| CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists | Help |
|
|
May 28 Nhân quyền VN 'không biến chuyển'Điểm nhấn:
“Tăng trưởng 8-9% liệu có ý nghĩa gì nếu như cuộc sống người dân ngày càng kém đi và người nghèo ngày càng nghèo hơn?” (Thanh Niên, BBC)
Chính phủ bất lực của TT Nguyễn Tấn Dũng HÃY TỪ CHỨC để dân được nhờ.
Nhân quyền VN 'không biến chuyển'
Tổ chức Ân xá Quốc tế nói nhân quyền Việt Nam vẫn chưa được cải thiện bất chấp việc hai nhà hoạt động dân chủ được tự do.
Báo cáo 2008 của Ân xá Quốc tế (Amnesty International) nói trong suốt năm 2007 ''tự do thể hiện ý kiến và hội họp vẫn tiếp tục bị kiểm soát chặt chẽ.'' Ân xá Quốc tế nói nhiều nhà hoạt động dân chủ Việt Nam vẫn bị xử bất công (Ls Lê Thị Công Nhân, Điếu Cày (blog CL&ST) và Lm Nguyễn Văn Lý) Đây là một trong các tổ chức theo dõi nhân quyền hàng đầu trên thế giới. Mặc dù vậy, Việt Nam đã trả tự do cho hai nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Vũ Bình và Lê Quốc Quân. Việc trả tự do này diễn ra ngay trước chuyến thăm của Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết tới Hoa Kỳ hồi tháng Sáu năm 2007. Trước đó ba tháng, Hà Nội đã hủy bỏ nghị định 31/CP về quản chế hành chính. Âm mưu lật đổ' Sau Hội nghị Thượng đỉnh APEC ở Hà Nội và sau khi ký kết nhiều hiệp định thương mại trong đó có hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam bị cáo buộc đã tăng cường trấn áp việc thể hiện ý kiến một cách hòa bình và hoạt động hội họp. Ân xá Quốc tế viết trong phúc trình: ''Ít nhất 35 người, trong số đó có luật sư, thành viên nghiệp đoàn, lãnh đạo tôn giáo và bất đồng chính kiến trên mạng internet, đã bị bắt trong giai đoạn từ tháng 11/2006 tới cuối năm 2007.'' Theo tổ chức này, hầu hết số người bị bắt có liên hệ với Khối 8406, phong trào đòi thay đổi chính trị và tôn trọng quyền con người ở Việt Nam. Trong số đó có linh mục Nguyễn Văn Lý, người đã bị kết án tám năm tù giam vì ''tuyên truyền chống nhà nước'' trong một phiên xử mà ông đã bị bịt miệng. Sinh viên Nam bị công an đán áp. (những bức hình trong bài này, trừ bức hình Cha Lý, không phải của BBC) Một sáng lập viên khác của Khối 8406, luật sư Nguyễn Văn Đài đã bị kết án năm năm tù, sau giảm xuống còn bốn năm sau khi xử phúc thẩm. Một luật sư khác bà Lê Thị Công Nhân, người cùng ông Đài tổ chức các hội thảo về nhân quyền cũng bị kết án bốn năm, sau giảm xuống ba năm. Trong số các vụ bắt bớ khác có vụ sáu người, trong đó có hai công dân Mỹ và một công dân Thái vốn gần đây bị đưa ra xét xử. Họ bị bắt vì mang truyền đơn ''lật đổ'' vào Việt Nam hồi tháng 11/2007. BBC May 27 Dòng Nữ Thánh Phaolô Saigòn làm đơn khiếu nại và đòi lại cơ sở của DòngVietCatholic News (Thứ Hai 26/05/2008 11:33)
Dòng Thánh Phao Lô
4 Tôn Đức Thắng, quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh Số: TV.SPC/VPGT Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2008 ĐƠN KHIẾU NẠI dạy khiêu vũ trong cơ sở của Dòng Thánh Phao lô và đề nghị trả lại một phần đất sử dụng không đúng mục đích phục vụ công ích để mở rộng truờng Mầm non 6 tại Cơ sở của Dòng Thánh Phao Lô số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P17, Q.Bình Thạnh, TP Hồ Chi Minh Kính gửi: - Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh - Ông Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội - Ông Giám đốc Sở Xây dựng Tôi, nữ tu Ngô Thị Mai Anh, Bề Trên Giám tỉnh và toàn thể Ban Cố vấn Dòng Thánh Phaolô, trụ sở tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị quý vị Lãnh đạo chính quyền thành phố khẩn trương xem xét giải quyết yêu cầu của Dòng Thánh Phao Lô như sau: Vừa qua, Lãnh đạo chính quyền thành phố đã trực tiếp giải quyết Đơn khiếu nại ngày 8/4/2008 của Dòng Thánh Phao lô về việc yêu cầu khẩn trương chấm dứt việc xây dựng mới mở rộng nhà hàng để kinh doanh của Trung Tâm 27/7 tại Cơ sở của Dòng Thánh Phao Lô tại số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Cụ thể là bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố cho biết sẽ quy hoạch lại Cơ sở số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh chứ không thể để lãng phí như hiện nay để sử dụng đúng mục đích, trước mắt các dịch vụ kinh doanh tại đây phải chấm dứt kể từ ngày 15/5/2008. Tuy nhiên, ngay sau đó Công ty 27/7 vẫn công khai tổ chức tiệc cưới vào ngày 18/5/2007 và dời phòng dạy khiêu vũ vào phía bên trong và vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh. Hành động này của cơ quan chiếm dụng nhà đất của Dòng Thánh Phaolô tại đây đã coi thường pháp luật nhà nước, thách thức với chính quyền thành phố và Dòng Thánh Phaolô đã gây nhiều tai tiếng trong dư luận giáo dân vì hoạt động kinh doanh trái mục đích, không phục vụ cho công ích nhưng lại núp bóng danh nghĩa là làm cho người tàn tật, già yếu neo đơn ! Trong khi đó, chủ trương và mục đích của Dòng Thánh Phaolô từ trước ngày giải phóng đến nay là phục vụ cho người tàn tật, người nghèo, người già neo đơn và trẻ em khuyết tật, mồ côi vô điều kiện lại không được chính quyền hỗ trợ giúp đỡ ! Hiện nay, do nhu cầu mở rộng trường Mầm non 6, Dòng Thánh Phaolô rất cần thêm một phần đất để phát triển hoạt động vui chơi, học tập cho các cháu thiếu nhi nên Dòng Thánh Phaolô tiếp tục đề nghị khi quy hoạch cơ sở số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh của Dòng Thánh, Lãnh đạo chính quyền thành phố trả cho Dòng Thánh Phao lô một phần đất để trường Mầm non 6 có thêm mặt bằng cho các cháu thiếu nhi. Dòng Thánh Phaolô cám ơn sự quan tâm giải quyết khiếu nại của bà Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và yêu cầu Lãnh đạo chính quyền thành phố khẩn trương có biện pháp tích cực cho ngưng ngay các hoạt động kinh doanh tiệc cưới và dạy khiêu vũ tại cơ sở của Dòng Thánh Phao lô tại số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, xem xét trả lại một phần đất cho Dòng Thánh để mở rộng trường Mầm non 6. Trân trọng kính chào. Nữ tu Ngô Thị Mai Anh Bề Trên Giám tỉnh và Ban Cố vấn Dòng Thánh PhaoLô Đơn khiếu nại Ngày 29 tháng 4 năm 2008: Dòng Thánh Phao Lô 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh Số: 08/ TV.SPC/VPGT Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 4 năm 2008 ĐƠN YÊU CẦU trả lại một phần đất để mở rộng truờng Mầm non 6 tại Cơ sở của Dòng Thánh Phao Lô số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh Kính gửi: - Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh - Ông Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội - Ông Giám đốc Sở Xây dựng Tôi, nữ tu Lê Thị Thành, đại diện Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Thánh Phaolô, trụ sở tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị quý vị Lãnh đạo chính quyền thành phố xem xét giải quyết yêu cầu của Dòng Thánh Phao Lô như sau: Trước hết, Dòng Thánh Phaolô cám ơn sự quan tâm của Lãnh đạo chính quyền thành phố đã trực tiếp giải quyết Đơn khiếu nại ngày 8/4/2008 của Dòng Thánh Phao lô về việc yêu cầu khẩn trương chấm dứt việc xây dựng mới mở rộng nhà hàng để kinh doanh của Trung Tâm 27/7 tại Cơ sở của Dòng Thánh Phaolô tại số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay trước cơ sở 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh lại xuất hiện bảng hiệu Trung Tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm II, Hiệp hội sản xuất kinh doanh của người tàn tật Việt Nam trong khi Trung Tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm I gần đó cũng có cả việc giới thiệu học khiêu vũ !? Tại cuộc tiếp xúc với Lãnh đạo chính quyền thành phố, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố cho biết sẽ quy hoạch lại Cơ sở số 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 17, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh chứ không thể để lãng phí như hiện nay để sử dụng đúng mục đích nhưng thực tế tất cả hoạt động kinh doanh tại đây từ lâu đều nhằm mục đích kinh doanh dưới danh nghĩa cho người tàn tật chứ không phải phục vụ vô điều kiện như tôn chỉ mục đích của Dòng Thánh Phaolô đã làm từ trước giải phóng đến nay. Ý kiến xác đáng của bà Phó Chủ tịch tuy quá trễ vì Cơ sở này đã để lãng phí trên 30 năm nay, lợi nhuận kinh doanh tại đây chắc chắn không phục vụ cho người già neo đơn, trẻ em khuyết tật, mồ côi nhưng dù sao chính quyền thành phố đã thấy sự cần thiết phải chấn chỉnh hoạt động tai tiếng này đối với việc sử dụng tài sản của tôn giáo để kinh doanh thu lợi trong thời gian qua. Vì lý do trên, Dòng Thánh Phaolô đề nghị Lãnh đạo chính quyền thành phố cần xem xét lại việc quy hoạch cho đúng mục đích sử dụng tài sản của tôn giáo, nếu vì lý do gì không thể thực hiện được đúng mục đích, đề nghị giao trả tài sản này lại cho Dòng Thánh Phaolô. Trước mắt, hiện nay do nhu cầu mở rộng trường Mầm non 6, Dòng Thánh Phao lô rất cần thêm một phần đất để phát triển hoạt động vui chơi, học tập cho các cháu thiếu nhi nên đề nghị khi quy hoạch Cơ sở số 153 Xô Viết Nghệ Tỉnh của Dòng Thánh Phaolô, Lãnh đạo chính quyền thành phố trả cho Dòng Thánh Phaolô một phần đất để trường Mầm non 6 có thêm mặt bằng cho các cháu thiếu nhi. Một lần nữa, Dòng Thánh Phaolô cám ơn sự quan tâm giải quyết khiếu nại của bà Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và mong quý vị Lãnh đạo chính quyền thành phố tiếp tục quan tâm, khẩn trương giải quyết yêu cầu chính đáng của Dòng Thánh Phaolô. Trân trọng kính chào. Kính đơn, Nữ tu Lê Thị Thành Đại diện Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Thánh Phao Lô Nữ tu Ngô Thị Mai Anh May 26 TGM Hà Nội nhất định đòi Toà Khâm sứ + Phái đoàn Vatican sắp tới Hà NộiPhát biểu trong chuyến thăm cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Đức, Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt nhấn mạnh đến việc đòi Tòa Khâm sứ.
