phê bình vì cho rằng bản Tuyên ngôn không tính đến bối cảnh văn hóa và tôn giáo của các nước ngoài châu Âu. Năm 1981, đại diện Iran tại Liên Hiệp Quốc phát biểu: “Tuyên ngôn là một cách hiểu “thế tục” về truyền thống Do-thái và Kitô giáo; người Hồi giáo không thể áp dụng nó mà không vi phạm Luật căn bản (sharia) của mình.” Đối lại bản Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc, họ cũng đưa ra bản Tuyên ngôn Cairo về nhân quyền trong Hồi giáo, đuợc Tổ chức các nuớc Hồi giáo biểu quyết ủng hộ ngày 30.6.2000. Bản tuyên ngôn này có những điều phù hợp với bản tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc nhưng cũng có những điều bất cập, ví dụ: Không được ép buộc ai thay đổi tôn giáo mình để theo một tôn giáo khác hoặc trở thành vô thần, nhưng cũng không ai được quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng của mình. Nguyên do của những bất cập nói trên là: tất cả mọi quyền lợi và mọi tự do được nêu lên trong bản Tuyên ngôn đều phải lệ thuộc vào luật Hồi giáo Sharia (Luật căn bản). Nói cách khác nền tảng của các bản Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp và của Liên Hiệp Quốc là bản tính con người, còn trong Hồi giáo, luật Sharia là nguồn của nhân quyền.

    II. GIÁO HỘI VÀ NHÂN QUYỀN

    l. Những phản ứng tiêu cực buổi đầu

    Trong phong trào đấu tranh cho tự do và nhân quyền trong vài thế kỷ qua, Giáo Hội nói chung đã có một thời gian dài tỏ ra thờ ơ, thậm chí chống đối tiêu cực. Chẳng hạn Đức Giáo Hoàng Piô VI đã kịch liệt chống lại bản Tuyên ngôn quyền Con người và quyền Công dân (1789) trong Tông thư Quod aliquantum (1891), trong đó các loại” tự do mới” bị coi là “nhưng quyền kỳ quái” hoặc “quyền ảo tưởng”. Nhưng bản “cáo trạng” mạnh mẽ nhất, dứt khoát nhất chống lại phong trào nhân quyền cuối thế kỷ XIX hẳn là bản Syllabus kèm theo Thông điệp Quanta cura của ĐGH Piô IX (1864), đó là bảng liệt kê 80 sai lầm của thời đại. Hình như những gì liên quan tới nhân quyền đều gây dị ứng cho GH thế kỷ XVIII và XIX. Ngay cả với bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948), GH cũng tỏ ra dè dặt trong một thời gian khá dài.

    Thái độ này thật đáng ngạc nhiên, khi mà chúng ta đã có cả một truyền thống Kitô giáo riêng rất cổ kính về các quyền con người. Truyền thống ấy bắt nguồn từ Kinh Thánh, khởi đi từ xác quyết rằng con người là hình ảnh Thiên Chúa. Đây là một xác quyết mang tính cách mạng so với ý thức hệ Đông phương theo đó thì chỉ có nhà vua mới là hình ảnh của Trời. Vì là hình ảnh của Chúa nên mỗi người trong tư cách là người, bất kể thuộc chủng tộc, dân tộc, phái tính hay văn hóa nào, đều có một phẩm giá bất khả xâm phạm. Chưa nói tới Tân Ước, ngay Cựu Ước cũng đã có biết bao qui định và yêu sách về tôn trọng và bảo vệ sự sống, bảo vệ con người, nhất là người nghèo khổ, bé mọn. René Cassin và các môn sinh của ông đã coi bảng Thập giới là “một trong những nền tảng lịch sử chính yếu của bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền”, và một đồ đệ của ông đã nói: “Các lệnh truyền của Thiên Chúa, trong thực tế, trùng hợp với những quyền lợi của con người” (R.Coste, sđd tr.61).

    Truyền thống Kinh Thánh trên đã sớm được kết hợp với thuyết cổ truyền về quyền tự nhiên. Thánh Tôma Aquinô đặt phẩm giá con người trên sự kiện là con người là ngôi vị có lý trí, tự do, hiện hữu vì lợi ích riêng của chính mình. Học thuyết này sẽ được nhiều nhà thần học về sau tiếp tục khai triển, như Vitoria, Las Casas, và tạo thành điểm gặp gỡ cho quan niệm Kinh Thánh về nhân quyền với quan niệm tân thời về quyền con người.

    Vậy chắc chắn GH không chống lại chính các quyền con người, -GH không thể làm như thế, nhưng có lẽ GH phản đối cách thức người ta trình bày, giải thích các quyền đó, và thường sử dụng chúng để công kích GH trực tiếp hay gián tiếp. Đừng quên bầu không khí thù nghịch, bài Kitô giáo, bài giáo sĩ rất mạnh mẽ phát sinh từ hậu bán thế kỷ XVIII, với phong trào triết học duy lý như đã nói trên, kéo dài mãi qua đầu thế kỷ XX. Dù sao, chắc hẳn phải có những lý do phức tạp và quan trọng nào đó mới giải thích nổi thái độ của GH đối với phong trào nhân quyền trong giai đoạn này.

    2. Giáo Hội quyết liệt dấn thân cho nhân quyền

    Sự thay đổi thật ra đã bắt đầu với Đức Lêô XIII, người đã có cái nhìn cởi mở đối với thời đại mới, được tiếp nối bởi các Đức Giáo Hoàng Piô XI và Piô XII. Chống lại Đức Quốc Xã, Đức Piô XII viết: “Con người trong tư cách là một ngôi vị, có những quyền nhận được từ Thiên Chúa, và đứng trước một tập thể nào các quyền ấy cũng phải được bảo vệ nguyên vẹn, không được phủ nhận, hủy bỏ hay xao nhãng” (Thông điệp Mit brennender Sorge, trích theo R.Coste, sđd, tr.40). Trong Sứ điệp lễ Giáng sinh năm 1942, ngài khẳng định một lần nữa: “ Mỗi cá nhân đều có quyền đòi hỏi được bảo vệ những quyền lợi riêng của mình; mỗi cá nhân đều có quyền hưởng một khu vực nhất định và riêng biệt gồm những quyền lợi mà không ai được tùy tiện xâm phạm. Đó là những quyền vĩnh viễn chỉ con người mới có, phát sinh từ trật tự pháp lý mà Thiên Chúa đã muốn” (Trích trong Thông điệp Hoà bình trên trái đất, số 2, AS, số 70).

    Được mở đường như trên bởi các vị tiền nhiệm của mình, Đức Thánh Cha Gioan XXIII là vị Giáo Hoàng đầu tiên đã chấp nhận một cách chính thức ý tưởng về các quyền con người dựa trên nhân phẩm, và đề cập tới nhân quyền một cách qui mô, chuyên đề trong Thông điệp Hoà bình trên trái đất, năm 1963 (trong Phần I, số 1-24 ). Người ta lưu ý tới hai đặc điểm: Thông điệp lặp lại những điều quan trọng nhất trong Tuyên ngôn quốc tế năm 1948, nhưng khác với bản Tuyên ngôn, bản văn của Đức Gioan XXIII nối liền quyền lợi với nghĩa vụ; đàng khác tuy là một văn kiện tôn giáo, nhưng các quyền con người ở đây lại được đặt chủ yếu trên nền tảng luật tự nhiên mà mọi người công nhận. Cũng trong Thông điệp này, Đức Thánh Cha đánh giá cao bản Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, coi đó là “một trong những công việc trọng đại nhất” mà tổ chức này đã thực hiện,”một bước tiến dẫn tới sự thành lập một tổ chức pháp lý chính trị trong cộng đồng thế giới” (Phần IV, số 8). Nên biết rằng trước Đức Gioan XXIII, Giáo Hội chưa bao giờ lên tiếng đồng tình. Nhưng sau ngài, có thể nói các vị Giáo Hoàng không ngần ngại ca ngợi cả tổ chức Liên Hiệp Quốc lẫn bản Tuyên ngôn của tổ chức, mỗi khi có dịp. Chính thái độ cởi mở của ngài đối với các khát vọng của thế giới về công lý và hoà bình đã góp phần vào thành công của Thông điệp Hoà bình trên trái đất nơi các chính phủ và tổ chức chính trị ở cả hai phía tư bản và cộng sản thời bấy giờ. Hội đồng châu Âu đánh giá: “Thông điệp (đó) là một bản Hiến chương lớn nữa đến sau những Hiến chương lớn khác của lịch sử … Nó đến nhắc nhở rằng hoà bình chỉ đạt được nhờ tôn trọng vị trí ưu việt của pháp quyền và nhờ bảo vệ và phát triển các quyền của con người” (Theo Gustave Martelet, Les idées maitresses de Vatican II, DDB, Paris 1966, tr.142).

    Nối tiếp con đường của Gioan XXIII, Công Đồng Vaticanô II khẳng định vị trí hàng đầu của ngôi vị con người trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội, và nhìn nhận rằng ý thức ngày càng mãnh liệt về nhân phẩm và nhân quyền là một tiến bộ của loài người (x. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 73). “Giáo Hội dựa vào Phúc Âm được ủy thác cho mình, công bố những quyền của con người, nhìn nhận và tôn trọng năng động của thời hiện đại hiện đang cổ võ cho những quyền ấy khắp nơi” (x. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 41). Nhưng liền theo đó, Công Đồng cảnh báo trước cám dỗ cho rằng “các quyền lợi của con người chỉ được duy trì trọn vẹn khi loại bỏ mọi Lề luật của Thiên Chúa”, mà “thật ra, đi theo con đường này là (…) làm cho phẩm giá con người tiêu tan.” ( Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 41).

    Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II còn đi xa hơn các vị tiền nhiệm trong mức độ ngài triển khai một cách có hệ thống tất cả mọi hậu quả của nhân phẩm trên bình diện nhân quyền, đến nỗi người ta đã có thể viết: “Với Đức Gioan-Phaolô II, nhân quyền trở thành bộ khung của giáo huấn xã hội của Giáo Hội” (Michel Schooyans, Centesimus Annus et la “Sève Généreuse” de Rerum Novarum, trong De “Rerum novarum” à “Centesimus annus”, Cité du Vatican 1991, tr.48). Đề tài Nhân quyền được đề cập tới không biết bao nhiêu lần, trong nhiều văn kiện, nhiều dịp, kể cả những chuyến du hành mục vụ của ngài trên thế giới.

    Tuyên bố long trọng đầu tiên được đưa ra ngay sau khi ngài lên ngôi, trong Thông điệp Đấng Cứu chuộc loài người, năm 1979, trong đó ngài coi việc tôn trọng nhân quyền là nền tảng cho hoà bình và hoà hợp trong xã hội loài người (số 17). Rồi sau đó liên tiếp trong nhiều Thông điệp, Tông thư hay Tuyên bố, ngài đưa giáo huấn này vào trong lãnh vực học thuyết xã hội. Nhất là ngài không mệt mỏi hành động cho nhân phẩm, nhân quyền, không chỉ ở cấp độ cá nhân mà còn ở cấp độ các quốc gia, dân tộc nữa.

    Chúng ta cũng không được quên hoạt động của các tổ chức của Toà thánh, đặc biệt là Hội đồng Toà thánh về Công lý và Hoà bình, của Đại diện của Toà thánh trong nhiều tổ chức quốc tế, cũng như không nên coi nhẹ đóng góp của nhiều Hội đồng Giám mục, tiêu biểu là Hội nghị của các Giám mục Mỹ La-tinh tại Medellin năm 1968 và Puebla năm 1979.

    Sự dấn thân nhiều mặt của Giáo Hội chắc chắn đã đóng góp rất đáng kể vào việc thăng tiến nhân quyền, cho dù các hoạt động đó không được mọi người ưa thích.

    3. Vài lời dạy về nhân quyền

    Sau đây, xin tóm tắt vài lời dạy của Giáo Hội liên quan tới nhân quyền, theo bản Tóm lược (số 152-159) và cuốn Agenda Social (số 66-77).

    3.1- Nền tảng

    Nhân quyền đặt nền tảng trên phẩm giá của ngôi vị con người và phát sinh trực tiếp và đồng thời từ chính bản tính của họ, do đó trí khôn có thể nhận thức được, còn đức tin thì mang lại cho chúng một nền tảng vững chắc hơn.

    3.2- Những đặc tính

    Vì nằm ngay trong bản tính con người nên các quyền con người là

    - phổ quát, nghĩa là chung cho hết mọi người trong tư cách là người (ai ai cũng có bản tính người như nhau),

    - bất khả xâm phạm, không ai được phép xâm phạm vì bất cứ lý do nào,

    - và bất khả nhượng, cũng giống như ta không thể nhượng tính người của mình cho ai, và ai cố tước đọat các quyền ấy khỏi người khác là xâm phạm tới bản tính của chính họ.

    Giữa con người với nhau luôn luôn tồn tại những khác biệt, đôi khi rất quan trọng, như khả năng thể lý, khả năng trí tuệ, khác nhau về giới tính, chủng tộc v.v., nhưng bản tính và phẩm giá của mọi người là như nhau, vì thế mọi kỳ thị liên quan tới các quyền con người là không thể chấp nhận, và “trái với ý Thiên Chúa.” (Vui mừng và Hy vọng, số 29; AS, số 76). Người ta nói nhân quyền là quyền tự nhiên, quyền do thiên nhiên, chứ không phải do một ai hay một thể chế nào ban phát cho, vì thế “sức mạnh của nó là bất diệt” (TĐ Hòa bình trên trái đất, số 30; AS, số 74). Dĩ nhiên đối với đức tin Kitô giáo, luật tự nhiên cũng do chính Thiên Chúa tạo ra và nền tảng tối hậu của nhân phẩm và của nhân quyền cũng là Thiên Chúa.

    - Có thể thêm đặc tính không thể phân chia. Các quyền căn bản của con người liên kết với nhau thành một tổng thể, do đó phải bảo vệ chúng không chỉ một cách riêng lẻ là đủ, nếu bảo vệ một phần các quyền mà thôi sẽ là gián tiếp không nhìn nhận tất cả các quyền con người, vì các quyền đó tương ứng với những đòi hỏi của nhân phẩm.

    Tuy nhiên vẫn có thể nói tới một thứ trật tự về giá trị ưu tiên nào đó. Trong danh sách các quyền con người của ĐGH Gioan-Phaolô II lập trong TĐ Bách chu niên (số 47), quyền được sống nằm trên hết, còn quyền tự do tôn giáo “hiểu như quyền được sống trong chân lý của niềm tin của mình và phù hợp với phẩm giá siêu việt của con người, theo một nghĩa nào đó, (là) nguồn mạch và tổng hợp của các quyền” khác (x.TL, số 155).