Theo tin của Viet Catholic News, ngày 25/05 Đức Tổng Giám mục Hà Nội nói đến vai trò của sự đoàn kết trong giáo hội và của truyền thông trong, ngoài nước nhân vụ Tòa Khâm sứ. Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt hôm 24/05 đã phát biểu tại Herne với các linh mục và giáo dân gốc Việt ở Đức rằng: "Trọng tâm hiện nay của hàng Giáo phẩm Việt Nam là Tòa Khâm sứ, Thánh địa La Vang và Giáo Hoàng Học viện Đà Lạt". Vẫn theo nguồn tin của Viet Catholic News, ông cho hay đã nhận được sự quan tâm của các Tổng giám mục Singapore và Roma về vụ Tòa Khâm sứ. Cuối tháng 12/2007 và đầu tháng 1 năm nay, việc hàng nghìn giáo dân luân phiên về cầu nguyện "đòi Tòa Khâm sứ" ở phố Nhà Chung, Hà Nội đã gây chú ý của dư luận. Dù tình hình chưa rõ ràng và tòa nhà vẫn do quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội quản lý, các cuộc biểu tình được coi như một bước ngoặt trong việc biểu dương sức mạnh của khối Công giáo Việt Nam. Việc Tổng Giám mục Hà Nội nói đến ba địa điểm Giáo Hội quan tâm cũng được thể hiện trước đó qua lời một thành viên cao cấp của Bộ Ngoại giao Vatican sắp thăm Việt Nam vào tháng 6 này. Trả lời phỏng vấn của Viet Catholic News thứ Năm vừa qua, Đức ông Nguyễn Văn Phương thuộc Bộ Truyền giáo Vatican nói về sự quan tâm đến Tòa Khâm sứ, Thánh địa La Vang và Giáo Hoàng Học viện ở Đà Lạt. Cả ba cơ sở này hiện do chính quyền Việt Nam làm chủ nhưng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam muốn được trao trả cho họ. Các yêu cầu này được đưa ra trong bối cảnh Hà Nội và Vatican đang cùng làm việc để tiến tới lập quan hệ ngoại giao. Vẫn Đức ông Nguyễn Văn Phương được trích lời nói rằng: "Liên hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh với chính phủ Việt Nam là một điều tích cực không phải riêng cho Tòa Thánh mà cho cả đất nước Việt Nam nữa". Các nguồn tin từ đài Vatican trước đó cho BBC hay rằng Đức ông Pietro Parolin sẽ dẫn đầu phái đoàn cao cấp của Tòa Thánh sang thăm Việt Nam lần thứ 15 để thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao. BBC Phái đoàn Vatican sắp tới Hà Nội Tin từ Vatican cho hay một phái đoàn của Tòa thánh sẽ tới Việt Nam vào đầu tháng Sáu.
Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, Trưởng mục vụ Á châu của Bộ Ngoại giao Vatican, người sẽ tháp tùng chuyến thăm Việt Nam, nói với BBC Việt Ngữ rằng "phái đoàn muốn thăm một vài giáo phận". Quan hệ giữa Hà Nội và Vatican có phần cải thiện trong vài năm gần đây "Mỗi lần tới thăm Việt Nam là một lần để biết thêm cũng như ủng hộ tinh thần cho giáo dân tại đó". Nhiều nguồn tin cho hay Vatican và Hà Nội đang xúc tiến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Trả lời câu hỏi về hy vọng cho chuyến đi lần này, Đức Ông Nguyễn Văn Phương nói "hy vọng thì vẫn hy vọng những cũng tùy vào phía bên kia thế nào, cũng chưa có gì chắc chắn cả". Trong nửa năm vừa qua, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có nhiều hoạt động làm dư luận chú ý. Phải kể đến là cuộc nguyện cầu để "đòi lại Tòa Khâm sứ" tại Hà Nội và gần đây là lời yêu cầu chính quyền trả lại Thánh địa La Vang cho Giáo phận Huế. Đầu năm nay đã có các cuộc cầu nguyện "đòi Tòa Khâm sứ" tại Hà Nội Trong khi đó, Linh mục Stephanô Bùi Thượng Lưu, từ Thông tấn xã Công giáo Việt Nam tại Đức, cho BBC biết chi tiết hơn về nội dung chuyến thăm của phái đoàn Vatican. Linh mục nói rằng sau điểm đến đầu tiên ở Hà Nội, phái đoàn sẽ tới Thánh địa La Vang ở Huế và sẽ thăm giáo phận Đà Lạt. "Chúng tôi sẽ gặp Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam". 'Đòi đất là bề nổi' Được biết phái đoàn Tòa thánh cũng sẽ trao đổi với Hội đồng Giám mục về yêu cầu chính quyền Hà Nội trả lại Giáo Hoàng Học viện Đà Lạt. Linh mục Stephanô Bùi Thượng Lưu nói thêm: "Tôi nghĩ mục đích quan trọng nữa là xác định rằng Hội đồng Giám mục là cơ quan chính thức để Tòa thánh nói chuyện về các chủ đề liên quan tới giáo hội chứ không phải một tổ chức nào khác". "Nhà cầm quyền Hà Nội cũng muốn thành lập Ủy ban Đoàn kết từ Bắc tới Nam sau khi thống nhất đất nước tuy nhiên các tổ chức trong giáo phận kiểu như vậy kể như chỉ còn tồn tại trên giấy tờ chứ không còn uy tín, tức là không ai nói chuyện với họ". Linh mục nói: "Việc đòi lại đất chỉ là bề nổi. Điều ẩn hiện đằng sau mà Giáo hội đòi hỏi là việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước". Trả lời câu hỏi của BBC về tiến triển trong thương thuyết mở trường hoặc bệnh viện tại Việt Nam, linh mục Stephanô Bùi Thượng Lưu nói: "Hiện mới chỉ được mở trường mầm non cho trẻ từ 1-5 tuổi". "Chúng tôi thấy các trường dòng không chỉ đón con em công giáo mà cả con em của các cán bộ vì họ thấy con cái vào đây được giáo dục tốt". "Những người đã nhiệt tâm cho giáo dục và những người có thiện chí trong chính quyền cũng phải thấy rằng Giáo hội có thể đóng góp rất tốt cho giáo dục". BBC May 25 ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNHVietCatholic News (Chúa Nhật 25/05/2008 14:38)
ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Quyết định số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 Quyết Định số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 của UBND huyện Long Thành Kính gởi: Chánh án Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Nai Người khởi kiện: HỒ VĂN TÂM, Cộng đoàn trưởng và Tập thể Tu sĩ Cộng Đoàn Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế, Long Thành Địa chỉ: số 17 tổ 22, ấp Tân Mai 2, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Người bị kiện: -Phó chủ tịch UBND huyện Long Thành Nguyễn Minh Hoàng, đã ký Quyết định số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết Định số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006, Địa chỉ: UBND huyện Long Thành Khu, Phước Hải, Thị trấn Long Thành - Chủ tịch UBND xã Phước Tân Huỳnh Xuân Quang, đã ký Biên bản vi phạm hành chính trái pháp luật ngày 01/03/2006, Địa chỉ: UBND xã Phước Tân. - Phó chủ tịch UBND huyện Long Thành Huỳnh văn Sơn, đã ký Quyết định số 232/QĐ-UBND/17/01/2007, Địa chỉ: UBND huyện Long Thành Khu, Phước Hải, Thị trấn Long Thành. - Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Huỳnh thị Nga, người ký Quyết định số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007, Địa chỉ: 02 Nguyễn văn Trị, F. Thanh Bình, Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. - Phó phòng tư pháp huyện Long Thành Nguyễn Năm, người áp dụng biện pháp cưỡng chế tịch thu tài sản trái pháp luật, Địa chỉ: UBND huyện Long Thành Khu, Phước Hải, Thị trấn Long Thành. Nội dung vụ kiện: 1. Thủ tục thu hồi đất và bồi thường không đúng quy định của Pháp luật. 2. Việc cưỡng chế ủi sập nhà ở, nhà nguyện, chuồng trại, ao hồ, vườn cây và các công trình Tượng đài tôn giáo của Cộng đoàn tu trì thuộc cơ sở tôn giáo là hành vi xâm phạm quyền tự do tôn giáo. 3. Việc tịch thu tài sản, đồ dùng, quần áo, sách vở, bằng cấp, giấy tờ tùy thân, tiền bạc, gạo cơm, bắt bán heo, gà, vịt, cá của chúng tôi là xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật. 4. Các Quyết định giải quyết khiếu nai số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của bà Huỳnh thị Nga, phó chủ tịch tỉnh Đồng Nai, và số 232/QĐ-UBND/17/01/2007 của ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành, không hề giải quyết các nội dung: 1,2,3 nói trên. I. Thủ tục thu hồi đất và bồi thường không đúng quy định của Pháp luật: Ngày 27/03/1999, Thủ tướng chính phủ ký Quyết Định số 341/QĐ-CP. Nội dung: “ Thu hồi 2,040.999,5m2 đất thuộc xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cho Cty Cổ phần May Huy Hoàng thuê đất để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh với nước ngoài xây dựng CLB Golf Long Thành” (Điều 1). 1. UBND huyện Long Thành ra Quyết định xử phạt hành chính UBND huyện Long Thành ra Quyết định xử phạt hành chính số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 thu hồi nhà-đất của Cộng đoàn chúng tôi đang ở sử dụng ổn định, để cho Công ty Huy Hoàng xây dựng CLB Golf Long Thành mà không có Quyết định thu hồi đất của Cộng đoàn và không có Quyết định đền bù thiệt hại, không thỏa thuận giá cả đền bù là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật: Căn cứ Nghị Định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 tại Điều 36: “Các dự án thuộc nhóm khuyến khích đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA, vốn nước ngoài. Trong trường hợp này Nhà nước không đứng ra thực hiện việc thu hồi đất, nhưng Nhà đầu tư phải thương lượng giá cả sòng phẳng với người đang sử dụng đất trên cơ sở “Thuận mua vừa bán”, không được dùng quyền lực hành chính Nhà nước để ép buộc, cưỡng chế dân” (khoản 6). Căn cứ Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998, tại: Điều 34 quy định: “Trình tự thực hiện đền bù thiệt hại, trước tiên phải có Quyết định thu đất. Trường hợp cần thiết phải sớm giải phóng mặt bằng, thì có thể thành lập hội đồng đền bù trước khi có Quyết định thu hồi đất.” (khoản 1). Điều 38 quy định: “Người bị thu hồi đất nếu thấy Quyết định đền bù thiệt hại không đúng với quy định thì được quyền khiếu nại và được giải quyết theo quy định của Pháp luật. Người khiếu nại phải gửi đơn đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định đền bù thiệt hại…” Căn cứ Luật đất đai năm 2003 tại điều 32 quy định: “Việc quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất đó.” Từ trước tới nay, Cộng đoàn chúng tôi chưa hề nhận được Quyết định thu hồi đất và Quyết định đền bù thiệt hại bao giờ. 2. Chứng minh: Ngày 21/06/2004, lần đầu tiên ông Huỳnh văn Sơn ký Thông Báo lần I số 60/TB-UBH đề nghị chúng tôi nhận tiền bồi thường, (nhưng chưa có quyết định thu hồi đất của Cộng đoàn chúng tôi và Quyết định đền bù thiệt hại). Ngày 12/11/2004, ông Huỳnh văn Sơn ra Quyết Định xử phạt hành chính trái pháp luật số 5247/QĐ-XPHC (vì không có biên bản vi phạm hành chính). Ngày 22/11/2004, chúng tôi gửi đơn khiếu nại Quyết Định xử phạt hành chính số 5247/QĐ-XPHC nói trên, nhưng không được xem xét giải quyết. Ngày 19/12/2005, tức hơn một năm sau, ông Huỳnh văn Sơn mới ký Quyết định cưỡng chế số 8744/QĐ-UBH, Căn cứ trên Quyết định xử phạt hành chính trái pháp luật trên. Ngày 29/11/2005, 29/12/2005 chúng tôi gửi đơn khiếu nại Quyết Định cưỡng chế số 8744/QĐ-UBH ngày 12/11/2004 nói trên. Ngày 21/03/2006, ông Lê văn Ý chủ tịch huyện Long Thành ký Quyết định thu hồi Quyết định cưỡng chế trái pháp luật của ông Huỳnh văn Sơn số 8744/QĐ-UBH nói trên. Ngày 01/03/2006, ông Huỳnh Xuân Quang chủ tịch Xã Phước Tân ký một Biên Bản vi phạm hành chính, căn cứ trên một khoản điều không có thật (Khoản 18, Điều 19 Nghị Định 182/NĐ-CP/ ngày 29/10/2004). Một biên bản vi phạm hành chính mà căn cứ trên một khoản điều không có trong luật, tức là Biên Bản trái pháp luật. Sau này bà Huỳnh thị Nga, ông Huỳnh văn sơn tự ý sửa từ khoản 18, Điều 19 thành Điều 18,19 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, mà không ra quyết định sửa sai bằng văn bản. Như vậy, chữ ký và con dấu đỏ của UBND xã Phước Tân còn giá trị gì không ? Ngày 05/03/2006 chúng tôi gửi đơn đến ông Huỳnh Xuân Quang chủ tịch xã Phước Tân và ông Nguyễn Minh Khánh tổ bồi thường huyện, đề nghị sửa đổi hoăc hủy bỏ Biên bản trái pháp luật trên. Nhưng không được xem xét giải quyết. Ngày 21/03/2006, ông Nguyễn Minh Hoàng phó chủ tịch huyện Long Thành ký Quyết Định xử phạt hành chính số 918/QĐ-XPHC, căn cứ trên Biên Bản trái pháp luật của ông Huỳnh Xuân Quang nói trên. Ngày 27/03/2006, ngày 15/04/2006, ngày 03/05/2006 chúng tôi gửi đơn khiếu nại Quyết định số 918/QĐ-XPHC trực tiếp Thanh tra và Văn phòng UBND huyện Long Thành, Phòng tiếp dân tỉnh Đồng Nai, nhưng không được xem xét giải quyết. Ngày 02/06/2006, ông Nguyễn Minh Hoàng phó chủ tịch huyện Long Thành lại ký tiếp Quyết Định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND cũng căn cứ trên Biên Bản trái pháp luật của ông Huỳnh Xuân Quang chủ tịch xã Phước Tân nói trên. Ngày 08/06/2006, ngày 15/06/2006, ngày 26/06/2006 chúng tôi gửi đơn khiếu nại Quyết Định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND trực tiếp Thanh tra và Văn phòng UBND huyện Long Thành, Phòng tiếp dân tỉnh Đồng Nai, và nhiều cơ quan khác nhưng cũng không được xem xét giải quyết. Ngày 30/06/2006, UBND huyện Long Thành tiến hành thực hiện cưỡng chế trái quy định của pháp luật. Chưa một lần giải quyết đơn khiếu nại, chưa một lần gặp gỡ thỏa thuận giá đền bù, không tạo chỗ ở mới, căn cứ trên một Khoản Điều không có trong luật(Khoản 18, Điều 19 Nghị Định 182/NĐ-CP/ ngày 29/10/2004) để Quyết định xử phạt, Quyết định cưỡng chế thu hồi đất, tịch thu tài sản. Từ sáng sớm, Đoàn cưỡng chế đuổi tất cả mọi người trong nhà ra khỏi khu vực, niêm phong nhà, chờ tới giờ đọc lệnh và cưỡng chế, tịch thu tất cả mọi thứ, ủi sập nhà cửa, chuồng trại, vườn cây và các công trình kiến trúc khác, bắt bán luôn cả trại heo, ao cá của Cộng đoàn. Mỗi thành viên Cộng đoàn chỉ còn bộ quần áo trong người, không còn nơi ăn chốn ở. Muốn giao đất của Cộng đoàn chúng tôi cho Công ty Huy Hoàng thì UBND huyện Long Thành phải ban hành Quyết định thu hồi đất của Cộng đoàn và Quyết định bồi thường thiệt hại để Cộng đoàn chúng tôi căn cứ vào đó mà thực hiện. Nhưng UBND huyện Long Thành đã không làm. Muốn buộc Cộng đoàn chúng tôi di dời, giao đất cho Cộng ty Huy Hoàng thì UBND huyện phải cấp tái định cư, nơi ở mới, không có chúng tôi di dời đi đâu? Như vậy, ông Huỳnh văn Sơn và ông Nguyễn Minh Hoàng phó chủ tịch huyện Long Thành đã dùng quyền lực hành chính Nhà nước để ép buộc, cưỡng chế thu hồi đất trái với quy định của: Luật đất đai năm 2003, Nghị định 22/1998/NĐ-CP, Nghị Định 181/2004/NĐ-CP của thủ tướng Chính phủ. Và các Quyết định xử phạt hành chính số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 của ông Nguyễn Minh Hoàng là không căn cứ pháp luật, cần phải huỷ bỏ. II. Việc cưỡng chế Việc cưỡng chế ủi sập nhà ở, phòng nguyện, chuồng trại, ao hồ, vườn cây và các công trình Tượng đài tôn giáo của Cộng đoàn tu trì thuộc cơ sở tôn giáo là hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo của ông Nguyễn Năm phó phòng tư pháp huyện Long Thành, trưởng đoàn cưỡng chế. Căn cứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo số 21/2004/PL-UBTVQH 11, tại Điều 26: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó.” 1. Biên Bản Cưỡng Chế mà ông Nguyễn Năm là trưởng đoàn, được thành lập bao giờ ở đâu tôi không biết, nhưng 51 ngày sau ngày cưỡng chế (21/08/2006) mới gởi bưu điện cho tôi, có ghi: Hôm nay, hồi 08 giờ 30 ngày 30/06/2006, tại địa điểm ấp Tân Mai, xã Phước Tân, Long Thành, Đoàn cưỡng chế thi hành Quyết định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 của UBND huyện Long Thành V/v cưỡng chế thi hành QĐXPHC trong lĩnh vực đất đai đối với ông Hồ văn Tâm. Nội dung Quyết định cưỡng chế: “Cưỡng chế tháo dỡ các công trình nhà cửa hoa màu trên đất, buộc ông Hồ văn Tâm giao lại diện tích 20.182,2m2 đất tại ấp Tân Mai 2, xã Phước Tân cho Cty Cổ Phần May Huy Hoàng đầu tư xây dựng đường vào CLB Golf Long Thành theo Quyết Định số 341/QĐ-TTg ngày 27/03/1999 của Thủ tướng chính phủ. Thủ tướng chính phủ đâu có ký Quyết định cho Công ty Huy Hoàng thu hồi đất xây dựng đường vào CLB Golf Long Thành bao giờ ??? Như vậy, ông Nguyễn Năm phó phòng tư pháp huyện Long Thành đã mượn danh Thủ tướng chính phủ, để tạo ra một “Quyết Định Ma” để chiếm đoạt đất đai và tài sản của một cơ sở tôn giáo, gây dư luận trầm trọng cho quần chúng về đàn áp tôn giáo, gây thiệt hại quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể Tu Đoàn chúng tôi. 2. ông Nguyễn Năm phó phòng tư pháp huyện Long Thành đã áp dụng biện pháp cưỡng chế tịch thu và thu giữ tài sản của Cộng đoàn chúng tôi, trái với quy định của Pháp luật: Chứng minh 2: Căn cứ Nghị Định 37/2005/NĐ-CP: Tại Điều 2, khoản 3: “Những trường hợp phải dùng đến biện pháp cưỡng chế để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh; buộc thiêu hủy những vật phẩm gây hại sức khỏe con người, vật nuôi cây trồng và văn hóa độc hại. Như vậy, trường hợp Cộng đoàn Bến Đống không thuộc diện được phép dùng biện pháp cưỡng chế tịch thu đất và tài sản. Ông Nguyễn Năm phó phòng tư pháp huyện Long Thành chỉ cần một khoản luật đơn giản(khoản 5, Điều 34 Nghị Định 37/2005/NĐ-CP) là có thể cưỡng chế, chiếm đoạt đất đai, nhà cửa, tài sản của một cơ sở tôn giáo và cũng dùng khoản 5 này để trốn tránh trách nhiệm cách dễ dàng, mà Thủ trưởng cơ quan lớn nhất của huyện Long Thành cũng giả điếc làm ngơ. Điều 21. Những tài sản sau đây không được phép kê biên (tức không được thu giữ): 1. Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cần thiết cho cá nhân bị cưỡng chế và gia đình họ sử dụng. 2. Công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho cá nhân bị cưỡng chế và gia đình họ sử dụng. 3. Đồ thờ cúng thông thường; di vật, huân chương, huy chương, bằng khen vv…. Ông Nguyễn Năm đã không ngần ngại tịch thu và thu giữ những tài sản mà pháp luật cấm không được thu giữ của một Cộng Đoàn tu trì chúng tôi. Điều 24 khoản 3: “Biên bản kê biên phải lập thành 02 bản, cơ quan ra quyết định cưỡng chế 01 bản, 01 bản được giao cho cá nhân bị kê biên hoặc tổ chức bị cưỡng chế kê biên ngay sau khi hoàn thành việc lập biên bản kê biên tài sản. Việc kê biên tài sản phải hoàn thành trước khi tiến hành cưỡng chế và phải có mặt của người bị kê biên”. Nhưng trên thực tế, UBND huyện Long Thành thực hiện việc kê biên lúc nào ở đâu chúng tôi không biết, chỉ 51 ngày sau khi cưỡng chế, tôi mới nhận được biên bản kê biên qua bưu điện. Từ những cơ sở trên, Chúng tôi đề nghị Quý tòa xem xét ông Nguyễn Năm phó phòng tư pháp huyện Long Thành, ông Nguyễn Minh Hoàng phó chủ tịch huyện Long Thành, căn cứ Điều 45 khoản 1: “Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế mà ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì căn cứ vào tính chất mức độ vi phạm mà bị xủ lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại do quyết định trái pháp luật của mình gây ra” 3. Công trình nhà cửa, tài sản, đất đai Cộng đoàn tu trì chúng tôi là công trình hợp pháp, không nằm trong trường hợp Khoản 5 Điều 34 Nghị Định 37/2005/NĐ-CP mà ông Nguyễn Năm dùng để cưỡng chế và tịch thu tài sản. Chứng minh 3: Ngày 23/10/1992, ông Nguyễn văn Hải chủ tịch UBND xã Phước Tân, cấp cho chúng tôi SỔ KÊ KHAI DIỆN TÍCH VÀ THU NỘP THUẾ NÔNG NGHIỆP số 17/TNN tập đoàn Tân Mai 2 (tu sĩ Trần văn Tảo đứng tên), tôi đã đóng thuế hàng năm đầy đủ (biên lai nộp thuế phôtô đính kèm). Ngày 12/10/2001, ông Ngô Minh Tiến cán bộ địa chính và ông Nguyễn Văn Mỹ phó chủ tịch xã Phước Tân đã ký GIẤY XÁC NHẬN NGUỒN GỐC ĐẤT, rằng: “số diện tích 21705,7m2 ông Nguyễn văn Chinh khai phá trước năm 1975 sứ dụng đến năm 1992 ông Chinh chuyển nhượng lại cho ông Hồ văn Tâm sử dụng liên tục cho đến nay, không tranh chấp”. Ngày 24/11/2001, ông Nguyễn văn Mỹ phó chủ tịch xã Phước Tân và ông Nguyễn Quốc hội đồng đền bù huyện đã ký GIẤY XÁC NHẬN NGUỒN GỐC ĐẤT ĐAI, NHÀ CỬA, VẬT KIẾN TRÚC, rằng: “Đã có giấy tờ hợp lệ, Diện tích đất nông nghiệp:21705,7m2, và đất thổ cư: 300m2 ông Tâm mua lại của ông Nguyễn văn Chinh năm 1992 sử dụng cho đến nay”. Đất có 300m2 thổ cư, có nhà ở, chuồng trại, công trình kiến trúc, có ao cá, vườn cây ăn trái, có người đang ở sử dụng liên tục hàng chục năm nay, không tranh chấp, có giấy tờ hơp lệ mà ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành cho là hộ giải tỏa trắng không thuộc diện cấp tái định cư là thiếu cơ sở pháp lý. Ngày 28/11/2002, ông Trần Đình Tân, ban thuế nông nghiệp Phước Tân đã ký GIẤY TƯỜNG TRÌNH NGUỒN GỐC NHÀ VÀ ĐẤT, rằng: “Xác nhận diện tích đất khai trong giấy là đất của Nhà dòng đã đóng thuế đầy đủ”. Cùng ngày, ông Trần Đình Tán trưởng ban hành giáo xứ cùng ký xác nhận: “Đại diện Ban hành giáo xứ Thiên Phước, xác nhận Cộng Đoàn các thầy Tu Đoàn Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế đã ở đây lâu theo như đơn”; đại diện chính quyền địa phương, ông Ngô văn Viễn phó trưởng tổ 22 đã ký và 40 người ký đại diện bà con lối xóm và bà con ấp Tân Mai 2 cùng ký xác nhận nội dung Giấy Tường Trình Nguồn Gốc Đất-Nhà là đúng sự thật. Ngày 09/11/2005, ông Ân văn Liêm phó chủ tịch HĐBT huyện Long Thành đã ký tờ BÁO CÁO số 283/BC-HĐBT, qua thẩm định xác minh rằng: “Hộ ông Hồ văn Tâm: trước đây thuộc hộ giải tỏa trắng, nhưng khi thẩm định lại thì là cơ sở tôn giáo tự lập, không được cấp phép hoạt động, không được cấp hộ khẩu”. Ngày 28/12/2005, tòa giám mục Xuân Lộc đã ký xác nhận GIẤY TƯỜNG TRÌNH NGUỒN GỐC NHÀ VÀ ĐẤT, rằng: “Xác nhận phần đất ghi trong giấy là đất tôn giáo mà Tu sĩ Tâm đứng đại diện Tu Đoàn Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế”. Ngày 10/01/2006, Tòa Giám Mục Xuân Lộc cấp GIẤY CHỨNG NHẬN “Cộng đoàn Bến Đống là một cơ sở tôn giáo trong lãnh thổ Giáo Phận Xuân Lộc, được giao trách nhiệm cho tu sĩ Phêrô Hồ văn Tâm -Tu Đoàn Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế đại diện đứng tên, cùng với một số tu sĩ, tu sinh quản lý, canh tác và điều hành thuộc thẩm quyền của Giáo Hội Công giáo Việt Nam.” Đức giam mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh đã ký. Một cơ sở tôn giáo, đã được Giáo hội cấp Giấy Chứng Nhận, cơ quan Nhà nước cấp huyện, cấp xã, cấp thôn ấp và toàn thể bà con làng xóm công nhận; nhưng chỉ vì lý do chưa được cấp phép hoạt động tôn giáo mà không được chính quyền địa phương cho đăng ký hộ khẩu, khi bị thu hồi đất lại không có quyết định thu hồi đất, không được bố trí tái định cư, không được bồi thường thiệt hại là thiếu căn cứ pháp luật. III. Việc tịch thu tài sản: Việc tịch thu tài sản đồ dùng, quần áo, sách vở, bằng cấp, giấy tờ tùy thân, tiền bạc, gạo cơm, bắt bán heo, gà, vịt, cá, mà không có mặt và sự chấp thuận của chủ sở hữu là xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật. Một cơ sở tôn giáo đã ổn định, hợp pháp như vậy mà UBND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã ký quyết định cho Công ty Huy Hoàng đem người và máy móc đến cưỡng chế ủi sập nhà ở, phòng nguyện, tượng đài Chúa -Mẹ, Thần thánh nơi thờ phượng của Cộng đoàn, chuồng trại, ao cá, vườn cây v.v…; hai trại heo đang nuôi hàng trăm con cũng bị Công ty Huy Hoàng bắt bán hết không đem tiền cho chúng tôi, khoảng 3 tấn cá thịt đang nuôi dưới ao, trung bình 20 ngàn đồng/kg (tương đương 400.000.000đ/năm), Công ty Huy Hoàng cũng phá bờ cạn nước cho người của Công ty bắt hết; vườn cây gỗ: dầu, sao, mít, tràm lâu năm, trước đó có người đến hỏi mua 250 triệu đồng mà chúng tôi không bán cũng bị Công ty Huy Hoàng cưa đổ chở về xé ván, chở luôn cả hơn 3 khối gỗ vuông: 10x20, 6x12, 5x10 dài 5m toàn gỗ quý hiếm lâu đời mua từ các nhà thờ ở Sài gòn, trị giá khoảng 0,5 tỷ đồng; toàn bộ nhà cửa, chuồng trại, công trình kiến trúc bị ủi sập trị giá hơn 2 tỷ đồng. Các Thứ Gia Dụng Trong Nhà bị thu giữ trái Pháp luật tại UBND xã Phước Tân: 1. Các loại tủ đựng đồ: Tủ đứng: 04 cái bằng gỗ, 02 cái bằng sắt; Tủ nằm: 01 kệ gỗ dài bốn ngăn, 02 tủ loại 04 hộc gỗ, Tủ búp-phê: 01 tủ thuốc gia đình, các dụng cụ khám chữa bệnh, Tủ đựng ly, chén, bát và thức ăn đồ khô. Thùng nhôm: đựng gạo còn hơn tạ gạo trong đó. Gạc-măng-giê: 02 cái đựng thức ăn, nồi niêu xoong chảo, chén bát. 2. Các loại bàn ghế, mùng mền: Bàn dài: 05 cái mặt ván gỗ, Ghế sắt xếp 20 chiếc Bàn tròn: 02 cái, Ghế Salon: 06 cái Bàn ghế học sinh 30 bộ, Giường sắt: 21 cái, 04 giường gỗ Bàn quỳ và ghế tựa bằng gỗ 14 bộ, Mùng mền, chiếu, gối 42 bộ 3. Các loại máy móc và điện tử: Đàn Yamaha 01 cái, Tivi 14 inh và 21 inh, Máy Laser CD 01 cái Đàn Ghi ta 03 cái, Loa vi tính 02 cái Hephone 01cái Dàn trống 01 bộ, Âm ly 02 cái, Đầu băng 03 cái, Loa thùng 2 cái, Lò nướng 1 cái Đèn để bàn 24 cái, Micro không dây 2 cái, Ổn áp điện 03 cái Đồng hồ: 06 cái treo tường và 06 để bàn, Xe đạp 07 cái Máy ảnh 07 cái: 01 kỹ thuật số và 06 mấy cơ, Xe lắc 01 cái Đồng hồ điện 01, dây điện đóng bao, Xe máy 02 chiếc Quạt đứng 06 cái, quạt trần 02 cái, Mũ bảo hiểm 03 cái Máy Dinamo phát điện 04 kw 01cái, Máy hút bùn 01 cái Máy bơm nước 02 cái, Máy khoan 01 cái Máy nổ F10 01 cái, Bồn nhựa chứa nước 3 cái: 300L, 500L, 1000L Bàn may máy 01 cái, Kệ sách lớn 06 tầng 02 cái, Kệ sách nhỏ 06 cái, 01 con rắn gỗ. Số tài sản bị thu giữ tại UBND xã Phước Tân thiệt hại khoảng hơn 1 tỷ đồng. Tổng thiệt hại toàn bộ lên đến khoảng trên 5 tỷ đồng, chưa tính đến số tiền mặt 2.000 USD và 14 chỉ vàng trong tủ sắt; gần 80 bộ quần áo đi học, đi lễ của các anh em, nhét chung với giày dép, sách vở đầy 26 bao (bản kê khai); chưa tính đến thiệt hại do sự ngưng trễ việc tu học của các tu sĩ, tu sinh và các em học sinh, sinh viên; hơn một năm qua đời sống Cộng đoàn mất ổn định do mất nhà mất đất; quần áo, lương thực, sách vở, giấy tờ, bằng cấp, sách kinh bổn, kinh sách phụng vụ giờ kinh v.v… bị UBND huyện thu giữ không chịu trả, không chịu giải quyết. IV. Quyết định giải quyết khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của bà Huỳnh thị Nga, phó chủ tịch tỉnh Đồng Nai không hề giải quyết các nội dung: I,II,III nói trên. Các Quyết định giải quyết khiếu nại số 232/QĐ-UBND/17/01/2007 của ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của bà Huỳnh thị Nga, phó chủ tịch tỉnh Đồng Nai không căn cứ pháp