    3.3 - Nhân quyền, xã hội và chính quyền

    Cho dù đặc tính xã hội là thiết yếu cho con người, (x. Vui mừng và Hy vọng, số 24-25; AS, số 60) thì vẫn đúng là “các quyền này có trước xã hội và phải được xã hội công nhận” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1930; AS, số 71.); chính quyền phải tôn trọng nhân phẩm, do đó tôn trọng nhân quyền, phải đưa ra những khung luật cần thiết để bảo vệ và thăng tiến nhân quyền; nếu chà đạp hoặc phủ nhận các quyền này, chính quyền sẽ mất tính hợp pháp về mặt luân lý, cho dù họ có tìm cách tồn tại dựa vào sức mạnh hay bạo lực. Nền tảng đích thực và bền vững của thể chế dân chủ, chính là ở chỗ biết nhìn nhận rõ rệt các quyền con người (TĐ Bách chu niên, số 47; AS, số 67).

    3.4- Quyền lợi và nghĩa vụ.

    Đã có quyền lợi thì cũng có nghĩa vụ, điều này đúng cả trên bình diện xã hội lẫn bình diện luật tự nhiên. Thí dụ: quyền được sống kèm theo nghĩa vụ phải bảo tồn sự sống, quyền được hưởng một đời sống xứng hợp buộc ta có nghĩa vụ phải ăn ở cho có phẩm cách; quyền được tự do tìm chân lý buộc ta có bổn phận càng phải nhiên cứu và mở mang tầm học tập” (TĐ Hoà bình trên trái đất số 29). “Bởi thế, người nào chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà quên nghĩa vụ của mình hay không chu toàn nghĩa vụ đó, tức là dùng tay này phá hủy công việc tay kia đang xây dựng” (TĐ nói trên, số 30; TL, 156; AS, số 74).

    3.5- Quyền của các dân tộc và quốc gia

    Phạm vi nhânquyền được mở rộng ra để bao gồm cà quyền lợi của các dân tộc và các quốc gia. “Điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với các dân tộc”(TL, số 157). “Các quyền của các quốc gia không là gì khác hơn là ‘các quyền con người’ được vun đắp ở cấp đời sống cộng đồng’” (TL, số 157).

    3.6- Nhiệm vụ loan báo Tin mừng và Nhân quyền.

    Sứ mạng loan báo Tin mừng cứu độ của Hội Thánh bao gồm việc thăng tiến và giải phóng con người về mọi mặt để con người được ngày càng sống xứng với nhân phẩm hơn. Vì thế bảo vệ và thăng tiến nhân quyền là một phần của sứ mạng đó.

    GHI CHÚ:

    Quyền lợi và nghĩa vụ bên trong Giáo Hội

    Giáo Hội có nguồn gốc thần linh, đó là nét đặc thù thiết yếu phải trở thành điểm qui chiếu mỗi khi muốn đặt cơ sở cho những qui định và luật lệ của Giáo Hội và áp dụng chúng vào thực tế đời sống của cơ chế Giáo Hội cũng như những mối liên quan giữa các thành viên của Giáo Hội. Vì nguồn gốc của nhân phẩm là Thiên Chúa, Giáo Hội được mời gọi một cách đặc biệt phải nêu cao chứng tá về đức công bằng. Các quyền lợi và nghĩa bên trong Giáo Hội, như được chỉ rõ trong bộ Giáo luật, phải được thực hiện trong một viễn tượng hiệp thông, vượt lên các giới hạn của một chủ nghĩa cá nhân bất kể tới công ích cũng như một tinh thần vụ luật thiếu bác ái.

    Có thể coi: Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 31-38; Giáo luật các điều 204-231; Sứ điệp cuối kỳ họp Thượng Hội Đồng Giám mục 1974.

    Kết luận

    Trong thời đại chúng ta có nhiều chủ thuyết nhân bản chủ trương loại trừ Thiên Chúa để cho con người được tôn vinh, nhưng thực tế thì sao ? Một khi không còn được nhìn nhận và yêu mến theo phẩm giá là hình ảnh sống động của Thiên Chúa, con người dễ dàng trở thành mồi ngon cho những thế lực khác nhau khai thác, như ý thức hệ, quyền lực kinh tế, chủ nghĩa tiêu thụ, công nghệ tình dục, những hệ thống chính trị phi nhân, sự thống trị của khoa học- kỷ thuật, của các phương tiện truyền thống xã hội v.v. (x. Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân, số 5). GH xác tín rằng “không một luật lệ nào của con người có thể bảo đảm phẩm giá và tự do của họ bằng Phúc Âm của Chúa Kitô đươc trao phó cho GH” (Hc Vui mừng và Hy vọng, số 41, AS số 44).

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giorgio Filibeck, Les droits de l’ homme dans l’enseignement de l’Eglise: de Jean XXIII à Jean-Paul II. Cité du Vatican, 1992.
    2. Conseil Pontifical Justice et Paix, De Rerum novarum à Centesiums annus. Textes intégraux des deux Encycliques avec deux études de Roger Aubert et Michel Schooyan. Cité du Vatican 1991
    3. Gustave Martelet. Les idées maitresses de Vatican II, Desclée de Brouwer 1966.
    4. René Coste, L’Eglise et les droit de l’homme desclée, Paris 1982 ( Bản dịch Việt ngữ: Giáo Hội và vấn đề nhân quyền, không ghi dịch giả và năm ấn hành).
    5. Nhiều tác giả, Dieu au XXe siècle, Sous la direction de Bruno Chenu et Marcel Neusch, Bayard, Paris 2002
    6. Vatican II, La liberté religieuse, Collection Unam sanctam 60, Cerf, Paris 1967.
    7. Giorgio Filibeck, Les droits de l’ homme dans l’enseignement de l’Eglise: de Jean XXIII à Jean-Paul II. Cité du Vatican, 1992.
    8. Conseil Pontifical Justice et Paix, De Rerum novarum à Centesiums annus. Textes intégraux des deux Encycliques avec deux études de Roger Aubert et Michel Schooyan.
    Cité du Vatican 1991
    9. Gustave Martelet. Les idées maitresses de Vatican II, Desclée de Brouwer 1966.
    10. René Coste, L’Eglise et les droit de l’homme desclée, Paris 1982 ( Bản dịch Việt ngữ: Giáo Hội và vấn đề nhân quyền, không ghi dịch giả và năm ấn hành).
    11. Nhiều tác giả, Dieu au XXe siècle, Sous la direction de Bruno Chenu et Marcel Neusch, Bayard, Paris 2002
    12. Vatican II, La liberté religieuse, Collection Unam sanctam 60, Cerf, Paris 1967.
     
    Lm Nguyễn Hồng Giáo OFM
    March 24

    HỒNG THẬP TỰ PHÁP TẶNG CƠ SỞ 32 BIS NGUYỄN THỊ DIỆU ĐỂ LÀM VIỆC TỪ THIỆN - XÃ HỘI.

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 24/03/2008 03:20)
     
    HỒNG THẬP TỰ PHÁP TẶNG CƠ SỞ 32 BIS NGUYỄN THỊ DIỆU ĐỂ LÀM VIỆC TỪ THIỆN - XÃ HỘI

    Hội Hồng Thập tự Pháp đã quyết định tặng cho Tu hội Nữ tử Bác ái Vinh Sơn các bất động sản vì họ thấy rằng, hơn ai hết các soeurs Vinh Sơn sẽ tiếp tục công việc từ thiện xã hội mà họ đã làm. Ý muốn này thể thiện rõ trong thư đề ngày 23 tháng 7 năm 1958. Trong khi chờ đợi sự chấp thuận của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, họ đã để các soeurs Vinh Sơn sử dụng các bất động sản này thông qua hợp đồng thuê với giá tượng trưng 1 đồng mỗi năm.

    Sau 5 tháng, Tổng thống đã chấp nhận ý muốn của họ thông qua Nghị định 533 – TC ngày 27/12/1958 cho phép Hội Nữ tử Bác ái Vinh Sơn Phaolô, thâu nhận bất động sản của Hội Hồng Thập Tự Pháp. Nghị định đính chánh 102 – TC Ngày 20/3/1959, kèm theo hai phụ bổn đề nghị đặc cách miễn thuế trước bạ cà con niêm (con tem) chiếu theo quyết định của Ông Bộ trưởng Bộ Tài Chánh, ngày 31/12/1958, số 5423/BTC/TV và đặc cách cả lệ phí Sinh thời tặng dữ.

    Ngày 31/12/1958, sinh thời tặng dữ (hợp đồng tặng cho) được lập bởi vị Chưởng khế tại Sài – Gòn, ông PHAM VAN PHAN, trước sự hiện diện của Ông GEORGES – HENRI DUCHESNE, Tổng Đại Diện Hội Hồng Thập Tự Pháp, soeur LLOBET, Giám Tỉnh Tu hội Hội Nữ tử Bác ái Vinh Sơn. Và hai nữ tu khác làm chứng, Soeur Francoisse de Montgolfier, soeur Bùi Thị Ngọc Yến. (xem Sinh thời tặng dữ)

    Ngày 2/4/1959, vào trước bạ tại Sài Gòn (phòng 4). Chủ sự trước bạ là ông Hà Văn Sửu.

    Hiện nay, khi trích sao sổ điền thổ, Tu hội Nữ tử Bác ái vẫn còn đứng tên chủ quyền bằng khoán 632, tức cơ sở 32 bia Nguyễn Thị Diệu, nó cũng còn thể hiện trên bản đồ địa chính (xem trích sao sổ điền thổ, bản đồ địa chính).

    Như thế, không một ai có thể phủ nhận chủ quyền của các soeur Vinh Sơn trên cơ sở 32 bis Nguyễn Thị Diệu.

    Hội Hồng Thập Tự Pháp là một tổ chức tôn giáo hoạt động cho mục đícg từ thiện – xã hội. Quý bạn đọc có thể vào http://www.croix-rouge.fr/goto/index.asp để biết thêm tổ chức và các hoạt động của họ hiện nay.

    Thiết tưởng cũng cung cấp cho quý bạn đọc một số hoạt động của các soeurs Vinh Sơn, Tỉnh Dòng Việt Nam. Tu hội Nữ tử Bác ái Vinh Sơn là dòng tu có tôn chỉ là tận hiến cho Thiên Chúa, sống thành Cộng đoàn huynh đệ để phục vụ Đức Kitô nơi những người kém may mắn, neo đơn, bệnh tật, xem họ như anh em của mình.

    Sau đây là một sồ hoạt động:

    Dấn thân phục vụ các bệnh nhân tại:

    - Trại phong Bến Sắn, Ấp Khánh Bình, Ân Uyên, Bình Dương

    - Trại phong Phước Tân, Long Thành, Đồng Nai

    - Trại phong Di Linh, Lâm Đồng

    - Trại phong II, Gia Hiệp, Gia Lành, Di Linh, Lâm Đồng

    - Trung tâm Mai Hòa nuôi dưỡng bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối không nơi nương tựa, được cấp giấy phép số 433/QĐ –UB TP cấp ngày 17/01/2001, địa chỉ Lô 6, xã An Nhơn Tây, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh

    - Nồi súp miễn phí hàng ngày cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung Bứu, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, TP Hồ Chí Minh, bệnh viện Đa Khoa Đà Lạt, bệnh viện Da Liễu Núi Sạn và bệnh viện Lao Phổi Núi Sạn Nha Trang, bệnh viện Lao Phổi Cần Thơ.

    - Và rất nhiều tu sĩ khác làm công nhân viên tại các bệnh viện Công lập.

    Về giáo dục:

    - Mở các lớp tình thương tại những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc cho những con em của người di dân, không có nơi ở ổn định. Tại TP Hồ Chí minh có 9 trường, với khoảng 38 lớp, từ mẫu giáo đến lớp 5.

    - Trường Khiếm Thính Mai Anh, số 1 Ngô Quyền, TP Đà Lạt.

    - Trường Khuyết tật Trí tuệ Mai Linh, số 91A Tổ 1, láng Cát, Đông Yên, Châu Đức, Bà rịa – Vũng Tàu.

    - Mở các trường mầm non trong nhiều tỉnh thành.

    - Hỗ trợ và động viên các gia đình khó khăn tạo điều kiện cho con em họ được đến trường.

    Các hoạt động khác:

    - Trung tâm dạy nghề Phước Lộc, Bà Rịa –Vũng Tàu, tạo công ăn việc làm cho các thiếu nữ miền quê thất học: thêu may, nữ công gia chánh, quản gia.

    - Mái ấm Mai Linh, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh, nơi nương tựa của các thiếu nữ lầm lỡ muốn nuôi con, theo giấy phép số 687/QĐ – UB, cho phép thành lập cơ sở bảo trợ xã hội Mái ấm Mai Linh.

    - Nhà Dưỡng Lão cho những người già neo đơn tại 469 Nơ Trang Long, TP Hồ Chí Minh.

    - Câu lạc bộ hướng nghiệp cho các thiếu nữ mồ côi, khuyết tật, tại nhà chính Tỉnh dòng 42 Tú Xương, quận 3.

    - Thăm viếng, chăm sóc các người già neo đơn tại địa phương.

    - Đồng hành với người di dân nhất là giới thanh thiếu nữ.
     
    Thợ Gốm
    March 23

    Đàng Thánh Giá tại hí trường Côlôsêô: Bản cáo trạng dành cho những chế độ bách hại tôn giáo

     
     
    thứ Sáu Tuần Thánh tại nhà thờ Chính tòa Hà Nội
     
     
     
    Đàng Thánh Giá tại hí trường Côlôsêô: Bản cáo trạng dành cho những chế độ bách hại tôn giáo
     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 21/03/2008 07:06)
     
    Khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô đi đàng Thánh Giá tại hí trường Côlôsêô ngày Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, ngài sẽ không chỉ lần theo dấu những đau khổ của Chúa Giêsu mà thôi, nhưng còn là những khổ đau của Giáo Hội Chúa trên trần gian, cách riêng Giáo Hội của Chúa tại Hoa Lục.

    Suy niệm trong 14 chặng đàng Thánh Giá năm nay đã được viết bởi Đức Hồng Y Giuse Trần Nhật Quân, Giám Mục Hồng Kông. Trong lời nói đầu, vị Hồng Y 76 tuổi này cho biết khi được Đức Thánh Cha yêu cầu ngài viết bài suy niệm cho 14 chặng đàng Thánh Giá năm nay, “Tôi đã không chút ngần ngại nhận lãnh công việc này”.

    “Tôi nhận ra rằng đó là cách thức mà Đức Thánh Cha diễn đạt ưu tư cá nhân ngài về Lục Địa Á Châu bao la, và cách riêng hành động long trọng này bao gồm tình thương cảm Kitô Giáo đối với người tín hữu tại Trung Hoa. Đức Giáo Hoàng muốn tôi mang tiếng nói của anh chị em ở xa xăm đến hí trường Côlôsêô này”.

    Trong 14 chặng đàng Thánh Giá năm nay, theo dấu vết những đau khổ mà Chúa Giêsu đã phải gánh chịu trong cuộc Thương Khó, người ta cũng thấy được tình trạng thiếu tự do tôn giáo và bất công gây ra bởi nhà nước cộng sản, sự phản bội của những “Giuđa bán Chúa”, đau thương của những tín hữu bị bách hại, hy vọng và vinh quang của các tín hữu, những người trung tín dù phải trả giá đắt cho niềm tin của mình. Tắt một lời, như nhận định của thông tấn xã Công Giáo Asia-News, toàn bộ thực tại của Giáo Hội tại Trung Hoa đã được gói gọn trong 14 chặng đàng Thánh Giá năm nay.

    Trong lời nguyện mở đầu, Đức Hồng Y Quân viết rằng Đàng Thánh Giá kết hợp các tín hữu trong việc kính nhớ “những tôi tớ của Chúa, những người vì lòng trung tín của mình, đã bị phanh thây xẻ thịt nơi đây, trong nhiều thế kỷ đã qua giữa những tiếng gầm thét của đàn sư tử đói và tiếng kêu gào của khán giả”.

    “Côlôsêô đã được nhân thành nhiều phiên bản qua biết bao thế kỷ, bất cứ nơi nào anh chị em chúng ta, trong những miền khác nhau của thế giới, tiếp tục bị bách hại tàn tệ, cuộc Thương Khó của của Chúa Kitô bị kéo dài thêm. Cùng với những anh chị em bị bách hại trên trên thế giới này, chúng ta hãy bắt đầu cuộc hành trình trên đường Thương Khó với niềm xúc động sâu xa, trên con đường Chúa đã từng đi qua với một lòng đầy yêu thương”.

    Tiếng kêu Trung Hoa

    Bài suy niệm của Đức Hồng Y Quân không theo trình tự thông thường trong việc suy niệm Đàng Thánh Giá.

    Chặng thứ nhất được dành kính nhớ Chúa Giêsu chịu đau khổ trên núi Cây Dầu, và ngay tại đó, Đức Hồng Y đã để cho tiếng kêu của người Trung Hoa được lắng nghe tại Côlôsêô, cùng với tiếng kêu than của những tín hữu Kitô bị bách hại.

    “Trong Lá Thư gởi người Công Giáo tại Trung Hoa, Đức Thánh Cha Bênêđíctô đã nhắc lại thị kiến của Thánh Gioan trong sách Khải Huyền khi vị tông đồ rơi lệ trước cuốn sách không thể mở được của lịch sử nhân loại, 'mysterium iniquitatis.' (mầu nhiệm quá u minh). Chỉ có Chiên con bị sát tế mới mở được dấu ấn. Trong nhiều miền trên thế giới, Hiền Thê của Đức Kitô đang trải qua những giờ phút đen tối của bách hại... Xin cho chúng ta hãy tỉnh thức và hãy đồng hành với Hiền Thê của Đức Kitô trong lời cầu nguyện của chúng ta”.

    Nơi chặng thứ Năm, Chúa Giêsu bị Philatô xét xử.

    “Philatô dường như đầy quyền uy. Ông ta ở vị thế cầm trong tay sự sống chết của Chúa Giêsu. Ông ta nhạo cười cái tước hiệu ‘Vua dân Do Thái’. Nhưng thực ra, ông ta rất yếu, bị nhiều xâu xé và phải cúi đầu tuân phục. Ông ta sợ Đại Đế Tibêriô, ông ta sợ cả người dân, ông ta sợ các thượng tế dù trong lòng khinh miệt những kẻ ấy. Ông ta trao Chúa Giêsu để đem đi đóng đinh dù biết Ngài là người vô tội”.

    “Trong cố gắng tuyệt vọng để cứu Chúa Giêsu, ông ta cuối cùng đã phải tha cho một tên tử tội. Ông ta tìm cách rửa tay dính đầy máu người vô tội trong tuyệt vọng. Philatô là hình ảnh của tất cả dùng thẩm quyền của mình như một khí cụ đạt đến quyền lực bất chấp công lý”.

    Tra tấn

    Trong chặng thứ Sáu, Chúa Giêsu bị đánh đòn và chịu đội mão gai. Đức Hồng Y đã dùng hình ảnh này để hướng cộng đoàn tại Côlôsêô đến những tra tấn dã man người Kitô hữu phải gánh chịu tại các nước cộng sản.

    “Đánh đòn ngày nay là một sự trừng phạt tàn bạo. Roi dã man của người La Mã đã xé nát thịt da của con người. Và mão gai bên cạnh gây ra những đau đớn nhức nhối cũng là một sự sỉ nhục vương quyền chí thánh của Chúa Giêsu. Những hình thức tra tấn ngày nay tiếp tục xuất hiện từ tâm can tàn bạo của con người – và những hình thức tra tấn tâm lý cũng không kém dã man so với những hình thức tra tấn thể lý. Và quá thường chính những nạn nhân sau này đến lượt họ lại là những người tra khảo”

    “Có phải những khổ đau này đều là vô nghĩa? Không Chúa Giêsu tiếp tục gom lại những khổ đau này và thánh hóa đủ loại khổ đau của những người đau yếu, những ai chết trong gian lao, những ai bị phân biệt đối xử; nhưng những đau khổ nổi bật hơn hết là những khổ đau vì danh Ngài”.

    “Qua đau khổ của các vị tử đạo, Giáo Hội được chúc phúc; xin cho máu của các vị là hạt giống cho những người Kitô hữu mới. Chúng ta mạnh mẽ tin rằng những đau khổ của họ, ngay cả trong lúc bị coi là thất bại hoàn toàn sẽ là vinh quang thực sự cho Giáo Hội của Người”.

    Gần gũi với Chúa Giêsu

    Trong chặng thứ 11, Chúa Giêsu hứa thiên đàng cho người trộm lành. Điều này vang lên một niềm hy vọng.

    “Người trộm này là kẻ gian ác. Anh ta tiêu biểu cho những người làm chuyện xấu xa, nói thẳng ra là tất cả chúng ta. Anh ta có may mắn là được gần Chúa Giêsu trong giây phút cuối đời, nhưng cả chúng ta, chúng ta cũng có cái may mắn đó. Cũng như anh, chúng ta hãy kêu lên: Lạy Chúa, xin nhớ đến con, khi Chúa về vương quốc của Chúa. Chúng ta cũng sẽ được Chúa đáp lại như đã đáp lại anh trộm lành”.

    Khi chúng ta đi đàng Thánh Giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, xin Chúa giúp chúng ta không những lần theo dấu những đau khổ của Chúa Giêsu, mà còn là những khổ đau của Giáo Hội Chúa trên trần gian, cách riêng Giáo Hội của Ngài tại quê hương Việt Nam thân yêu.
     
    Đặng Tự Do
     
     
     

    "Trong bài suy niệm Đàng Thánh Giá năm 2008 ở Colosseum vừa qua, ĐHY Zen, một cách biểu tượng, đã thốt lên ở chặng thứ 14 : "Sự chờ đợi ngày thứ ba (phục sinh) dường như vô tận" (cette attente du troisième jour semble interminable). Người ta không thể không nhận thấy ở nơi ngài một "niềm tin đau khổ" nào đó, khi hằng ngày ngài lại chứng kiến những bất công và bách hại xảy ra cho Giáo Hội và những con người vô tội. Trong bài suy niệm cuộc Thương khó này, ĐHY đã đề cập đến từ đau khổ hơn 50 lần, gần 30 lần từ bách hại...và nhất là một lần ngài đã đề cập đến sự tự do tôn giáo. Dù bài suy niệm tràn ngập những từ ngữ của thời bách đạo, nhưng xác tín sau cùng của ĐHY vẫn là niềm tin vào Lời Thiên Chúa : " Các con đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian...Thấy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế". Niềm hy vọng Kitô giáo là thế : nhìn thấy ánh sáng giữa tối tăm, niềm hy vọng ở những nơi xem ra tuyệt vọng... Vả lại, sự đau khổ không hoàn toàn phi lý hay vô nghĩa, nó vẫn có điều gì đó để trao ban. Không tìm kiếm đu khổ, nhưng không ai có thể thoát khỏi đau khổ. Vì thế, đau khổ, một khi được sống, được đón nhận, nhất là khi chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, thì đau khổ cũng có giá trị cứu độ cách nào đó.

    Năm nay Giáo Hội hoàn vũ hướng về Á Châu, nhất là các Kitô hữu Iraq đang chịu đau khổ từng ngày, cũng như các Kitô hữu đang sống trong các chế độ cộng sản độc tài như Trung Hoa, Bắc Hàn...vẫn còn nhiều khó khăn và bách hại.

    Cảm giác của ĐHY cũng là cảm giác của nhiều Kitô hữu trước sự im lặng đáng sợ của Thiên Chúa trước bao sự dữ đang hoành hành. Điều đó dẫn nhiều Kitô hữu đến cám dỗ là mong sự chiến thắng của Giáo Hội thật nhanh chóng! "Việc chờ đợi ngày thứ ba này" như là một thách thức nhưng cũng là niềm hy vọng của Kitô giáo. Câu kết thúc của bài suy niệm Đường Thập giá của ĐHY là một lời cầu xin: "Xin gia tăng đức tin cho chúng con!".

    "Chờ đơi ngày thứ ba" là chờ đợi công lý và sự thật, lúc Thiên Chúa tái lập trật tự nhân loại trong tình yêu và công lý. Chờ đợi ngày thứ ba là niềm hy vọng phục sinh của người Kitô hữu, đó là chân lý của Tuần Thánh : chân lý về một Con người đã chết và phục sinh cho tôi và cho nhân loại."

    Blog Lữ Khách

     
     
    March 22

    Khoa học có thể bác bỏ được thuyết vô thần không?

     
    André Comte–Sponville, Jean Staune
     
    Khoa học có thể bác bỏ được thuyết vô thần không?
     
    Phong Uyên dịch
     
    Lời người dịch: Trên diễn đàn talawas mới đây có nhiều bài bàn về Thượng đế. Những bài này có thể chia làm hai loại đối nghịch nhau: Loại muốn chứng minh là có Thượng đế, một đấng sáng tạo ra sự sống và vũ trụ theo nghĩa của các đạo Thiên chúa, nhất là Ki tô giáo. Loại muốn dùng lý luận khoa học, nhất là thuyết tiến hóa của Darwin để phủ nhận có Thượng đế. Loại này phần nhiều là nguyên tác của một số học giả Anh Mỹ được đặc biệt dịch ra tiếng Việt với chủ ý đó. Trong số các tác giả và dịch giả, phải kể Đỗ Xuân Phương, Thích Bình Thường, Trần Hữu Thuần, Trần Tiên Long, Nguyễn Nhân Trí... Tôi đã có nhiều dịp đưa ý kiến với một vài tác giả khi đọc những bài đó. Nhưng ý kiến tôi đưa phần nhiều chỉ giới hạn về dịch thuật và về nghĩa của một vài từ tiếng Việt được chua bằng tiếng Anh. Nhiều khi hai nghĩa tương phản nhau khiến người đọc lúng túng không biết phải hiểu theo nghĩa nào. Cách đây mấy tháng trên tờ nhật báo Pháp Le Figaro có bài chép lại cuộc tranh luận giữa nhà triết học André Comte-Sponville và nhà khoa học Jean Staune dưới sự chủ toạ của tờ báo này. Tôi xin dịch để độc giả talawas, phần nhiều quen tiếng Anh, có thêm tài liệu bằng tiếng Pháp. Trước khi dịch, tôi cũng xin nói qua về thân thế của hai nhân vật này:

    Ông André Comte-Sponville là một nhà triết học duy vật Pháp rất “ăn khách”, luôn được giới truyền thông mời. Ông là đồ đệ của giáo sư Althusser, một triết gia marxiste ở trường Đại học Sư phạm ULM, trường của J. P. Sartre và Trần Đức Thảo. Ông viết 20 cuốn sách về triết học. Có cuốn được dịch ra nhiều thứ tiếng. Cuốn sau cùng của ông mới đây là cuốn L'Esprit de l'athéisme, introduction à une spiritualité sans Dieu (Óc vô thần, lối vào của một đời sống tinh thần không Chúa) nói về truyền thống duy vật, di sản của nhiều nhà hiền triết Hi Lạp thời cổ.

    Ông Jean Staune, nhà sáng lập Đại học Liên ngành Paris (Giáo sư Trịnh Xuân Thuần có trong số giáo sư dạy ở trường này) là một nhà toán học kiêm cổ sinh vật học, tốt nghiệp khoa chính trị học, lại rất thích triết lý về khoa học, mới xuất bản cuốn Notre existence a-t’elle un sens? (Sự hiện hữu của chúng ta có ý nghĩa nào không?). Cuốn sách đồ sộ hơn 500 trang này là kết quả của 19 năm tìm tòi khảo cứu và đặc biệt là Trịnh Xuân Thuần, giáo sư môn vũ trụ học Đại học Virginia Mỹ, nhà Phật học, tác giả nhiều cuốn sách nổi tiếng, viết phần tưạ.

    Ông Comte-Sponville và ông J. Staune có những nhận thức khác nhau về khả năng của triết học và khoa học:

    Ông Comte-Sponville cho những tư tưởng triết học có thể trường tồn vì không cần phải chứng minh như những lý thuyết của khoa học luôn luôn biến đổi tùy theo những khám phá mới hay những chứng minh ngược lại. Như nhiều nhà triết học Pháp theo thuyết duy vật chất (matérialisme), ông cho hiện hữu của vật chất là tự tạo và vật chất là duy nhất. Còn nhà khoa học J. Staune là người theo thuyết Duy ý (idéalisme), có ý cho là những khám phá mới đây của khoa vật lý học, nhất là khoa cơ học lượng tử, có thể làm lung lay những luận cứ của thuyết duy vật và có thể chứng minh là không bác bỏ được sự hiện hữu của một “tầm thực tại khác” (ám chỉ Trời của các đạo Thiên chúa hay tinh thần của các đạo khác).

    Lẽ tất nhiên, muốn hiểu cặn kẽ những lý luận của hai ông này cần phải đọc sách của họ. Tôi cũng muốn có dịp tóm tắt lại bằng tiếng Việt những ý chính trong sách của ông J. Staune, nhất là phần suy luận từ những khám phá mới của khoa cơ học lượng tử.

    Có những từ ngữ tôi cố dịch lại cho thật sát nghĩa gốc của nó từ tiếng Hi Lạp - La Tinh (có chua theo) nên hơi khác với những từ Hán-Việt thường dùng mà theo tôi chỉ có nghĩa tương đương hay nghĩa giới hạn: Lấy thí dụ như hai từ thường dùng là “duy vật” và “duy tâm”. Không những hai từ ngữ này không đúng với nghĩa gốc của nó mà chính trị còn làm cho nó mất ý nghĩa triết học. Nhưng chắc chắn khi dịch vẫn không tránh được phản nghĩa hay mù mờ, hay sẽ gây tranh cãi. Mong các bạn chỉ bảo để sửa đổi.