luật, không giải quyết các nội dung đơn khiếu nại, không xác minh các giấy tờ hợp pháp của chúng tôi liên quan các đơn khiếu nại, mà chỉ căn cứ các báo cáo và thông báo thiếu căn cứ pháp luật. 1) Các đơn khiếu nại lâu nay của chúng tôi vẫn mang nội dung: * UBND huyện Long Thành muốn thu hồi đất của Cộng đoàn chúng tôi để giao cho Công ty Huy Hoàng xây dựng CLB Golf Long Thành, nhưng không muốn ra Quyết định thu hồi đất của Cộng đoàn, không muốn ra Quyết định bồi thường thiết hại, không muốn thỏa thuận giá cả với chúng tôi, đúng theo quy định của pháp luật. * Nhiều lần chúng tôi gửi đơn khiếu nại các Quyết định xử phạt hành chính số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết định cưỡng chế số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 của ông Nguyễn Minh Hoàng, nhưng không được xem xét giải quyết. * Yêu cầu bố trí tái định cư, hoán chuyển đất khác theo nguyện vọng chính đáng của chúng tôi, cũng không được xem xét giải quyết. * Thuê nhà trọ và trả lại tài sản đã bị tịch thu: đồ dùng cá nhân và Cộng đoàn, tiền bạc, gạo cơm, giấy tờ tùy thân, quần áo, sách vở, bằng cấp, giầy dép, xe cọ v.v… của các em học sinh, sinh viên v.v… không lập biên bản kê biên, đang thu giữ tại UBND xã Phước Tân. nhưng không được giải quyết. 2) Các Quyết định số 232/QĐ-UBND/17/01/2007 của ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành và Quyết định số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của bà Huỳnh thị Nga phó chủ tịch tỉnh Đồng Nai giải quyết theo xác minh có một phía, thiếu cơ ở pháp lý: a) Có trích dẫn chung chung Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/03/2005, Nghị Định 182/NĐ-CP/ ngày 29/10/2004, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, nhưng không giải quyết theo quy định của các Nghị định trên. b) Chỉ căn cứ các Quyết định: * ơ( Quyết Định số 341/QĐ-CP ngày 27/03/1999 của Thủ tướng chính phủ; * Quyết định số 1280/QĐ-UBT ngày 10/04/1999, “V/v Hỗ trợ giải tỏa trắng có nhà và đất hợp pháp thì được giải quyết chính sách tái định cư”. * Quyết định số 2963/QĐ-UBT ngày 16/08/2001, V/Vban hành giá các loại đất; * Quyết định số 157/QĐ-CT-UBT ngày 14/01/2003 V/v bồi thường, hỗ trợ (đợt 3) * Quyết định số 5760/ QĐ-CT-UBT ngày 26/11/2004 V/v phê chuẩn phương án hỗ trợ thu hồi đất (đột 5); * Quyết định số 2599/QĐ-CT-UBT ngày 20/07/2005 V/v phê chuẩn phương án bồi thường(đột 7); * Báo cáo số 37/BC-TT ngày 16/04/2007 và Công văn số 236/TT-XKT ngày 28/05/2007 của Chánh thanh tra tỉnh về kết quả xác minh. (hai số Báo cáo và Công văn này chúng tôi không được cung cấp). * Công văn số 3140/UBND-NC ngày 16/05/2006, V/v ủy quyền cho Ủy ban nhân huyện Long Thành ban hành quyết định cưỡng chế đối với những hộ dân cố tình không di dời giải tỏa. * Ba lần gửi thông báo nhận tiền bồi thường năm 2004 và 2005; * Biên bản vi phạm hành chính ngày 23/08/2002 “V/v tự ý chuyển quyền sử dụng đất và xây dựng nhà trái phép” và đã phạt tiền qua Quyết định số 1744/QĐ-CT-UBH ngày 20/09/2002. * Biên bản trái pháp luật ngày 01/03/2006 tại Ủy ban xã Phước Tân (chưa sửa đồi hoặc thu hồi lại): Biên Bản vi phạm hành chính ngày 01/03/2006 mà ông Huỳnh Xuân Quang chủ tịch Xã Phước Tân ký, căn cứ trên một khoản điều không có thật (Khoản 18, Điều 19 Nghị Định 182/NĐ-CP/ ngày 29/10/2004). Một Biên bản vi phạm hành chính mà căn cứ trên một khoản điều không có trong luật, tức là Biên Bản trái pháp luật. Nay ông Huỳnh văn Sơn và bà Huỳnh thị Nga tự ý sửa từ khoản 18, Điều 19 thành Điều 18,19 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, để hợp thức cho Biên bản trái pháp luật nói trên, mà không ra quyết định sửa sai Biên bản đó. Giả sử như là Điều 18, Điều 19 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP thì cũng chẳng có nghĩa gì. Vì nội dung Điều 18 khoản 1: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000đ -200.000đ đối với hành vi không có mặt tại địa điểm để bàn giao đất theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không có lý do chính đáng.” Khoản 2: “Phạt tiền từ 200.000đ -500.00đ đối với hành vi ngăn cản cán bộ, công chức của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành xác định mốc giới, bàn giao, cho thuê, thu hồi đất trên thực đia.” Điều 19: “Phạt tiền từ 500.000đ – 3.000.000đ đối với hành vi cố ý trốn tránh, chây ỳ không trả lại đất đúng thời hạn trả lại đất theo Quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà phương án bồi thường đã được thực hiện theo quy định của pháp luật.” Qua đó cho thấy, Điều 18 này chẳng liên quan gì đến Cộng đoàn chúng tôi. Điều 19 cho thấy, Cộng đoàn chúng tôi chưa hề nhận được Quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, còn phương án bồi thường thì lại quá trái với quy định của pháp luật. Như vậy, cái gốc là Biên Bản vi phạm hành chính ngày 01/03/2006 mà ông Huỳnh Xuân Quang chủ tịch Xã Phước Tân ký, hoàn toàn trái pháp luật, thì cái ngọn là Quyết Định số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết Định cưỡng chế số 1674/QĐ-UB ngày 02/06/2006, của ông Nguyễn Minh Hoàng phó chủ tịch huyện Long Thành cũng trái pháp luật. c) Các Quyết định số 232/QĐ-UBND/17/01/2007 của ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành và Quyết định số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của bà Huỳnh thị Nga phó chủ tịch tỉnh Đồng Nai giải quyết theo xác minh có một phía, thiếu cơ ở pháp lý: Các hồ sơ giấy tờ liên quan đến tính hợp pháp nhà-đất của Cộng đoàn chúng tôi đã được trình bày trong các đơn khiếu nại từ trước tới nay ( nay trình bày tại chứng minh 3, trang 7 trong đơn này), ông Huỳnh văn Sơn và bà Huỳnh thị Nga bỏ qua không đưa vào xác minh để giải quyết. Giải quyết như vậy có ý đồ gì ? Từ những cơ sở trên cho thấy, ông Huỳnh văn Sơn phó chủ tịch huyện Long Thành và bà Huỳnh thị Nga phó chủ tịch tỉnh Đồng nai đã vi phạm nghiêm trọng tại Điều 6 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998: “Người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.” Kính thưa Quý Tòa. Hiện nay mọi sinh hoạt tu trì của Cộng đoàn chúng tôi bị ngưng trễ hoàn toàn, các thành viên Cộng đoàn phải tá túc trong các hộ dân, vì thế đời sống gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng rất lớn đến việc tu học của chúng tôi. Thu giữ quần áo, giầy dép, xe cọ, sách vở, giấy tờ, bằng cấp và cả tiền bạc của các em học sinh, sinh viên để làm gì mà không chịu trả cho họ đi học? Sách Thánh, sách kinh nguyện, sách phụng vụ, Tượng ảnh Chúa Mẹ thu giữ làm gì ? Muốn giao đất của Cộng đoàn chúng tôi cho Công ty Huy Hoàng thì UBND huyện Long Thành phải ban hành Quyết định thu hồi đất của Cộng đoàn và Quyết định bồi thường thiệt hại để Cộng đoàn chúng tôi căn cứ vào đó mà thực hiện chứ. Do đó, Cộng đoàn Bến Đống một lần nữa kính đề nghị Quý Tòa xem xét: * Tuyên hủy các quyết định số 2067/QĐ-UBND ngày 09/07/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 232/QĐ-UBND ngày 17/01/2007, Quyết định số 918/QĐ-XPHC ngày 21/03/2006 và Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 02/06/2006 của UBND huyện Long Thành. * Nếu UBND huyện Long Thành không còn quỹ đất thì chúng tôi đề nghị Quý Tòa xem xét trả lại đất cũ cho chúng tôi để Cộng đoàn sớm có nơi ở ổn định. * Đồng thời bồi thường thiệt hại do các Quyết định nêu trên gây ra, để các tu sĩ, tu sinh, các em học sinh, sinh viên của Cộng đoàn chúng tôi có cuộc sống ổn định và điều kiện tu học bình thường. Rất mong nhận được sự quan tâm giải quyết của Quý Tòa. Ấp Tân Mai 2 ngày 10/09/2007 (Ký tên) Cộng đoàn trưởng: Hồ văn Tâm Tu sĩ Hồ Văn Tâm
TGM Hà Nội : ''Trọng tâm hiện nay của Hàng Giáo Phẩm Việt Nam là: Toà Khâm Sứ, Thánh Địa La Vang và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt''VietCatholic News (Chúa Nhật 25/05/2008 15:26)
Tại Đức, TGM Hà Nội tuyên bố: ''Trọng tâm hiện nay của Hàng Giáo Phẩm Việt Nam là: Toà Khâm Sứ, Thánh Địa La Vang và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt''
HERNE, Đức quốc -- Cộng đồng CGVN tại Đức quốc được tin Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt trong chuyến sang Roma, Thụy Sỹ, và trên đường sang Gia Nã Đại tham dự Đại Hội Thánh Thể có dừng chân ghé thăm thầy cũ là cha cố Phêrô Nguyễn Trọng Quý tại Kerne và dâng thánh lễ tại đây, nên rất đông đảo bà con từ khắp nơi đã không hẹn mà cùng tới tham dự thánh lễ và gặp nhau tại nhà thờ St. Bonifatius, Herne vào lúc 15g00, ngày 24.5.2008.