    André Comte-Sponville - Jean Staune

    *


    Le Figaro: Hai ông là người nghiên cứu rất nhiều về thuyết duy vật chất (matérialisme), một vấn đề đã đưa ra cuộc bàn cãi sôi nổi trong cộng đồng các nhà triết học Âu Tây. Ông André Comte- Sponville, ông là nhà duy vật chất. Vì sao?

    André Comte–Sponville: Trước hết chúng ta phải hiểu hai nghĩa của khái niệm này. Duy vật chất theo nghĩa tầm thường, chỉ một người không có lý tưởng, chỉ sống để vui thú thể xác. Theo triết học, nó có nghĩa hoàn toàn khác! Duy vật chất có một vị thế siêu hình (une position métaphysique): Đó là tư duy tất cả đều là vật chất hay được cấu tạo từ vật chất. Tôi cũng không nói vật chất theo khái niệm khoa học về vật chất. Khái niệm này luôn luôn biến chuyển. Tôi chỉ đứng về phương diện triết học gọi “vật chất” là cái hiện hữu độc lập với tinh thần. Vấn đề là cái nào có trước: tinh thần tạo ra vật chất hay vật chất tạo tinh thần? Thuyết Duy ý (l'idéalisme) cho vế đầu là đúng; thuyết duy vật chất cho vế sau là đúng và có nghĩa là phủ nhận sự hiện hữu có một đấng sáng tạo và có một linh hồn phi vật chất (âme immatérielle). Theo thuyết duy vật chất, không có một tinh thần nào tạo ra thế giới; Đó là thiên nhiên vô tạo (incrée) đã sau cùng làm nảy sinh ra tư duy trong óc con người. Tôi chỉ là một vật thể, vì vậy tôi không thể có cuộc sống sau thân thể tôi được: duy vật chất là có ý nghĩ không có một đời sống nào sau khi chết. Đó là những ý chính của thuyết duy vật chất từ thời Démocrite và Épicure cho tới bây giờ.

    ... Cái thuyết duy vật chất này, ông bạn Jean Staune muốn nói gì thì nói, sẽ không thay đổi gì với những biến chuyển của khoa học! Ông bạn cũng như tôi đều biết là không có một điểm tương đồng nào giữa thuyết nguyên tử của Epicure (là một triết học, không phải là một khoa học) và khoa Vật lý hiện đại (là một khoa học, không phải là một triết học). Vì vậy triết học Epicure sẽ cứ tiếp tục soi sáng chúng ta. Siêu hình học không bị những cái bất ngờ chi phối như vật lý học!

    Jean Staune: Các triết gia hiện thời chưa tiếp thu được đầy đủ những thay đổi phi thường về cách nhìn sự vật qua những hiểu biết mới mà khoa học đã đem đến, nhất là khoa cơ học lượng tử. Những hiểu biết mới đó đã làm lung lay ít nhất là hai cột trụ của thuyết duy vật mà ông vừa kể: thứ nhất là ý tưởng vật chất có thể tự hiện hữu một cách khách quan (có nghĩa là “hiện hữu có trước tinh chất (essence)”); và, thứ hai, tin chắc là ý thức con người chỉ là sản phẩm của một cơ quan nhận thức trong đầu não. Từ gần 70 năm nay, với cơ học lượng tử, chúng ta biết được là cái định đề đầu không còn lí do để tồn tại. Những đặc trưng của các hạt cơ bản thay đổi tuỳ theo cách người ta quan sát. Cái đó đủ để phủ định ý nghĩ tính chất khách quan nằm ngay trong nội tại của vật chất (objectivité intrinsèque de la matière). Ngoài ra, hiện nay có bao nhiêu nhà thần kinh học thì có bấy nhiêu lý thuyết về ý thức và không một lý thuyết nào có vẻ trội hơn lý thuyết khác. Hơn nữa mới đây, càng thử nghiệm nhiều lại càng thấy không có gì chắc chắn là ý thức là sản phẩm của não bộ. Đó là điều làm tôi nghĩ là duy vật chất đã bị những tiến bộ của khoa học làm yếu đi.

    André Comte–Sponville: Ông viết một cuốn sách 500 trang chỉ cốt để tung một cánh cửa đã mở: Cốt để chứng tỏ vẫn có thể tin là có trời. Có ai chối cãi cái sự đó đâu? Ông sẽ thấy không một nhà triết học đứng đắn nào quả quyết không thể tin có trời! Nhưng đứng trên góc độ lô-gíc và siêu hình, từ lâu ai cũng biết - hãy đọc Kant hay Hume, Pascal hay Montaigne - là chúng ta không thể chứng minh được có trời hay không có trời! Đức tin không phải thoát ra từ trò chơi luận chứng và càng không phải từ những bài học về lịch sử các khoa học, mà thoát ra từ sự biến chuyển của tâm thức (mentalités). Để biết một nhà khoa học là duy vật chất hay duy ý, tôi không cần phải hỏi anh ta trước ngưỡng cửa phòng thí nghiệm, tôi hỏi anh ta trước cửa nghĩa địa. Câu hỏi thiết thực là thế này: khi mất một người thân yêu, anh có cảm nghĩ là một ngày kia sẽ gặp lại người đó hay không? Vả lại, ông có vẻ lẫn lộn sự hiểu biết về thực tại với thực tại. Ông viết: cái gọi là vật chất chỉ là một cỗ phương trình. Ông hãy thử đổ phương trình vào thùng xăng xe ông coi nó có chạy không! Sự hiểu biết về vật chất có thể trừu tượng nhưng vật chất không phải là một thứ trừu tượng! Hiểu mặt trời qua những phương trình không có nghĩa là phương trình có thể làm cây cối mọc hay làm anh cháy nắng!

    Jean Staune: Tôi chỉ xin nhắc lại là ngày nay người ta có thể biết một cách chính xác không thể tưởng tượng nổi - và đó là một cuộc cách mạng trong khoa luận về khoa học (épistémologie) - tại sao không bao giờ ta có thể biết được một vài sự việc. Thí dụ như người ta dư biết là vì sao ta sẽ không bao giờ biết được cùng một lúc vị thế và tốc độ của một hạt cơ bản. Không vì vậy mà tôi suy luận là có một ông trời ngồi giữa các chư thánh. Tôi chỉ tự hỏi một cách giản dị là vũ trụ của chúng ta có thể tự hiện hữu được không, nó có thể tự nó là nguyên nhân của nó hay không. Cái mà tôi muốn chứng minh là, nếu ta tiếp tục lập luận đó, ta sẽ nhận thấy trong mọi lãnh vực quan trọng của khoa học (vật lý, toán học, vật lý thiên văn, sinh học, thần kinh học), ở một mức độ nào đó đều đã xảy ra những cuộc cách mạng ngang với cuộc cách mạng đã gây ra bởi những khám phá của Copernic. Cách đây năm thế kỷ, đồng loại chúng ta cứ đinh ninh là chúng ta sống trong một trái địa cầu có đường kính 20000 km, những ngôi sao là những điểm trên một hình cầu trong như tinh thể và mặt trời xoay vần quanh chúng ta. Nhờ Copernic, ta đã lần lần khám phá là mặt trời có đường kính 1,4 triệu Km và có hàng trăm tỷ mặt trời trong giải ngân hà của ta và còn có hàng nghìn giải ngân hà khác. Cái nhãn quan mới về thế giới đã “đập” vào xã hội một cách mạnh mẽ trong đủ mọi phương diện từ kinh tế đến xã hội, đến chính trị, tuy kéo dài trong nhiều thế kỷ. Cuốn sách của tôi có mục đích là để cho công chúng thế kỷ thứ XXI có ý thức là đang có một cuộc cách mạng khác, không phải là để tung một cánh cửa đã mở!

    André Comte–Sponville: Cái đó chả thay đổi gì về vấn đề có Trời hay không có Trời...

    Jean Staune: Tuy cơ học lượng tử không thử nghiệm được là có Trời hay không, nó cho phép mở rộng “phạm vi những cái có thể”. Khoa vật lý này chứng minh là có sự hiện hữu của một tầm hiện thực (niveau de réalité) nằm ngoài sự suy đoán của mọi người. Không có cái gì của tầm hiện thực đó đưa ta tới ý tưởng là có Trời đầy tình thương với chúng ta. Nhưng các đạo lớn - kể cả các đạo không tin là có Trời như đạo Phật và đạo Lão - đều có những trực giác và trực cảm rất mạnh bắt nguồn từ hai nguyên lý: sự hiện hữu của “tầm hiện thực” và mối giao liên giữa bộ óc con người và “cấp bậc” này (cette instance). Những nguyên lý này đáng được tin hơn từ khi có những khám phá của khoa cơ học lượng tử cũng như của vật lý thiên văn và thần kinh học. Đó thật sự là điều mới lạ. Thưa ông André Comte-Sponville, ông quả quyết là “tất cả các đạo đều nội tại (immanentes), đều bắt nguồn từ chúng ta”. Sao ông biết được như vậy? Trong một thế giới “mở”, không ai có thể có cái quả quyết thẳng tuột (a priori) đó cũng như không ai được phép dựa vào cái lý thuyết “tiên khởi là vật chất” mà ông cho là “thực tại”. Trái với những lời ông nói, không phải chỉ những gì chúng ta biết về những nền tảng của thực tại có thể để vào phương trình, mà chính ngay thực tại. Thực tại gần một phương trình hơn là gần một sự vật (une chose). Nếu đây là đúng và hơn nữa, nếu thế giới của chúng ta không “tự đủ” (autosuffisant), không thể tự hiện hữu và để giải thích vì sao như vậy, óc con người phải gắn bó với một tầm thực tại khác, thì điều đó làm lay động mạnh thuyết duy vật chất kinh điển. Tất nhiên là tôi không dám đoán phỏng bản chất của tầm thực tại đó. Tôi không nói là có ông Trời tốt ở trong đó nhận lời cầu xin của mình và lo cho hạnh phúc mình. Nhưng cái khái niệm đó hết bị coi là phi lý.

    André Comte–Sponville: Các nhà triết gia thời buổi nào cũng đều biết là tin ở Trời và tin có một đời sống sau khi chết không có gì là phi lý cũng như thuyết duy vật chất và thuyết vô thần cũng không phi lý gì hơn. Đây chỉ là vấn đề siêu hình học, không phải là vấn đề khoa học. Khi tôi nói đạo giáo là nội tại, tôi không đưa ra một định đề mà đưa ra một luận đề: đó là lập trường của tôi (ma position), không phải là một sự hiển nhiên (une évidence) hay là một sự cần thiết (une nécessité)! Ông không cân nhắc được là những cái thuộc về khoa học có thể chứng minh hay bóp méo được. Không thể làm được như vậy với những cái thuộc về siêu hình. Giữa hai lập luận ông phải chọn một: hoặc là chỉ căn cứ vào cái yếu kém của bản lập luận của ông là tin Trời không có gì là phi lý, như vậy đúng là ông muốn tung cánh cửa đã mở; hoặc là ông tự phụ là có nhiều khả năng tin Trời bây giờ hơn thế kỷ thứ XIX, trường hợp này ông đang từ bỏ lịch sử khoa học để đi đến một vị thế siêu hình. Cách tiến hành của ông đối với tôi thật là trái khoáy.

    Jean Staune: Ông không thể chối cãi được là có nhiều bạn đồng sự của ông quả quyết là khoa học đã giết Trời! Cách tiến hành của tôi lấy căn bản là triết lý về khoa học. Những nhà vật lý chủ chốt ngày nay đều đồng ý là không có phương cách thoả đáng nào để diễn tả quá trình diễn tiến căn bản của các hạt nhân trong thiên nhiên theo nghĩa của các từ ngữ (en termes de...) không gian, thời gian và quan hệ nhân quả (causalité). Tất cả những gì ta biết về thiên nhiên đều đưa ta tới cái quan niệm là căn bản của nó đều nằm ngoài thời gian và không gian nhưng lại làm nảy sinh ra những sự kiện nằm trong thời gian và không gian. Tôi không quả quyết gì khác với những điều đó, nhưng những hệ quả của sự móc nối nhau gây ra bởi sự thay đổi tổng thể những quan niệm về khoa học (ce changement de paradigme) rất là to tát.

    Le Figaro: Ông Jean Staune có vẻ muốn nói không thể tư duy về triết học được nếu không dựa vào khoa học. Ông nghĩ gì về điều ấy thưa ông André Comte-Sponville?

    André Comte–Sponville: Thật là một câu nói vô vị hay là một sự sai lầm! Tất nhiên là không ai còn muốn cặp đôi với vũ trụ luận của Aristote hay của Epicure. Nhưng về triết học, đạo đức học (l'éthique) và siêu hình học, Aristote và Épicure soi sáng ta muôn ngàn lần hơn ông bạn Jean Staune! Chuyện giản dị là về phương diện siêu hình không có một tiến bộ nào cả. Vì vậy có thể nói, những nhà siêu hình học đại danh, theo đúng định nghĩa, sẽ không ai vượt nổi. Còn bất kỳ một nhà vật lý học nào cách đây một trăm năm cũng đã đều bị qua mặt bởi các đồng nghiệp thời nay. Khoa học trong quá khứ là khoa học đã quá thời, khác với triết học.

    Le Figaro: Ông nghĩ là không bao giờ khoa học có thể phủ định được một triết lý.

    André Comte–Sponville: Bất cứ trong trường hợp nào khoa học cũng không phủ định được cốt lõi của triết học là đạo đức học và siêu hình học: Những khoa này luôn luôn sống động. Chính ông Jean Staune cũng xác nhận như vậy: ông tự thừa nhận điểm tựa của ông là một loại lý thuyết phỏng theo Platon...

    Jean Staune: Nhưng khoa học đã làm lụn bại tất cả những công trình triết học xây trên ý tưởng là vũ trụ có 6000 năm tuổi và trái đất là trung tâm của thế giới! Cũng như vậy theo tôi, khoa học sẽ làm lụn bại những triết lý lấy ý tưởng “vật chất tự nó đã đầy đủ” làm nền tảng độc nhất để loại bỏ mọi hệ tư tưởng khác, trong quá khứ cũng như hiện tại.

    André Comte–Sponville: Tất nhiên! Nhưng tôi xin nhắc lại với ông là tôi chỉ nói về siêu hình, chẳng bao giờ nói về vũ trụ học mà ông cứ lẫn lộn hoài. Rõ ràng là khoa học có làm biến đổi những quan niệm của chúng ta về thế giới, nhưng nó không thể làm đảo lộn triết học nói chung và triết học cũng sẽ không tự giới hạn mình để chỉ bình luận những cách mạng khoa học mới xảy ra. Cũng vì vậy, ông bạn Jean thân yêu, tới thế kỷ sau sách của ông sẽ quá hạn, sách của tôi sẽ vẫn luôn luôn đúng thời...