Thánh lễ do Đức TGM Giuse chủ tế, và cùng đồng tế với Ngài có các quý cha: Cha Phêrô Nguyễn Trọng Quý, cha quản lý giáo phận Hà Nội Nguyễn Xuân Thuỷ, Cha Đa Minh Nguyễn Ngọc Long – tuyên úy giáo phận Köln & Aachen, cha Giuse Huỳnh Công Hạnh – tuyên úy giáo phận Münster & Osnabrück, cha Bùi Trần Thuấn và cha Đinh xuân Minh; (riêng cha tuyên úy F.x. Nguyễn Ngọc Thuỷ vì phải lo công tác mục vụ tại giáo xứ Đức nên chỉ đến sau trong giờ cơm chiều).
Trước thánh lễ với hồi chiêng trống uy nghiêm và trang trọng, trên 300 giáo dân tham dự đã cùng với đoàn đồng tế đọc kinh cầu nguyện cho Trung Quốc đúng ngày Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chủ xướng mỗi năm một lần kể từ ngày 24.5 năm nay. Sau đó đội thiếu nhi dâng nến trong tiếng hoà ca Kinh Hoà Bình thật thiết tha của cộng đoàn dân Chúa hiệp thông cầu nguyện cho hoà bình và công lý tại Việt Nam và thế giới. Tiếp đến là phần chào mừng Đức TTGM Giuse của Ban Chấp Hành Liên Đoàn Công Giáo VN tại Đức, Đại Diện Ban Chấp Hành Cộng Đồng Thánh Micae Paderborn và Essen, Đại Diện Ban Chấp Hành Liên Giáo Phận Münster & Osnabrück. Mở đầu Thánh Lễ, Đức Tổng đã gợi nhớ cho người tham dự hai biến cố trong đời người Việt tị nạn hôm nay: biến cố 1954 và biến cố 1975; rồi Ngài tiếp: trong mất mát, trong đau khổ của lúc ban đầu; để rồi sau đó trong chiều dài của cuộc đời mỗi người, mỗi gia đình, phải chăng đó là một hồng ân Chúa đã ban cho chúng ta, mà rồi dần dà mỗi người đều nhận ra. Trong bài giảng, Đức Cha Giuse đặc biệt nhấn mạnh đến sự chao đảo của con người trước những trào lưu tư tưởng của thế giới hôm nay; và từ trạng thái bất an như con thuyền trên sóng gió, đức tin của chính chúng ta hôm nay cũng dường như đang bị lung lay. Để rồi chính chúng ta quay lại trách móc Chúa, phê phán Giáo Hội chỉ vì trong nhất thời không nhận ra được chiều dài lịch sử của Ơn Cứu Độ; nhưng trái lại luôn luôn đòi hỏi Thiên Chúa, Giáo Hội và kẻ khác phải đáp ứng mọi nhu cầu nguyện vọng của chúng ta trong mỗi phút giây. Ngài tiếp: Hãy lấy gương Mẹ Maria, Mẹ luôn luôn âm thầm ghi nhận mọi biến cố trong cuộc đời để rồi suy niệm trong lòng, cùng phó thác trong tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa. Sau thánh lễ Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã dành cho mọi người 25 phút chia sẻ và kể chuyện “Toà Khâm Sứ“. Sau khi kể chuyện, Ngài chia sẻ: “Từ sự kiện này chúng ta rút ra được ba điểm quan trọng: Thứ nhất là sự hiệp thông: hiệp thông mọi thành phần trong giáo phận Hà Nội, hiệp thông trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và hiệp thông mọi thành phần dân Chúa trong cũng như ngoài nước. Thứ hai là hiệu quả của truyền thông: không những qua truyền thông mọi người trong cuộc đều biết đến, nhưng xa và rộng hơn cả thế giới đều biết, cụ thể là tại Singapor và Roma trong chuyến đi này Ngài được các Tổng Giám Mục và Giám Mục sở tại có lưu tâm và hỏi thăm về "chuyện Toà Khâm Sứ". Thứ ba là khai thông: nhờ có sự khai thông này mà có thể sẽ có sự hiểu biết lẫn nhau cũng như dễ dàng đi đến một cuộc đối thoại cởi mở". Ngài cũng nhấn mạnh rằng: "Trọng tâm hiện nay của hàng Giáo Phẩm Việt Nam là Toà Khâm Sứ, Thánh Địa La Vang và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt". Trong hội trường, quý vị đại diện và tất cả mọi người đã cùng với Đức Tổng và quý cha khách dùng cơm chiều trong tình thân mật và ấm cúng. Đức Tổng cũng dành nhiều thời gian cho quý ông bà anh chị em khắp nơi thăm hỏi, chụp hình lưu niệm… Nắng ấm rực rỡ của bầu trời ngày hôm đó như đang trải rộng ra khắp không gian để cùng hoà vào niềm vui chung trong thân ái và an bình. Kính chúc Đức Tổng luôn dồi dào sức khoẻ và an lành hồn xác trong chặng đường sắp tới. Tê Ðê Tê
Tình hình tranh chấp khu đất của Dòng thánh Phao Lồ ở Vĩnh Long trở nên căng thẳngĐiểm nhấn :Không chỉ đòi lại đất đai bị cướp đoạt, nhưng còn phải kiện và tó giác chính quyền Vĩnh Long đã bôi nhọ danh dự của các Soeurs dòng thánh Phao Lô bằng văn tự là huấn luyện trẻ em phản động chống cách mạng.Tình hình tranh chấp khu đất của Dòng thánh Phao Lồ ở Vĩnh Long trở nên căng thẳngGia Minh, phóng viên đài RFA 2008-05-24Trong một chương trình trước, Đài chúng tôi gửi đến quí thính giả trình bày về tình hình tranh chấp khu đất ở số 3 Tô Thị Huỳnh giữa một phía là các nữ tu Dòng Thánh Phao Lồ Công giáo tại khu vực đó và một phía là chính quyền tỉnh Vĩnh Long. Vừa qua tình hình tranh chấp trở nên căng thẳng thêm. Gia Minh cập nhật thông tin về điều đó. Nghe audio ở đây. Vào ngày chủ nhật 18 tháng 5 vừa qua, người đứng đầu địa phận Vĩnh Long của giáo hội Công giáo là giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân, gửi cho tín hữu trong địa phận lá thư chung kêu gọi các linh mục, tu sĩ và toàn thể giáo dân cầu nguyện cho giáo phận và đặc biệt là các nữ tu Dòng thánh Phao lồ mau vượt qua khó khăn. Một linh mục trong giáo phận lên tiếng xác nhận về lá thư chung đó: Xin khẳng định thư của giám mục kêu gọi về vấn đề đất đai là có. Sai hoàn toàn Nguyên nhân phải kêu gọi giáo dân và tu sĩ cầu nguyện là vì chính quyền tỉnh Vĩnh Long vừa có quyết định xây dựng khách sạn trên phần đất rộng hơn 10 ngàn mét vuông mà trước năm 1977 là cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi của các nữ tu Dòng thánh Phao Lồ ở Vĩnh Long. Bức thư nêu rõ quyết định đó bất chấp những ý kiến của các linh mục trong Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Long, và chính quyền cho họp dân phố trong thị xã thông báo sẽ có biện pháp ngăn cấm những ai cản trở công trình nói trên'. Chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Văn Sang, trưởng Ban Tôn giáo và Dân tộc tỉnh Vĩnh Long, để tìm hiểu ý kiến phía chính quyền về những điểm được đưa ra trong lá thư của người đứng đầu địa phận Vĩnh Long thì nhận được trả lời như sau: Chúng tôi đã họp dòng, triều các linh mục nhiều lần rồi. Nhà nước VN có pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo thì các tỉnh đều làm theo, vậy thôi. Theo như lời của ông Nguyễn Văn Sang thì các nữ tu cũng được mời tham dự để giải quyết nhưng nữ tu Trần Thị Phụng, thuộc tỉnh dòng Phao lồ khu vực, người phụ trách việc kiện xin lại cơ sở của nhà dòng ở số 3 Tô Thị Huỳnh thì cho hay: Ủy ban không có mời nhà dòng họp nữa, mà ngày 9 hay 10 tháng 5 gì đó thì Mặt trận có mời 17 cha họp và thông báo là vụ kiện của nhà dòng đã 'đụng trần' rồi. Sau cuộc họp đó ba ngày thì có cuộc họp ở cấp phường, xã ra nhân dân và được biết có kêu gọi Đoàn Thanh niên CSHCH hỗ trợ cho nhà nước.