    Stéphane Marchand và Marie Laure Germon ghi.

    Bản tiếng Việt © 2007 talawas
     
     
     

    André Comte-Sponville - Jean Staune : la science va-t-elle réfuter l'athéisme ?

    Propos recueillis par STÉPHANE MARCHAND ET MARIE-LAURE GERMON
    14/10/2007 | Mise à jour : 21:09

     
    LE FIGARO. - Vous avez beaucoup travaillé, l'un et l'autre, sur la question du matérialisme, enjeu d'un débat qui fait rage dans la communauté des philosophes occidentaux. André Comte-Sponville, vous êtes un matérialiste. Pourquoi ?

    André COMTE-SPONVILLE. -
    Distinguons d'abord les deux sens de ce concept. Le matérialiste, au sens trivial, c'est celui qui n'a pas d'idéaux, qui ne vit que pour les plaisirs corporels. Au sens philosophique, il en va tout autrement ! Le matérialisme est d'abord une position métaphysique : c'est penser que tout est matière ou produit de la matière. Attention, je ne parle pas du concept scientifique de matière, qui ne cesse d'évoluer, mais de la catégorie philosophique, qui appelle « matière » tout ce qui existe indépendamment de l'esprit. La vraie question est de savoir ce qui est premier : est-ce l'esprit qui crée la matière, ou la matière (qu'elle soit énergie, ondes ou corpuscules) qui produit l'esprit ? L'idéalisme défend la première position ; le matérialisme, la seconde, ce qui revient à nier l'existence d'un dieu créateur et d'une âme immatérielle. Pour le matérialisme, ce n'est pas un esprit qui a créé le monde ; c'est la nature incréée qui finit par engendrer la pensée dans le cerveau humain. Je ne suis donc qu'un corps, ce qui exclut que je puisse lui survivre : être matérialiste, c'est aussi penser qu'il n'y a pas de vie après la mort. Voici résumées les composantes majeures du matérialisme, depuis Démocrite et Épicure jusqu'à aujourd'hui.

    Cela débouche sur ce que j'appelle dans mon livre un humanisme de la miséricorde. Autant, comme copie de Dieu - puisqu'il est censé nous avoir créé à son image -, nous sommes lamentables (cela ferait douter de l'original !), autant, comme cousins du chimpanzé - avec lequel nous avons 98 % de gènes communs -, nous sommes exceptionnels ! Il ne s'agit pas d'admirer l'homme, encore moins de le haïr ! Il s'agit de pardonner à l'humanité de n'être d'abord qu'une espèce animale, tout en nous félicitant que cette dernière ait produit les sciences et les arts, la démocratie et la sécurité sociale, la mécanique quantique et la philosophie, la gastronomie et l'érotisme. Or, ce matérialisme, quoique vous en disiez, cher Jean Staune, n'est en rien bouleversé par les évolutions scientifiques ! Qu'il n'y ait presque rien de commun entre l'atomisme épicurien (qui était une philosophie, pas une science) et la physique contemporaine (qui est une science, pas une philosophie), je vous l'accorde évidemment. Mais cela n'empêche pas que l'épicurisme continue philosophiquement de nous éclairer. La métaphysique n'est guère soumise aux aléas de la physique !

    Jean STAUNE. - Les philosophes actuels n'ont pas suffisamment intégré l'extraordinaire changement de vision du monde consécutif aux nouvelles connaissances scientifiques, et notamment à la mécanique quantique. Ces dernières fragilisent au moins deux des piliers du matérialisme que vous avez mentionnés : l'idée, d'une part, que la matière existerait objectivement par elle-même (c'est-à-dire,­ justement, que « l'existence précéderait l'essence ») ; et, d'autre part, la certitude que la conscience humaine serait réductible à la seule production d'un organe cognitif. Depuis près de soixante-dix ans, avec l'avènement de la mécanique quantique, nous savons que le premier postulat n'a plus de raison d'être. Les caractéristiques des particules élémentaires ne sont pas invariantes mais dépendent de la façon dont les observe. Cela récuse l'idée d'une objectivité intrinsèque de la matière. Par ailleurs, il y a aujourd'hui autant de théories de la conscience qu'il y a de neuroscientifiques, et aucune ne paraît devoir s'imposer. De plus, de récentes et multiples expériences ont déstabilisé la certitude que la conscience serait le produit du cerveau. Voilà donc pourquoi je pense que le matérialisme est extrêmement affaibli par les progrès scientifiques.

    A. C.-S. - Vous avez écrit 500 pages pour enfoncer une porte ouverte : montrer que la croyance en Dieu est toujours possible. Mais qui le nie ? Vous ne verrez aucun philosophe sérieux affirmer qu'il est impossible de croire en Dieu ! D'un point de vue logique et métaphysique, chacun sait depuis longtemps - lisez Kant ou Hume, Pascal ou Montaigne - que la croyance en Dieu est possible, que nous ne pouvons prouver ni son existence ni son inexistence ! La foi relève moins du jeu de l'argumentation, et encore moins de l'histoire des sciences, que de l'évolution des mentalités. Pour savoir si un scientifique est matérialiste ou idéaliste, ce n'est pas à la porte de son laboratoire que je l'interrogerais, mais à la porte du cimetière. La vraie question est là : lors de la perte d'un être cher, pense­-t-il qu'il va le retrouver ou pas ? Par ailleurs, vous confondez la connaissance du réel avec le réel lui-même. Vous écrivez que ce que l'on nomme « matière » se résume à un jeu d'équations. Mais essayez donc de remplir le réservoir de votre voiture avec des équations, elle n'avancera pas ! Que la connaissance de la matière soit abstraite, comme toute science, cela ne veut pas dire que la matière soit une abstraction ! Que la connaissance du Soleil prenne la forme d'équations, cela ne signifie nullement que ce sont des équations qui font pousser les arbres ou donnent des coups de soleil !

    J. S. - Je rappelle tout d'abord que l'on sait aujourd'hui avec une précision incroyable - et c'est une révolution épistémologique - pourquoi on ne saura jamais certaines choses. Par exemple, on sait parfaitement pourquoi on ne connaîtra jamais la position et la vitesse d'une particule au même moment. Je n'en déduis nullement l'existence d'un Dieu trônant au milieu de ses saints. Je me demande simplement si notre Univers existe par lui-même, s'il est sa propre cause ou non. Ce que je veux montrer, c'est que si l'on poursuit cette démarche, on se rend compte effectivement que dans tous les grands domaines scientifiques (la physique, les mathématiques, l'astrophysique, la biologie, la neurologie), il s'est produit, à des degrés divers, des révolutions comparables à celle induite par les découvertes de Copernic. Il y a cinq siècles, nos semblables étaient persuadés de vivre dans une sphère de 20 000 km de diamètre, que les étoiles représentaient des pointes sur une sphère de cristal et que le Soleil n'était qu'un petit nuage lumineux tournant autour de nous. Grâce à Copernic, nous avons progressivement découvert que le Soleil mesure 1,4 million de kilomètres de diamètre, qu'il en existe des centaines de milliards dans notre galaxie, et, qui plus est, dans des milliers de galaxies. Cette nouvelle vision du monde a « impacté » la société de façon gigantesque aux plans économique, social et politique, même s'il est vrai que ce processus a duré plusieurs siècles. Permettre au public du XXIe siècle de prendre conscience qu'une autre révolution est en cours, ce que mon livre rend possible, ce n'est pas enfoncer une porte ouverte !

    A. C.-S. - Cela ne change pas grand-chose concernant l'existence ou l'inexistence de Dieu...

    J. S. - Mais la physique quantique ne prouve en rien l'existence de Dieu. Elle élargit le « champ des possibles ». La physique démontre l'existence d'un niveau de réalité dont on ne peut rien préjuger. Rien de cet autre niveau de réalité ne nous amène à l'idée qu'il existe un Dieu plein d'amour pour nous. Mais l'existence de cet autre niveau de réalité, avec lequel l'homme peut sans doute être en contact, rappelle les intuitions majeures de toutes les grandes religions - y compris les religions sans dieu comme le bouddhisme ou le taoïsme - fondées sur deux principes : l'existence, précisément, d'un autre niveau de réalité et la possibilité d'un lien entre l'esprit humain et cette autre instance. Ces principes deviennent beaucoup plus crédibles qu'ils ne l'étaient avant les découvertes de la mécanique quantique, mais aussi de l'astrophysique et de la neurologie, et, cela, c'est réellement nouveau. Or, vous affirmez, André Comte-Sponville, que « toutes les religions sont immanentes, qu'elles procèdent de nous ». Qu'en savez-vous ? Dans un monde « ouvert », on ne peut pas faire une telle affirmation a priori, pas plus qu'il n'est permis de s'appuyer sur votre théorie du primat de la matière qui constitue pour vous la « réalité ». Contrairement à ce que vous dites, il semble bien que ce ne soit pas seulement la connaissance que nous avons des fondements de la réalité mais ces fondements eux-mêmes qui sont plus proches d'une équation que d'une chose. Si cela est vrai, et si, en plus, notre monde n'est pas « autosuffisant », ne peut exister par lui-même, et qu'il faut, pour l'expliquer, un autre niveau de réalité auquel l'esprit humain serait relié, cela déstabilise fortement le matérialisme sous sa forme classique. Naturellement, je ne présume aucunement de la nature de cet autre niveau de réalité. Je ne dis pas qu'il est habité par un Dieu bon, accessible à nos prières et soucieux de notre bonheur. Mais ce concept n'est plus a priori absurde.

    A. C.-S. - Les philosophes ont toujours su que la croyance en Dieu et en une vie après la mort était « non absurde a priori », pour reprendre votre expression, et que le matérialisme et l'athéisme ne l'étaient pas davantage. C'est une question métaphysique et non pas scientifique ! Dès lors, quand je dis que la religion est immanente, ce n'est pas un postulat mais une thèse : c'est ma position, pas une évidence ou une nécessité ! Vous ne mesurez pas la différence entre ce qui est démontrable ou falsifiable, qui relève de la science, et ce qui ne l'est pas, qui relève de la métaphysique. De deux choses l'une : soit l'on s'en tient à une lecture faible de votre texte, qui montre que la croyance en Dieu est « non absurde a priori », auquel cas vous enfoncez une porte ouverte ; soit vous prétendez que la croyance en Dieu est bien d'avantage probable aujourd'hui qu'au XIXe siècle, auquel cas vous passez de l'histoire des sciences à une position métaphysique, et c'est ce passage-là qui me paraît indu.

    J. S. - Vous ne pouvez pas nier qu'aujourd'hui encore certains de vos collègues affirment que la Science a tué Dieu ! Ma démarche repose sur la philosophie des sciences. L'essentiel des grands physiciens contemporains s'accorde à penser qu'il n'existe aucun moyen satisfaisant de décrire les processus atomiques fondamentaux de la nature en termes d'espace, de temps et de causalité. Tout ce que nous savons de la nature nous amène à concevoir ses fondements comme étant hors du temps et de l'espace mais engendrant des événements qui sont situés dans le temps et dans l'espace. Je n'affirme rien d'autre que cela, mais les implications de ce changement de paradigme sont gigantesques.

    Vous semblez dire, Jean Staune, que l'on ne peut plus penser la philosophie sans le support des sciences. Qu'en pensez-vous André Comte-Sponville ?

    A. C.-S. - Que c'est une platitude ou une erreur ! Il va de soi que nous ne pouvons plus épouser la cosmologie d'Aristote ou d'Épicure. Il n'en reste pas moins qu'en matière de philosophie, d'éthique et de métaphysique, Aristote et Épicure demeurent infiniment plus éclairants que mon ami Jean Staune ! Tout simplement parce que, au plan de la métaphysique, il n'y a pas de progrès. Ce qui veut dire que les grands métaphysiciens sont par définition indépassables, alors que n'importe quel physicien d'il y a cent ans est dépassé par ses collègues d'aujourd'hui. La science du passé est une science dépassée. Toute grande philosophie est indépassable.

    Vous pensez donc que jamais la science ne pourra réfuter une philosophie.

    A. C.-S. - En tout cas jamais sur l'essentiel, qui est éthique et métaphysique. Les grandes philosophies ne seront jamais réfutées par la science : elles restent vivantes. D'ailleurs, Jean Staune le confirme : il reconnaît lui-même que sa position est une espèce de platonisme...

    J. S. - Mais la science ruine toutes les constructions philosophiques basées sur l'idée que l'univers a 6 000 ans ou que la Terre est au centre du monde ! Il en est de même selon moi des philosophies se basant sur l'autosuffisance exclusive de la matière, ce qui remet en cause bien des systèmes présents ou passés.

    A. C.-S. - Bien sûr ! Mais je vous répète que je parle de métaphysique et non pas de cosmologie, que vous vous entêtez à confondre. Que les sciences fassent évoluer nos conceptions du monde, ce qui est bien clair, cela ne saurait bouleverser la philosophie en général, laquelle ne saurait se réduire au commentaire des dernières révolutions scientifiques. De telle sorte, mon cher Jean, qu'au siècle prochain, votre livre sera parfaitement dépassé, alors que le mien restera d'une actualité pérenne...

     
    Nguồn : Le Figaro
     

    Tản mạn về một vài dụng ngữ có hai chữ “dân tộc”

     
    Tản mạn về một vài dụng ngữ có hai chữ “dân tộc”
     
    Phong Uyên
     
    Gần đây, khi đọc những bài tranh luận, khảo luận trên các diễn đàn tiếng Việt, tôi không khỏi ngạc nhiên trước việc một vài dụng ngữ vốn thường chỉ được dùng để đề cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam nay đã được dùng một cách bừa bãi trong mọi lãnh vực tôn giáo, văn hoá và lịch sử. Đó là những dụng ngữ bao gồm danh từ “dân tộc”. Ngoài ra, khái niệm “dân tộc Việt” đã trở nên mang tính chất hoàn toàn sô vanh và được biến thành một tiêu chuẩn duy nhất để định đoạt sự chính đáng của một tôn giáo, của một sự kiện lịch sử hay một khám phá lịch sử. Những dụng ngữ mà tôi cho là đang bị lạm dụng trong lãnh vực tôn giáo là “nằm trong lòng dân tộc”, “đồng hành với dân tộc”, còn trong lãnh vực khảo luận lịch sử - văn hoá là “dân tộc [Việt]”. Sau đây, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ của tôi xung quanh hiện tượng này.