Vị linh mục xác nhận lá thư của đức giám mục Vĩnh Long cho biết tình hình đất đai, cơ sở của giáo phận và việc xin lại lâu nay:
Chính quyền đưa ra quyết định thu hồi đất và xem rằng quyết định ban đầu là đúng; thế nhưng quyết định ban đầu là sai hoàn toàn.
Phía nhà dòng thì yêu cầu đi đến bước đối thọai trực tiếp với nhà đầu tư hoặc với nhà đầu tư đền bù thỏa đáng theo giá nhà nước. Nhưng họ không đồng ý và căn cứ theo quyết định cũ ghép tội cho các 'soeur' tội huấn luyện phản động chống phá cách mạng.
Đất đai của giáo phận mất rất nhiều: Mến Thánh Giá Học Viện, Đại Chủng Viện… Chúng tôi làm đơn nhưng mọi chuyện vẫn dậm chân tại chỗ.
Không đúng pháp luật
Ông Nguyễn Văn Báu, phó giám đốc Sở Tài Nguyên- Môi trường tỉnh Vĩnh Long đưa ra quan điểm của phía chính quyền về khu đất đang tranh chấp:
Chuyện đã giải quyết xong rồi theo quyết định của UBND tỉnh: không chấp nhận khiếu nại. Thứ hai nữa là dòng đã kiện lên Bộ Xây dựng và Bộ không chấp nhận nên nay chúng tôi tiến hành xây dựng.
Họ đòi lại không đúng pháp luật nên không giải quyết; đất đó là quản lý ở thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa theo quyết định 111 nên không mở ra giải quyết nữa.
Họ nói nhà nước làm sai phải trả lại đất cho họ. Chúng tôi đã chứng minh là đúng vì làm theo quyết định của quốc hội; như việc cải tạo công thương nghiệp, cải tạo nông nghiệp thì không mở lại để giải quyết.
Mọi cơ sở giáo dục công hay tư thời điểm 75 phải do nhà nước quản lý; còn những chuyện nói 'nuôi trẻ mồ côi chống phá cách mạng' thì tôi không biết.
Đây là một tổ chức xã hội thì nhà nước quản lý.
Chúng tôi là người kế thừa nên không biết gì về chuyện nói đi nói lại…
Đất đai là sở hữu của nhà nước chứ không phải của cá nhân nào. Theo qui họach của nhà nước, nếu họ thấy không có nơi tu hành thì nhà nước sẽ cấp cho nơi khác và hỗ trợ kinh phí để xây dựng. Còn toàn bộ trường học và trung tâm giáo dưỡng thì có rồi như nơi nuôi người già, trường trẻ khuyết tật. Mấy bà muốn lấy lại đất đó ngay tại thị xã để xây lên nhà thờ, mà ở Vĩnh Long ba bốn nhà thờ rồi, và đại chủng viện, tiểu chủng viện mà công giáo có bao nhiêu người đâu.
Qua phát biểu của hai phía thì người nghe thấy rõ sự khác biệt. Đây cũng là nguyên nhân của nhiều vụ khiếu kiện đất đai hiện nay ở Việt Nam. May 23 Vietcatholic đính chínhVietCatholic News (Thứ Sáu 23/05/2008 06:07) đính chính :
Errata for the Letter of Bishop of Vinh Long
Dear readers,
We apologize for mistaking “Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul” for “Sisters of Saint Paul of Chartres” in the Letter of Bishop of Vinh Long published on 20th of May. Our sincere thanks to Bishop Thomas Nguyen for notifying us of errors in the text. The correct version follows: Vinh Long, 18th of May 2008 To priests, religious, and lay people of Vinh Long diocese, Dear Brothers and Sisters in Christ, I am writing this letter in response to your great concerns relating to the Major Seminary on Nguyen Hue street; and to the solicitude of Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul for their monastery on To Thi Huynh street (previously known as Nguyen Truong To). The September 7, 1977 can be seen as a day of disaster for the diocese of Vinh Long. On that day, the local authorities mobilized its armed force to blockade and raid on Holy Cross College on Pham Thai Buong street (formerly known as Khuu Van Ba), St. Paul monastery, and the Major Seminary. Then, they seized all these properties and arrested those who were in charge of the premises. I myself was among the detainees. Representatives of the Provincial Superior of Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul and the Bishop office have repeatedly sent petitions to local and central governments. However, these petitions have gone unanswered. Recently, local government of Vinh Long province has issued a decree to build a hotel on the land of 10,235 m2 of Sisters of Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul. Despite the protest of priests at the office of the Fatherland Front, the government has summoned residents in the town to meetings in which they vow to take strong actions against those who dare to prevent the construction. It is a great suffering of Sisters who have been in Vinh Long since 1871 and have been continuously serving people in the provinces of Ben Tre, Tra Vinh and Vinh Long. It is also a great suffering of the entire diocese. We cannot consent with the decision imposed unjustly by those who have power in their hands, neither we can stay silent in the face of this outrage. Being silent means complicity and a compromise with injustice. I am convinced that you will be united with each other, and be persistent for justice. In the spirit of solidarity, I ask you to pray earnestly for the diocese and Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul so that we soon overcome these difficulties. Every day, please be united in prayer with us by singing three Hail Mary and the Peace Prayer of St. Francis of Assisi. In Christ, + Bishop Thomas Nguyen Van Tan Bishop of Vinh Long Translated from Vietnamese by J.B. An Dang J.B. An Dang May 22 Phỏng vấn Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương về mục tiêu và nghị trình Phái đoàn Vatican tới Việt NamVietCatholic News (Thứ Năm 22/05/2008 10:52)
Phỏng vấn Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương về mục tiêu và nghị trình Phái đoàn Vatican tới Việt Nam
(Đức ông Phương thuộc Bộ Truyền Giáo và là thành phần Phái Đoàn Vatican, sẽ thăm viếng Việt Nam vào tháng 6 năm 2008) LM Stephanô Bùi Thượng Lưu: Đây là một dịp rất là tốt, Đức Ông đã đến với cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức đây là lần thứ hai và con biết Đức Ông trong trách vụ rất là nặng nề, trọng trách làm trưởng Vụ của mục vụ Á Châu trong Thánh Bộ Văn hóa và Bộ Ngoại giao trước, thành ra trong trách nhiệm đó, Đức Ông đã dành cho cộng đoàn chúng con ngày hôm nay, trong Đại hội một cuộc thuyết trình, nhất là chủ đề vào hôm qua. Bây giờ, con xin được mở một cái ngoặc lớn hơn về vấn đề Giáo Hội, thực sự ra, cái đề tài của chúng con không có xa khỏi Giáo Hội tức là nó luôn là một nhịp cầu rất tốt cho Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức, tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục hiệp thông với Giáo Hội ở nhà, giống như những người con xa quê hương. Chúng con biết là Đức Ông sắp sửa cùng với phái đoàn Tòa Thánh để sang Việt Nam lần thứ 15, thì con xin Đức Ông cho quý khán thính giả được biết chương trình, gồm tóm lại những chương trình chính trong phái đoàn Tòa Thánh sắp tới. Nghị trình mà Phái đoàn Vatican sẽ bàn tới: Đ.Ô. Barnabê Nguyễn Văn Phương:: Cám ơn Cha, chúng ta sống trong Giáo Hội hiệp thông, chúng ta mặc dầu là ở hải ngoại, chúng ta rất quan tâm đến Giáo Hội Việt Nam của chúng ta và con xin cám ơn Cha cũng đã quan tâm đến phái đoàn Tòa Thánh. Phái đoàn Tòa Thánh đi lần thứ 15, lần này là lần thứ 15, là để làm sao, là để đối thoại với chính quyền Việt Nam hiện nay, đối thoại là để tìm những cái gì để mà có thể cùng nhau xây dựng: xây dựng đất nước, xây dựng Giáo Hội và đối thoại để giúp cho Giáo Hội Việt Nam được chính quyền nhìn nhận hiểu biết hơn là một Giáo Hội muốn xây dựng, muốn kiến tạo, chứ không phải là một Giáo Hội mà có phải là một lực lượng nào đương đầu, nên là con thấy kết quả từ 15 lần đến đây thì thấy rằng là lần lần có sự hiểu biết, có sự thông cảm, có sự chia sẻ một cách nào đó cái mối ưu tư của sự đóng góp của Giáo Hội, mặc dầu là như chúng ta mong muốn, như phái đoàn mong muốn thì chưa được. Rồi cái chương trình của chúng con là, trước hết là như vừa nói là đối thoại với chính phủ Việt Nam những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Cái điều thứ hai là muốn đi thăm Giáo phận Huế, ở trong đó có Thánh Địa La Vang của chúng ta, mà chúng ta biết thì những thời gian gần đây đã có vấn đề là yêu cầu chính quyền trao trả đất La Vang lại cho Giáo phận Huế, đó là Thánh Địa La Vang, có sự mong mỏi của phái đoàn Tòa Thánh đến La Vang để mà kính viếng Đức Mẹ. Chúng ta mừng kỷ niệm Đức Mẹ La Vang, thì đến đó cầu nguyện với Đức Mẹ La Vang để chứng tỏ mối quan tâm của Tòa Thánh đứng về phía Giáo Hội, đứng về phía Giáo Hội Việt Nam để ủng hộ sự yêu sách chính đáng của Giáo Hội Việt Nam, của Giáo phận Huế trực tiếp. Trả lại đất La Vang để là nơi Trung tâm Hành hương của Giáo Hội Việt Nam, để những người con cái đến đó một cách thoải mái, tự do và cầu nguyện với Đức Mẹ. Về cái chương trình nữa là chúng con cũng ước muốn đi thăm Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Đà Lạt thì Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn vừa mới lên làm Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Việt Nam, đi thăm vị Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Việt Nam của phái đoàn Tòa Thánh là một chuyện hết sức là phải lẽ. Đi thăm vị chủ tịch để cho thấy rằng Giáo Hội Việt Nam, đại diện Giáo Hội Việt Nam là Hội đồng Giám Mục, mà Hội đồng Giám Mục Việt Nam có vị chủ tịch thì Tòa Thánh đến thăm, chứng tỏ rằng là cái quyền, quyền bính của Giáo Hội Việt Nam, chính thức là Hội đồng Giám Mục Việt Nam, không có cơ quan nào khác, rồi đại diện cho Hội đồng Giám Mục là Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục. Ở Đà Lạt cũng có Giáo hoàng Học viện, thì từ lâu các Đức Giám Mục cũng muốn chính quyền trao trả lại để mà làm những công tác của Giáo Hội phục vụ để mà học hỏi hay bất cứ cái gì, để làm một nơi để mà phục vụ cho những người tín hữu. Vì thế mà, mối quan tâm của Tòa Thánh là như vậy. Đối thoại chính quyền, thăm Đức Mẹ la Vang và thăm Chủ tịch Hội đồng Giám Mục, trong đó có những vấn đề liên quan mà Tòa Thánh rất quan tâm.