    1. “Nằm trong lòng dân tộc”

    Nhiều tác giả muốn đề cao Phật giáo đã nhấn mạnh rằng Phật giáo luôn luôn “nằm trong lòng dân tộc”. Tôi lại có cái tự hào là người dân Việt Nam có tư tưởng phóng khoáng về tôn giáo hơn so với nhiều dân tộc khác, trong đó phải kể đến các dân tộc Tây phương thời trung cổ hay đa số các dân tộc theo Hồi giáo thời nay: mọi tín ngưỡng đều được chấp nhận và sống hài hoà trong lòng xã hội người Việt. Một trong những thí dụ tiêu biểu là đạo Cao Đài. Trong lịch sử người Việt cũng chưa từng có chiến tranh tôn giáo, chưa từng có thánh chiến. Ngay cả trong thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo là các triều đại Lý, Trần, các vua chúa cũng không vì thế mà áp đặt đạo Phật thành một quốc giáo (religion d’état). Các vị vua đều tách rời tôn giáo với chính trị, và chỉ khi đã từ bỏ ngôi vị của mình mới xuất gia nương mình nơi cửa Phật. Vả lại Phật giáo cũng không có mục đích chinh phục “lòng” mỗi dân tộc hay tâm tình mỗi hạng người nào mà chỉ có một tôn chỉ là giác ngộ mọi chúng sinh.


    2. “Đồng hành với dân tộc”

    Dụng ngữ này mang nhiều màu sắc chính trị hơn và có ý muốn so sánh Phật giáo – vốn đã “đồng hành với dân tộc từ 2000 năm” qua – với Công giáo, là tôn giáo chỉ mới “đồng hành với dân tộc từ 27 năm nay” theo sự tính toán của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Như vậy, theo cách nói của Thủ tướng Dũng, “đồng hành với dân tộc” có nghĩa là đồng hành với chính quyền. Một tôn giáo như Công giáo hiện có 7–8 triệu tín đồ, vào Việt Nam đã gần 500 năm, không theo gót chân của kẻ chiếm đóng nào ngoài mấy giáo sĩ Bồ Đào Nha, đã đóng góp rất nhiều cho tư tưởng và văn hoá Việt Nam mà chỉ được một người đứng đầu giới chức coi là đồng hành cùng dân tộc trong một thời gian quá ngắn ngủi như vậy sao?

    Đứng về phương diện thuần tuý lịch sử, Phật giáo có thật sự đồng hành với dân tộc Việt từ 2000 năm trước không? “Từ 2000 năm trước” tức là từ khi Giao Chỉ còn là một quận của Nhà Hán và khi đạo Phật mới được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa; có thể do hoàn cảnh địa lý, Phật giáo đã tới Giao châu trước, tới lục địa Trung Quốc sau, nhưng nó đã mang tính chất Đại thừa đặc trưng của Trung Hoa ngay từ đầu. Mặc dầu trong số các vị cao tăng thời đó có thể có người gốc Giao Chỉ, song một điều không thể chối cãi được là Phật giáo ở đất Giao Chỉ thời đó là tôn giáo của kẻ thống trị, của người Trung Quốc, tương tự như Nho giáo. Trái lại, Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Tiểu thừa, được truyền vào các nước Á Đông khác như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam-bốt v.v... không thông qua một chính quyền chiếm đóng nào, có thể được coi là đồng hành với các dân tộc này ngay từ khởi đầu. Về phương diện lịch sử, nếu muốn nói cho thật chính xác thì phải nói rằng Phật giáo phiên bản Nhà Đường mới thật sự “đồng hành với dân tộc Việt Nam” từ thời Lý - Trần. Còn về phương diện tâm lý - ý thức dân tộc, “đồng hành với [một] dân tộc [nào đó]” là một khái niệm xa lạ với giáo lý nhà Phật. Từ bi hỉ xả không bao hàm ý nghĩa đồng hành với một dân tộc cụ thể nào.


    3. “Dân tộc Việt Nam”

    Đã xa rồi cái thời từ “nhân dân” là từ thông dụng nhất vì bao hàm ý nghĩa cách mạng xã hội và đấu tranh giai cấp, và để đề cao những tổ chức trực thuộc Đảng hay tổ chức ngoại vi của Đảng như Quân đội Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, v.v... Dụng ngữ “dân tộc Việt Nam” đã lần lần thay thế hai chữ “nhân dân” từ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ được phát động, với mục đích tăng cường lòng ái quốc và ý chí thống nhất đất nước của mỗi người dân Việt. Thế rồi “dân tộc Việt Nam” trở thành một ý niệm mỗi ngày một lớn rộng, bao trùm lên các truyền thuyết, nền văn minh và đặc biệt là văn hoá chính trị của “chủng tộc” Việt Nam. Sau cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, dụng ngữ này còn mang thêm dụng ý đối lập với chủng tộc Trung Hoa và chối từ văn hoá Hán. Lấy tiêu chuẩn “chủng tộc” để đo lường mọi nhận định, một số nhà nghiên cứu về cổ sử Việt Nam đã không coi trọng tư duy khách quan và tư duy phân tích trong các khảo luận mà chỉ thiên về lập luận chủ quan. Đó là nhận xét chung của những độc giả như tôi, vốn quen đọc những bài khảo luận của nước ngoài.

    Để cụ thể hơn, tôi xin lấy làm thí dụ loạt bài “Những phát hiện chấn động mới đây của thiền sư Lê Mạnh Thát” đăng trên Thanh Niên Online những số gần đây:
    • Mậu Tử, người viết cuốn Lý hoặc Luận hồi thế kỷ thứ II (198), là người Việt Nam.
    • Tăng Khương Hội, người viết Lục độ tập kinh vào khoảng thế kỷ thứ II và truyền bá đạo Phật sang Tàu, là người Việt Nam.
    • Pháp sư Đạo Cao, người viết sáu lá thư gửi sứ quân Lý Miễu đất Giao châu vào thời Nam - Bắc triều Trung Quốc (435–440), là người Việt Nam.
    Tôi thì chỉ thấy sự kiện thiền sư Lê Mạnh Thát đã khám phá ra sáu lá thư của Đạo Cao là có thể được coi là một phát hiện. Những “phát hiện” mà ký giả Hoàng Hải Vân của báo Thanh Niên đề cao chỉ là những suy đoán, theo lô gích sau:
    • Không thấy tên tuổi lý lịch Đạo Cao trong số những tác giả người Tàu, người Nhật, người Triều Tiên thì tất nhiên Đạo Cao phải là người Việt Nam...
    • Vì lối viết tiếng Hán khác với lối viết của người Hán chính cống,Tăng Khương Hội, Mậu Tử phải là người Việt.
    • Đã là người Việt thì tất nhiên phải viết bằng tiếng Việt, trước khi dịch trước tác ra chữ Hán.
    Khẳng định: Chữ viết Việt đã có từ thời đó.

    Nhưng có một khẳng định khác, quan trọng và “chấn động” hơn cả là: sứ quân Lý Miễu chính là một vị vua Việt Nam.

    Đây mới thật là một suy luận phi thường vì từ những cái “không” đã sinh ra cái “có” là Lý Miễu: “toàn bộ những chức danh tương đương với sứ quân Trung Quốc cử sang cũng không có tên Lý Miễu, sử sách Việt Nam cũng không. Kết luận: Lý Miễu chính là một vị vua của Việt Nam” (!!!).

    Bắt đầu từ đây lập luận trở thành thuần túy chủ quan:
    • Có triều đại Lý Miễu thì không có chuyện Tàu đô hộ liên tục 1000 năm;
    • không có An Dương Vương cũng chẳng có Triệu Đà;
    • nhà nước Hùng vương “đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học...”
    Cách đây ít nhất là 3000 năm mà Việt Nam đã có một nhà nước như vậy thì trong lịch sử loài người chỉ có nhà nước Cổ Ai Cập mới có thể sánh ngang được. Trung Quốc mới lập quốc từ đời Nhà Hán nghĩa là mới 2000 năm còn thua xa Việt Nam!

    Tôi không hiểu vì sao trong thời buổi hội nhập này vẫn có người còn duy trì tư duy chủng tộc: cho tới bây giờ có ai biết đất Giao châu cách đây 2000 năm có những chủng tộc nào, và người Việt Nam thời nay liệu có cùng một chủng tộc với những bộ lạc Việt thời đó không? Thử so sánh người Việt cách đây 2000 năm với người Gaulois cùng thời dưới nền đô hộ La Mã: cách đây 1500 năm người Francs từ Đức qua xâm chiếm đất Gaulois và lập ra nước Pháp. Việc vua chúa Pháp có thuộc dòng dõi người Francs hoặc chủng Gaulois cổ hay không, và chủng tộc này còn hay mất, hay đã hoà trộn với các chủng tộc khác, chẳng có nhà sử học Pháp nào, dù sô vanh đến mấy, đặt vấn đề. Cũng vậy, việc Mậu Tử, Tăng Khương Hội, Đạo Cao là người gốc Hán hay gốc Bách Việt, hay gốc người Mường Cao Bằng - Bắc Kạn đâu có thành vấn đề, và cũng làm sao có thể hay biết? Một khi viết sách, viết kinh kệ bằng chữ Hán, theo lối Hán thì phải được coi như người Hán hay người theo văn hoá Hán. Chẳng ai đặt vấn đề triết gia Trần Đức Thảo là người Việt thì đương nhiên phải như Tăng Khương Hội, viết triết học bằng tiếng Việt trước khi dịch ra tiếng Pháp, và Trần Đức Thảo ngang tầm với Jean-Paul Sartre thì triết học Việt Nam cũng ngang tầm với triết học Pháp!

    Về các triều đại cũng vậy. Nếu chứng minh được rằng Triệu Đà tuy là người gốc Tàu (Tàu nào, vì lúc đó nào đã có nước Tàu?) nhưng sau khi chiếm được đất Âu Lạc đã tạo ra một nước Nam Việt để đương đầu với Trung Quốc của nhà Hán thì phải coi nhà Triệu không những là một triều đại Việt mà còn là một triều đại vẻ vang của nước Việt.

    Tôi xin kết luận bằng một nhận xét – đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều khi đọc những bài viết trong nước – là (đa số) trí thức Việt Nam rất giỏi về lí luận, nhưng hình như là thứ lí luận thiếu óc phân tích, thiếu cái nhìn các sự kiện một cách khách quan mà bao giờ cũng theo lập trường. Có lẽ vì từ trước tới nay lí luận về chính trị luôn luôn được đặt lên hàng đầu và được coi là đồng nghĩa với “lô gích” nên người trí thức trong nước – được đào tạo trong lòng chế độ – đã quen để phong cách lí luận chính trị xâm chiếm mọi lãnh vực, trong đó có khoa học lịch sử.


    © 2008 talawas
     
     
     
     
    24.3.2008
     
    Phong Uyên

    Trước hết, tôi xin cảm tạ ông Hoà Nguyễn đã dành cho tôi quá nhiều thiện cảm khi đánh giá cao tính cách khách quan những bài tôi viết trước đây. Trong bài “Tản mạn...”, tôi chỉ lặp lại những gì ký giả Hoàng Hải Vân đã viết về những khẳng định và những lập luận đi từ Lý Miễu đến An Dương Vương và Triệu Đà của tiến sĩ Lê Mạnh Thát. Ý kiến của tôi cũng chỉ phản ảnh những gì tôi đọc được qua bài phỏng vấn giáo sư Sử học đầu nghành Phan Huy Lê đăng trên báo Nhân dân ngày 14-3-08 và của nhiều vị nữa… nói về tiến sĩ Lê Mạnh Thát.

    Tôi cũng xin nhắc lại, trong bài “Tản mạn...” tôi chỉ muốn nói là ý niệm dân tộc đã trở thành tiêu chuẩn trong mọi lãnh vực chính trị, lịch sử, cũng như văn hoá để biến thành một chủ nghĩa đề cao dân tộc, nếu không nói là đề cao chủng tộc. Ðây là một ý niệm hoàn toàn sai lạc với lịch sử và không thích ứng với thời đại chúng ta đang sống, nếu không nói là nó đã từng đưa đến rất nhiều thảm hoạ cho nhân loại, từ Đức quốc xã của Hitler đến Panslavisme bị Staline tận dụng. Gần đây nhất có vụ diệt chủng Tutsi ở Rwanda, và có thể thảm hoạ diệt chủng Tây Tạng đang bắt đầu.

    Việc so sánh dân tộc Gaulois với dân tộc Việt thời Giao Chỉ có thể bị coi là đơn giản, nhưng mục đích của tôi là để chứng tỏ sự hình thành của một quốc gia không cần phải đi đôi với ý niệm dân tộc. Đất Gaule bị đặt dưới quyền thống trị của La Mã khoảng 500 năm cùng thời với đất Giao Chỉ dưới sự đô hộ của nhà Hán. Sau đó lại bị những bộ lạc Francs người Đức xâm chiếm, lập những triều đại dòng dõi người Francs và lập thành nước Pháp cho tới ngày nay. Lịch sử đất Gaule, thậm chí đến người anh hùng Gaulois Vercingétorix nổi lên đánh La Mã, được biết đến là nhờ César, người chinh phục đất Gaule (cùng thời Mã Viện đánh hai Bà Trưng), viết sách để lại. Không có sử gia Pháp nào mất công đi tìm người Gaulois có chữ viết thời đó không và dân tộc còn hay đã hoà lẫn với những chủng tộc khác. Nhưng không ai chối cãi việc có quốc gia Pháp là nhờ người Francs. Bởi vậy, trong sử học, không nên để tiêu chuẩn dân tộc và văn hoá dân tộc nguyên khởi lên hàng đầu; quan trọng là phải tìm hiểu bắt đầu từ thời nào có ý thức quốc gia và biết kiến tạo văn hoá từ những cái bị áp đặt hay tự đi tìm kiếm ở nơi khác văn minh hơn. Nhật Bản tự đi kiếm chữ viết, văn hoá Trung Quốc từ đời Đường, tự qua học Thiền đời Tống, để tạo ra đạo Phật Zen cho mình, trong khi đạo Phật của Việt Nam có gì khác biệt với Đại thừa của Tàu không? Đừng nên vì tự ái dân tộc hay vì óc tự tôn mà bịa ra những cái gì mình vốn dĩ không có.
     
     

    Giáo xứ Tuy Hòa (Qui Nhơn) xin Nhà nước hoàn lại cơ sở Trường Trung Học Đặng Đức Tuấn

     
      
     
     
    VietCatholic News (Thứ Bảy 22/03/2008 02:07)
     
    TUY HÒA - Giáo xứ Tuy Hòa, trước khi bắt đầu xây dựng Nhà Thờ làm Trung tâm sinh hoạt đức tin, đã khởi đầu xây dựng một công trình văn hóa giáo dục đó là cơ sở trường Trung Học Đặng Đức Tuấn, ngôi trường mang tên một linh mục ưu tú của giáo phận Qui Nhơn, một nhà văn hóa lớn của thế kỷ 19, một thế kỷ mà Giáo Hội Công Giáo Việt nam phải trải qua những cơn sóng gió bảo bùng của những đợt bách hại khủng khiếp của các triều đại Vua Nguyễn. Được xây dựng từ năm 1958, trường trung học Đặng Đức Tuấn đã sinh hoạt được 17 năm và đã đóng góp cho xã hội, đất nước nhiều học sinh ưu tú.

    Cùng với nhịp thăng trầm của đất nước, ngày 7/10/1975, theo chủ trương và chánh sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam, trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa đã chính thức được chuyển nhượng cho Ty giáo dục tỉnh Phú Yên để đáp ứng các yêu cầu giáo dục trong tình hình mới của đất nước.

    Trong biên bản bàn giao, điều cam kết đầu tiên đó là: "ĐẾN KHI NÀO NHÀ NƯỚC CÓ ĐIỀU KIỆN SẼ HOÀN LẠI". Trong khi điều cam kết số 2 ghi rõ: "Ty giáo dục được trọn quyền sử dụng, có trách nhiệm bảo quản và tu sử chu đáo". Và Nhà nước đã sử dụng được 33 năm với các đơn vị chủ quản khác nhau lần lượt đứng tên mà hiện nay đó là "TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ YÊN".

    Trong những ngày cuối năm Đinh Hợi, trong bầu khí nô nức đón mừng Xuân Mới, có một điều bất thường và làm bức cho cộng đoàn Dân Chúa giáo xứ Tuy Hòa, khi Trung Tâm giáo dục thường xuyên tự động cho đập phá và tháo dỡ một hạng mục chính của ngôi trường thân thương Đặng Đức Tuấn mà 33 năm trước thế hệ cha ông của những người giáo dân hôm nay đã dày công xây dựng.

    Trước hành động bất chấp các nguyên tắc ứng xử cơ bản của phép lịch sự thông thường giữa người với người, giữa Giáo hội, người chủ của cơ sở, và cơ quan chủ quản đang tạm sử dụng, đồng thời vượt qua các giới hạn được qui định trong biên bản bàn giao ngày 7/10/1975, quả thật Trung Tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên đã gây nên một tâm tình phẩn nộ và đầy bức xúc cho toàn thể giáo dân, những người mà mỗi sáng mỗi chiều trên đường đến Nhà Thờ, phải chứng kiến một sự xúc phạm đến cái gia tài văn hóa quí báu của cha ông để lại.

    Hành động tự động và ngang nhiên đập phá, san bằng một hạng mục chính của trường trung học Đặng Đức Tuấn mà không một lời trao đổi, bàn bạc, hiệp thương với người chủ nhân chính thức là Giáo Xứ Tuy Hòa, quả thật, Trung Tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên đã ứng xử như một người vô giáo dục. Đứng trước sự kiện nầy giáo xứ Tuy Hòa mà người đại diện chính thức chính là linh mục Chánh xứ Giuse Trương Đình Hiền, kiêm hạt trưởng Phú Yên, đã gởi đơn thỉnh nguyện lên các cấp chính quyền tỉnh Phú Yên và thành phố Tuy Hòa để đạo đạt nguyện vọng của bà con giáo dân trong toàn giáo xứ xin hoàn lại cơ sở trường học Đặng Đức Tuấn, một công trình văn hóa giáo dục thuộc giáo xứ Tuy Hòa, giáo hạt Phú Yên, giáo phận Qui Nhơn.

    Xin xem đơn thỉnh nguyện sau đây:

    GIÁO XỨ TUY HÒA
    Giáo phận Qui Nhơn


    Tuy Hòa, ngày 17 tháng 03 năm 2008

    ĐƠN KHIẾU NẠI

    V/v: Trung Tâm Giáo dục Thường Xuyên tỉnh Phú Yên đập phá san bằng cách trái phép một hạng mục
    cơ sở trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa.

    Kính gởi:
    Ông Đào Tấn Lộc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
    Ông Phạm Ngọc Chi, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên,
    Tòa Giám Mục Qui Nhơn,
    HĐND, UBND tỉnh Phú Yên,
    UBMTTQVN, Công An tỉnh Phú Yên
    Ban Tôn giáo tỉnh Phú Yên, UBĐKCG tỉnh Phú Yên,
    Sở GD - ĐT, Sở Xây dựng tỉnh Phú Yên,
    Sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh Phú Yên,
    Ban Thanh Tra xây dựng tỉnh Phú Yên,
    Ban Giám Đốc Trung Tâm Đào Tạo thường xuyên tỉnh Phú Yên,
    HĐND, UBND, UBMTTQVN Thành Phố Tuy Hòa,
    Ban Tôn giáo Thành Phố Tuy Hòa,
    HĐND, UBND, UBMTTQVN Phường 2, TP. Tuy Hòa


    - Căn cứ ĐƠN THỈNH NGUYỆN V/v: Bảo tồn cơ sở trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa để giao lại cho giáo xứ theo thỏa thuận giữa Giáo Hội và Nhà nước ngày 07/10/1975 của linh mục Trương Đình Hiền ký chuyển ngày 15/02/2008,

    - Công văn số 31/BTG – TTr “V/v chuyển đơn khiếu nại” gởi Sở giáo dục & đào tạo tỉnh Phú Yên của ban Tôn giáo tỉnh Phú Yên ký ngày 20/02/2008,

    - Căn cứ Biên Bản giao trường Đặng Đức Tuấn Tuy Hòa ngày 07/10/1975 do ông Nguyễn Châu đại diện Ty Giáo dục và cố linh mục Nguyễn Trọng Huấn, đại diện Giáo Hội Qui Nhơn đồng ký nhận.

    - Căn cứ điều 4, 26, 27, 29 Pháp lệnh tôn giáo của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về tín ngưỡng-tôn giáo,

    - Căn cứ tình hình thực tế việc Trung Tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên đập phá, san bằng cách trái phép một hạng mục của trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa.

    GIÁO XỨ TUY HÒA TRÂN TRỌNG KHIẾU NẠI:

    1. Đứng trước sự kiện Trung Tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên triệt phá một hạng mục chính trong cơ sở trường Trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa và triển khai xây dựng công trình mới bất chấp đơn thỉnh nguyện của người đại diện giáo xứ kính chuyển ngày 15/02/2008, xem thường công văn của ban Tôn Giáo tỉnh góp ý giải quyết vụ việc, đã gây bức xúc và làm tổn thương trầm trọng đến tình cảm của toàn thể giáo dân giáo xứ Tuy Hòa.

    2. Để làm sáng tỏ vụ việc, chúng tôi, cộng đoàn giáo xứ Tuy Hòa xin một lần nữa xác định: Nguyên trường trung học Đặng Đức Tuấn là cơ sở giáo dục thuộc Giáo Phận Qui Nhơn đặt dưới quyền quản lý và sử dụng của giáo xứ Tuy Hòa nhằm mục đích góp phần vào công cuộc giáo dục và đào tạo văn hóa cho đồng bào không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Được xây dựng từ năm 1958, trường trung học Đặng Đức Tuấn đã sinh hoạt được 17 năm (Cho đến ngày 7/10/1975) và đã đóng góp cho xã hội, đất nước, cách riêng tỉnh Phú Yên, nhiều học sinh ưu tú. Trong số đó có nhiều người đang nắm giữ những vị trí trọng yếu trong các cơ quan công quyền của Nhà nước hiện nay (Ví dụ như Thầy Chương, Giám đốc sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Phú Yên; thầy Thái, giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên...).

    3. Ngày 7/10/1975, theo chủ trương và chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam, trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa đã chính thức được chuyển nhượng cho Ty giáo dục tỉnh Phú Yên để đáp ứng các yêu cầu giáo dục trong tình hình mới của đất nước. Trong biên bản bàn giao, điều cam kết đầu tiên đó là: "ĐẾN KHI NÀO NHÀ NƯỚC CÓ ĐIỀU KIỆN SẼ HOÀN LẠI". Trong khi điều cam kết số 2 ghi rõ: "TY GIÁO DỤC ĐƯỢC TRỌN QUYỀN SỬ DỤNG, CÓ TRÁCH NHIỆM BẢO QUẢN VÀ TU SỬA CHU ĐÁO". (Có văn bản đính kèm)

    4. Trên cơ sở của hai điều cam kết quan trọng nầy, chúng tôi trân trọng khiếu nại đến các cơ quan chức năng có liên hệ về việc cơ quan đang sử dụng trường Đặng Đức Tuấn là Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên tự động vứt bỏ cam kết khi cho phá bỏ một hạng mục chính (Dãy nhà trệt với 5 phòng sát đường Nguyễn Huệ có ghi trong Biên bản bàn giao ngày 7/10/1975) và triển khai xây dựng công trình mới bất chấp ý kiến của Chính quyền (Công văn của BanTôn giáo tỉnh) và nguyện vọng của bà con giáo dân (Đơn thỉnh nguyện của linh mục chánh xứ ngày 15/02/2008).

    5. Hành vi nầy của Trung Tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên đã gây nên một tâm tình bất bình và đầy bức xúc cho toàn thể giáo dân, làm mất uy tín và danh dự cho các cấp chính quyền địa phương, mất niềm tin và quan hệ hữu hảo giữa Giáo hội và Nhà Nước, có nguy cơ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực về ổn định chính trị và xã hội.

    6. Cùng với Khiếu nại nầy, chúng tôi kiến nghị Chính quyền các cấp đình chỉ ngay việc thi công bất hợp pháp của Trung Tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú yên và chuẩn bị một tiến trình hiệp thương giữa giáo xứ Tuy Hòa và các cơ quan liên hệ để giải quyết ổn thỏa và dứt điểm hồ sơ về trường Đặng Đức Tuấn.

    7. Trong thái độ thượng tôn luật pháp, kính trọng các cấp chính quyền và sẵn sàng đối thoại,hiệp thương, chúng tôi chờ đợi phương cách giải quyết kịp thời và đúng đắn của chính quyền các cấp.

    Đại điện cộng đoàn giáo dân giáo xứ Tuy Hòa Linh mục chánh xứ Tuy Hòa

    KT/Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ

    PCT/HĐGX Tuy Hòa
    Bùi Phương Hạc
    LM Trương Đình Hiền

    Đính kèm:
    Biên bản giao trường Đặng Đức Tuấn – Tuy Hòa Ký ngày 07/10/1975
    Đơn thỉnh nguyện của linh mục chánh xứ Trương đình Hiền ký ngày 15/02/2008
    Công văn số 31/BTG-TTr của Ban Tôn giáo tỉnh ký ngày 20/02/2008

    ---------------------------------

    GIÁO XỨ TUY HÒA
    Giáo phạn Qui Nhơn


    Tuy Hòa, ngày 15 tháng 02 năm 2008

    ĐƠN THỈNH NGUYỆN

    V/v: Bảo tồn cơ sở trường trung học Đặng Đức Tuấn thuộc giáo xứ Tuy Hòa để giao lại cho giáo xứ theo thoả thuận
    giữa Giáo Hội và Nhà nước ngày 07/10/1975

    Kính gởi:

    Ông Đào Tấn Lộc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên,
    Ông Phạm Ngọc Chi, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên,
    UBND tỉnh Phú Yên, UBMTTQVN, Công An tỉnh Phú Yên
    Ban Tôn giáo tỉnh Phú Yên, UBĐKCG tỉnh Phú Yên,
    Sở GD - ĐT tỉnh Phú Yên, Sở Xây dựng tỉnh Phú Yên,
    Ban Giám Đốc Trung Tâm Đào Tạo thường xuyên tỉnh Phú Yên,
    UBND, UBMTTQVN, Ban Tôn giáo Thành Phố Tuy Hòa


    - Căn cứ Biên Bản giao trường Đặng Đức Tuấn Tuy Hòa ngày 07/10/1975 do ông Nguyễn Châu đại diện Ty Giáo dục và cố linh mục Nguyễn Trọng Huấn, đại diện Giáo Hội Qui Nhơn đồng ký nhận.

    Căn cứ điều 4, 26, 27, 29 Pháp lệnh tôn giáo của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về tín ngưỡng-tôn giáo,

    - Căn cứ tình hình thực tế việc sử dụng trường Đặng Đức Tuấn Tuy Hòa trong công tác giáo dục và quản lý cơ sở trường.

    GIÁO XỨ TUY HÒA TRÂN TRỌNG BÁO CÁO VÀ THỈNH NGUYỆN:

    1. Nguyên trường Trung Học Đặng Đức Tuấn (nay là Trung Tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Yên) đã được cố linh mục chánh xứ Tuy Hòa, Hạt trưởng Phú Yên Tô Đình Sơn xây dựng năm 1958 và đã được giáo xứ Tuy Hòa trực tiếp quản lý cho đến ngày 07/10/1975.

    2. Đây là cơ sở giáo dục thuộc Giáo Phận Qui Nhơn đặt dưới quyền quản lý và sử dụng của giáo xứ Tuy Hòa nhằm mục đích góp phần vào công cuộc giáo dục và đào tạo văn hóa cho đồng bào không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

    3. Sau khi Đất Nước hoàn toàn giải phóng, trước yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục đang thiếu thốn cơ sở cũng như để đáp ứng chủ trương chung của Nhà Nước về chính sách giáo dục mới Xã Hội Chủ Nghĩa, giáo xứ Tuy Hòa do cố linh mục Nguyễn Trọng Huấn làm chánh xứ, cùng với linh mục Nguyễn Cấp, nguyên Hiệu Trưởng trường Đặng Đức Tuấn, đại diện Giáo phận Qui Nhơn, giáo xứ Tuy Hòa, đã thoả thuận nhượng cơ sở nầy để Nhà Nước dùng vào việc giáo dục với điều kiện “ĐẾN KHI NÀO NHÀ NƯỚC CÓ ĐIỀU KIỆN SẼ HOÀN LẠI” (Có văn bản đính kèm)

    4. Hôm nay giáo xứ xét thấy rằng: Tỉnh Phú Yên, thành phố Tuy Hòa đã có đủ cơ sở và điều kiện để đáp ứng các yêu cầu giáo dục, và thời gian sử dụng ngôi trường nầy cũng đã quá lâu (33 năm: 1975 – 2008), cho nên giáo xứ thỉnh nguyện Chính quyền các cấp tỉnh Phú Yên thực hiện nghiêm túc cam kết chung ngày 07/10/1975 là hoàn lại cơ sở trường trung học Đặng Đức Tuấn cho giáo xứ.

    5. Việc hoàn trả này sẽ là một nghĩa cử tốt đẹp nói lên chính sách trước sau như một của Nhà Nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đặc biệt của tỉnh Phú Yên, về việc tôn trọng, bảo hộ cơ sở thờ tự của các tôn giáo và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng-tôn giáo của đồng bào giáo dân.

    6. Trong khi chờ đợi việc hoàn trả nầy, giáo xứ yêu cầu cơ quan chủ quản đang sử dụng cơ sở nầy, Trung Tâm Giáo Dục thường Xuyên tỉnh Phú Yên, giữ nguyên hiện trạng các hạng mục chính của cơ sở trường Đặng Đức Tuấn để khỏi gây ra những rắc rối và bức xúc không cần thiết của đồng bào giáo dân giáo xứ Tuy Hòa.

    7. Hy vọng sau khi nhận lại cơ sở nầy, giáo xứ Tuy Hòa sẽ có cơ hội tốt và thuận lợi để góp phần tham gia vào chính sách “XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC” mà Đảng và Nhà Nước đang triển khai thực hiện.

    Trân trọng thỉnh nguyện và chân thành cảm ơn.

    Linh mục Chánh xứ Tuy Hòa
    Trương Đình Hiền
    Đính kèm: Biên bản giao trường Đặng Đức Tuấn – Tuy Hòa
    Ký ngày 07/10/1975
     
    Thường Khanh
     
    March 21

    Nhà Dòng Công giáo đòi nhà nước trả lại nhà đất

     

    Nhà Dòng Công giáo đòi nhà nước trả lại nhà đất

    2008.03.21

    Gia Minh, phóng viên đài RFA

    Tình hình dân chúng phải tập trung đông người để khiếu kiện về vấn đề đất đai, tài sản chỉ mới bùng lên tại Việt Nam trong mấy năm gần đây. Chuyện dân thường phải 'xuất đầu, lộ diện' để đòi hỏi công lý không mấy phổ biến tại Việt Nam, cho nên việc giới tu sĩ phải 'ra mặt' để bày tỏ thái độ yêu cầu chính quyền giải quyết các khuất tất về vấn đề này lại hiếm hơn.

    Nghe audio ở đây.

    Tải xuống máy để nghe ở đây.

    Tuy vậy, hiện tượng này xảy ra ngày càng nhiều.

    Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa đạo, Giáo hội Việt Nam Thống nhất xuất hiện tại cuộc khiếu kiện của dân oan các tỉnh tại Văn phòng quốc hội 2 ở Thành phố Hồ Chí Minh tháng 7 năm ngóai khiến nhiều người rất ngạc nhiên. Sau buổi gặp gỡ đó, hòa thượng Thích Quảng Độ cho biết một phần nguyên do trong buổi phỏng vấn với phóng viên Ỷ Lan của Đài Á Châu Tự Do:

    Giáo hội chúng tôi cũng đã bị tước đọat mọi cơ sở giáo dục, từ thiện và chùa viện. Tôi nói với đồng bào là Việt Nam Quốc Tự ngay từ năm 1975 đã bị lấy rồi. Họ lấy làm thành nơi du hí.

    Hình ảnh phái đòan của Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng chư tăng đứng ủy lạo nguời dân khiếu kiện tại Văn Phòng 2 quốc hội được đưa lên mạng Internet và nhiều báo chí nước ngoài cũng đã cho đăng lại một cảnh hiếm thấy đó ở Việt Nam.

    Vào tháng giêng vừa qua, một số tu sĩ nam nữ hiện phục vụ tại giáo phận Hà Nội cùng tham gia những cuộc cầu nguyện với giáo dân để yêu cầu chính quyền trao trả lại Tòa Khâm Sứ ở Phố Nhà Chung để giáo phận sử dụng cho việc đạo. Sau đó chính quyền hứa sẽ giải quyết vấn đề với hàng giáo phẩm cao nhất tại giáo phận Hà Nội. Giới tu sĩ và giáo dân Hà Nội hãy cón đang chờ đợi quyết định từ phía chính quyền.

    Mới hôm đầu tuần này, gần 100 nữ tu thuộc Dòng Nữ tử Bác Ái Vinh Sơn ở thành phố Hồ Chí Minh tụ tập tại số 32bis đường Nguyễn Thị Diệu để cầu nguyện gần như suốt cả ngày. Các nữ tu phải bắt đầu đứng cầu nguyện trước căn nhà vào trung tuần tháng 12 năm 2007, và lần gần đây nhất hôm 17 tháng 3. Một nữ tu của nhà Dòng cho biết:

    Tất cả những đất đai nhà cửa mà trứơc đây chúng tôi được yêu cầu hiến thì không nói gì; còn những cái mà tự nhiên thành của nguời khác thì chúng tôi có làm đơn trình lên Trung ương. Trong khi chờ đợi chúng tôi cũng ngó chừng theo dõi ,và khi thấy có sự đi ngoài với giao kèo với chúng tôi thì chúng tôi ra đó đứng cầu nguyện để nhắc họ.

    Chúng tôi phục vụ vì quyền lợi của nguời nghèo nhưng không có chỗ nên phải đi muợn các giáo xứ để làm các lớp tình thương. Nay mong muốn được trả lại cơ sở ấy.

    Căn nguyên vụ việc là căn nhà trên đường Nguyễn thị Diệu đã được Hội Chữ Thập Đỏ Pháp tặng cho nhà Dòng năm 1959 để làm nhà nuôi trẻ. Sau năm 1975, nhà nước tiếp quản căn nhà, không cho các nữ tu tiếp tục dậy trẻ. Cơ sở của nhà Dòng trở thành Trường Mẫu giáo Măng Non.

    Thế nhưng đến năm 1997, trường này trở thành Vũ trường VIP- Club. Nhận thấy việc sử dụng nhà này không theo đúng mục đích, năm 2005, Dòng Nữ tử Bác ái Vinh Sơn bắt đầu làm đơn yêu cầu trả lại cơ sở để sử dụng cho công tác giáo dục. Nhà dòng phải làm đơn thêm hai lần nữa vào năm 2006 và 2007.

    Trong khi vụ việc chờ đợi giải quyết của cơ quan chức năng thì cơ sở lại đuợc Công ty Quản lý Nhà Thành phố cho Ban quản lý Đường sắt thuê. Đơn vị này tiến hành đập phá để xây dựng theo ý họ.

    Đồng thời năm 2006 các tu sĩ Dòng Thánh Giu Se ở Nha Trang cũng từng lên tiếng với công ty đang chiếm dụng cơ sở của Nhà Dòng là họ sẽ mặc tu phục đến để tiếp thu một địa điểm cho nhà nước muợn. Sự cương quyết của các tu sĩ đưa đến kết quả là chính quyền cũng hứa giải quyết. Thế nhưng đến nay lời hứa vẫn chưa được thực hiện.

    Các tu sĩ Dòng Thánh Giu se ở Nha Trang cho biết thì sự trì hoãn của chính quyền làm mất đi cơ hội nhận đuợc viện trợ từ Đức để xây một bệnh viện cho dân nghèo tại cơ sở này. Linh mục Lưu Minh Hòang, phụ trách vụ khiếu kiện đất đai của nhà Dòng cho biết:

    Điều tôi bức xúc là mình huy động giúp đỡ để xóa đói giảm nghèo. Khi có được yểm trợ,nhà nước lại không hồ hởi và không tạo điều kiện. Đất ở 16 Phước Long là đất của nhà Dòng cho mượn. Nay xin trả lại để thực hiện chương trình Đức viện trợ. Chúng tôi đã phản ánh với thủ tướng và đại sứ Đức ở Hà Nội xin can thiệp để có điều kiện làm điều mà dân chúng trong vùng đang trông chờ.

    Về vấn đề các giáo hội yêu cầu nhà nuớc trả lại đất đai mà chính phủ mượn trước đây, thì ông Nguyễn Thế Doanh, phó ban tôn giao có trả lời trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Đài ACTD sau đây:

    Về vấn đề đất đai, tài sản của các tôn giáo nói chung chứ không riêng gì của Công giáo thôi đâu thì chúng tôi có chính sách như Luật Đất Đai thì nhà nước, chủ yếu là UBND cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo, quỹ đất địa phương và nhu cầu sinh họat tôn giáo để cấp đất cho các tôn giáo mà không thu tiền sử dụng đất; đó là nguyên tắc rất lớn. Nghĩa là căn cứ vào nhu cầu tôn giáo địa phương mà nhà nước đáp ứng tối đa, chứ không phụ thuộc vào trước hay sau, không lệ thuộc vào bất cứ sức ép nào, bất cứ quá khứ nào…

    Trong thực tế nhiều địa phương làm theo hướng đó. Còn những nơi cũ thì chúng tôi quan niệm là cái gì mượn mà có giấy tờ hẳn hoi thì về nguyên tắc phải trả lại; chả cứ gì về pháp luật mà về mặt đạo lý cũng thế thôi.

    Tôn chỉ của những người theo đuổi cuộc sống tu trì đích thực là phục vụ tha nhân chứ không vì lợi ích riêng. Có thể nói việc phải ra chốn công cộng để bày tỏ thái độ là sự chẳng đặng đừng, là con đường cùng mà họ phải làm để đòi hỏi quyền lợi cho những nguời mà họ đang phục vụ.

     

     

    Vụ trụ sở của Dòng Nữ Tử Bác Ái: Ban Quản lý Đường Sắt rút lui thì Vũ trường đi về đâu?

     
    Điểm nhấn :
     
    Jürgen Kremb : "liệu các ông các bà trong Bộ Chính trị sẽ xử sự như thế nào, khi hình ảnh của một nhà sư Tây Tạng tự thiêu trên sân cỏ Olympic Bắc Kinh được quay phim và phát tán đi khắp thế giới?"
     
    "Nếu muốn "Olympia Beijing 2008" không mang dư vị của "Berlin 1936", thì chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào phải tìm những giải pháp khác với những gì mà ông đã quen làm. Không phải là giải pháp sắt đá, mà phải là sự xuống thang hoà hoãn. Không phải là tiếp tục tuyên truyền ngu xuẩn, mà phải là đối thoại. Cái luận cứ rằng thể thao chẳng liên quan gì với chính trị hẳn là không còn dùng được".
     
     
     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 21/03/2008 01:31)
     
    SAIGÒN - Sáng nay, đi ngang 32 bis Nguyễn Thị Diệu, tui thấy Ban Quản lý Đường sắt Đô thị Tp đang thu dọn mấy cái trụ sắt, xi măng cốt thép định làm cổng hôm trước để chở đi. Tui mừng vui khôn xiết, bởi lỡ làm sai biết sửa sai mới xứng danh con cái UBND TP. Xem chừng là “một đi không trở lại” hay sao mà các bác tháo luôn các bóng đèn mới bắt bên trong (thay thế cho các đèn mờ vũ trường trước đây).
     
    duongsatdondi
    Hình ảnh sáng nay xe thu dọn và chở đường sắt đi khỏi số 32bis
     
    Các bà xơ chắc mừng lắm. Nhưng thực ra thì đã được chi đâu. Các “xếp” lúc này chắc đang ngồi nhậu lai rai tính đường khác đấy thôi. Nếu nó thực sự là nơi kiếm tiền cho nhà nước thì họ đã trả cho các xơ để lấy “đức” cho con rồi. Khổ nỗi hình như hổng phải dzậy, cho nên trả lại thì “uổng lắm”. Chỉ khi nào các xơ biến nó thành “xương cá mập” nuốt không trôi thì may ra người ta mới xót xa làm một nghi lễ linh đình có đầy đủ phóng viên trong và ngoài nước. Lúc đó cả thế giới mới thấy chính quyền ta hết sức “lương thiện” và thương con nít, đương nhiên sẽ không quên làm một bài giáo dục công dân dạy các xơ “phải biết ơn Đảng và Nhà Nước” đã có công “giữ dùm” bấy lâu nay, chỉ mở vũ trường thôi chứ nhất định không cho lũ con nít vườn trẻ quậy phá.

    Lui một bước tiến hai bước các xơ ui. Ấy, phải nhìn cái gương Tòa Khâm Sứ ở miền Bắc. Coi chừng lại có nhóm quốc ranh nào đó chẳng biết ở đâu ra lại lên tiếng 32bis Nguyễn Thị Diệu ngày xưa là nền nhà cơ sở “Báo Ứng” gì đấy thì phiền. Mà cũng nên coi chừng người ta sẽ trả lại cho Công Giáo, mà phải là Công Giáo và Dân Tộc cơ, cái nhà đó mà là tòa soạn thì bác Trần Bá Cương phải mừng mà thọ đến trên trăm đấy. Có lẽ bác sẽ chia đôi, một bên là tòa soạn, một bên là vũ trường, vừa nghỉ ngơi vừa an hưởng tuổi già, vừa làm nơi tiếp các xếp … nhất định không cho con nít vào.
     
    tremocoicaunguyentai32bis
    Sáng nay các Soeurs Dòng Nữ Tử Bác Ái cầu nguyện với các em mồ côi tại 32bis
     
    Mà hổng chừng cũng có khi Sở Giáo dục và Phòng Giáo dục Quận 3 đứng ra “nhận giúp” cái vũ trường này. Trước đây khi cái vườn trẻ bị khai tử, hậu quả là hàng trăm, hàng ngàn cháu phải ra đường lang thang, vì ai cũng biết nếu từ xưa tới giờ cái nhà này nằm trong tay các bà xơ thì không ít trẻ mồ côi có nơi nương tựa. Khi biến vườn trẻ của các bà xơ thành vũ trường, chính quyền tiếp tay cho tệ nạn xã hội và trực tiếp tống trẻ mồ côi ra đường phố. Xin hãy làm một cử chỉ đẹp để cho thấy lương tâm quý vị còn có răng. Hãy trả lại chỗ cho các bà xơ làm từ thiện !

    Sở Giáo Dục và Phòng Giáo Dục Quận 3 đứng ra “nhận giúp” cái vũ trường này chăng ? Cho nó danh chính ngôn thuận, đúng với lý do “mượn” trước đây ? Là những nhà giáo dục, có bao giờ các vị khuyến khích học sinh tàng trữ đồ ăn cắp không ? Là những người trí thức có suy nghĩ, các vị thừa biết cái cơ sở 32bis Nguyễn Thị Diệu này là của “cướp ngày”, cướp của các bà xơ, cướp của Hội Chữ Thập Đỏ Pháp, toàn là cướp của những người làm từ thiện. Tất cả những cơ quan thiện nguyện trên thế giới sẽ ủng hộ mấy bà xơ trong chuyện đòi lại nhà đất này khi nó “bao la” trên internet. Tất cả các trẻ mồ côi và những ai đã chịu ơn các bà xơ Nữ Tử Bác Ái trên thế giới sẽ điện thoại, gởi fax, email tới các Tòa Đại Sứ Việt Nam trên thế giới để phản đối. Nhưng hơn hết, những đứa trẻ mồ côi lang thang đầu đường xó chợ sẽ lên án các vị, vì khi các vị đưa tay ra nhận cơ sở này, các vị cướp đi mái ấm của chúng nó, nhất là tình thương mà chúng nó không kiếm đâu ra trên đường phố. Nói dại, chúng nó mà chết oan ức ngoài đường thì chúng nó sẽ về “vịn” các vị đấy. Tôi tin rằng các vị là những nhà giáo dục tốt lành bao giờ cũng có cái tâm trong veo và hăng say làm điều thiện.
     
    Nguyễn Quy Luật