Hỏi: Như vậy là chỉ có Huế và ở Đà Lạt mà Hà Nội không có. Đáp: Hà Nội là đương nhiên, bởi vì đến là luôn luôn đến giáo đô, thủ đô chứ, xin lỗi đến thủ đô, thì Hà Nội là đương nhiên rồi, phải có. Hỏi: Tiện thể con nhắc đến Tòa Khâm Sứ. Tòa Khâm Sứ, chắc Đức Ông cũng chứng kiến, và chứng kiến những biến cố lớn trong cuối năm 2007, từ ngày 15/12 khi Đức Tổng Giám Mục Kiệt đã ra tông thư để mời gọi giáo dân Hà Nội cầu nguyện để xin trao trả lại Tòa Khâm Sứ vì nhu cầu của Giáo Hội, đồng thời trong chiến dịch cầu nguyện đó, Giáo Hội cũng mời gọi giáo dân ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại hợp ý cầu nguyện cho công lý và hòa bình. Bây giờ, tiện thể Đức Ông nhắc đến Hà Nội, đến chuyến viếng thăm Hà Nội, thì trong phái đoàn Tòa Thánh kỳ này có đặt vấn đề đó với chính phủ không? Đáp: Chắc chắn là có, bởi vì vấn đề nó không những là riêng tư, kín đáo giữa Hà Nội, với chính quyền ở tại Hà Nội nhưng mà chúng ta biết là nó đã lớn lên trên bình diện thế giới. Báo chí thế giới, không chỉ là báo chí Việt Nam, các trang Net, các nguồn tin bằng tiếng Việt, nhưng mà cả những tin tức, những hãng thông tấn lớn bằng tiếng ngoại quốc, họ cũng quan tâm. Thì vấn đề đó là vấn đề kể như là lớn, không có thể không đá động đến, công việc nó sẽ như thế nào thì sẽ do sự đối thoại, sự hiểu biết, sự thông cảm, sự nhân nhượng giữa hai bên, cái vấn đề yêu cầu trao trả lại cho Giáo Hội là nhu cầu chính đáng của Giáo Hội. Cho nên rằng là phải đặt ra thì cũng là rất đúng, Giáo Hội rất quan tâm và có lẽ, chắc chứ không phải là có lẽ, một trong những đề tài mà phái đoàn Tòa Thánh đặt ra là vấn đề Tòa Khâm Sứ, đất đai, những cái chính, những cái lớn, còn những đất đai nói chung thì không có đặt ra. Hỏi: Vâng, xin cám ơn Đức Ông đã cho khán thính giả biết những điểm căn bản. Con còn hai câu hỏi nhỏ với Đức Ông: câu hỏi thứ nhất là khi Đức Ông giao tiếp, ngoài những mục đích chính mà Đức Ông vừa đặt ra thì mỗi lần phái đoàn Tòa Thánh về, có một số Giám Mục mới, con thấy Giáo Hội Việt Nam vẫn còn trống một số Tòa trống như Thái Bình, Thanh Hóa, Phát Diệm rồi Ban Mê Thuộc, chẳng hạn, như vậy, thì kỳ này phái đoàn Tòa Thánh có đặt vấn đề đó với Giáo Hội Việt Nam và với chính phủ? Đáp: Vấn đề đặt thì có đặt trước rồi, bình thường thì như Cha biết, những người Công Giáo Việt Nam chúng ta ở hải ngoại biết, là muốn bổ nhiệm một giám mục thì nhà nước yêu cầu một cách gọi rằng là yêu cầu đòi buộc là Tòa Thánh phải hỏi ý kiến của nhà nước, chính phủ Việt Nam, thì nếu mà đã hỏi ý kiến vị này, vị kia thì hy vọng lần này qua bên đó được chính phủ trả lời, đúng là có hy vọng, còn được bao nhiêu thì cũng là chưa biết, nhưng mà có hy vọng được chút gì chăng?!! Viễn tượng về liên hệ ngoại giao: Hỏi:.. . Chúng con rất vui mừng tại vì trong lần này chúng con kỷ niệm hai mươi năm phong Thánh và nhất là nhìn lại về quê hương, chúng con cũng muốn cùng với Giáo Hội để kỷ niệm 210 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang và 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức thì chủ đề của Đại Hội của chúng con là “Đức Maria Nữ Vương các Thánh Tử Đạo Việt Nam”. Giờ đây, con biết là có nhiều khán thính giả qua Internet và qua VietCatholic cũng như qua diễn đàn của chúng con ở Âu Châu này chắn chắn không có được dịp trực tiếp nghe Đức Ông, thì bây giờ con xin Đức Ông trả lời: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã sang gặp Đức Thánh Cha vào đầu năm 2007, đó là khởi điểm cho những hy vọng mới, thì trong thời điểm đó, Việt Nam cũng đã gia nhập vào WTO, thành thử ra khi nhìn vào phái đoàn Tòa Thánh trong tiến trình thiết lập ngoại giao giữa Tòa Thánh và chính phủ Việt Nam, Đức Ông thấy lần này phái đoàn Tòa Thánh sẽ đạt được kết quả nào không? hay có hy vọng gì không? Tiến trình đó nó đi đến đâu?
Đáp: Hy vọng thì con có ý là người ta nói bằng tiếng Ý là "L'esperenza è ultima la morire", nghĩa là hy vọng là cái đích cuối cùng, cứ hy vọng hoài, không biết nó sẽ đi đến lúc nào, hy vọng là không để cho mất, chúng ta hy vọng, hy vọng, hy vọng, về tiến trình liên hệ ngoại giao thì chúng ta vẫn hy vọng và chúng ta tin chắc rằng là liên hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh với chính phủ Việt Nam là một điều tích cực không phải riêng cho Tòa Thánh mà cho cả đất nước Việt Nam nữa. Bởi vì, Tòa Thánh, nếu mà những ai có thiện tâm thì nhìn nhận Tòa Thánh là tiếng nói tinh thần, Tòa Thánh không có đem lại vấn đề kinh tế, không có kỹ nghệ gì cả, nhưng mà thế giới nhìn nhận Tòa Thánh, đặt liên hệ ngoại giao với Tòa Thánh trên 170 quốc gia, là làm sao, là nhìn nhận tiếng nói tinh thần của Tòa Thánh có giá trị, mà tiếng nói đó không phải đứng về một phía nào, đứng về bên tay mặt, đứng về bên tay trái, nhưng mà là tiếng nói chung, tiếng nói của con người, tiếng nói của nhân bản, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của yêu thương, tiếng nói của công bình, tiếng nói của chân lý. Với điều đó, thì con tin tưởng rằng, những người thiện tâm, những chính phủ thiện tâm thấy cái đó, và một khi thấy thì chấp nhận một cách tích cực, tự nguyện và vui vẻ. Những mong ước của Giáo hội Việt Nam: Hỏi: Theo như Đức Ông ở gần Đức Thánh Cha Bênêđictô, thì có lần nào Đức Ông đã nghe Đức Thánh Cha Bênêđictô ngỏ ý được sang thăm viếng Việt Nam không? Nếu quan hệ ngoại giao sẽ được (thiết lập). Đáp: Con chưa được biết lần nào Đức Thánh Cha ngỏ ý trực tiếp, nhưng mà gián tiếp thì Đức Thánh Cha muốn thăm tất cả các nước, ở trong đó có con cái người tín hữu, Việt Nam là một Giáo Hội quan trọng ở Á Châu của chúng ta, chúng ta phải nhìn nhận điều đó. Và một Giáo Hội quan trọng ở Á Châu như vậy thì việc mà Đức Thánh Cha ước muốn đến thăm là một điều hết sức là bình thường, phải lẽ và chúng ta tin chắc rằng Đức Thánh Cha này rất là muốn đi thăm Việt Nam. Hỏi: Câu hỏi quan trọng nhất mà con muốn nói là Giáo Hội Việt Nam được mời Đức Ông sang đã là 15 năm, 15 lần thăm viếng Giáo Hội Việt Nam, con xin Đức Ông cho khán thính giả chúng con, cho tất cả các cộng đoàn Viêt Nam hải ngoại biết là Giáo Hội Việt Nam mong muốn được góp phần trong vấn đề xã hội cũng như vấn đề văn hóa, thì con thấy Giáo Hội đòi hỏi cho mình được cái quyền phục vụ dân tộc, phục vụ đất nước, điều đó nó tiến hành như thế nào và trong những đòi hỏi đó Giáo Hội đang cố gắng để đạt tới dần dần? Đáp: Vấn đề rất là lớn, Giáo Hội Việt Nam luôn luôn yêu cầu được góp phần vào một cách tích cực xây dựng đất nước, xây dựng dân tộc, xây dựng quê hương, đào tạo những lớp người trẻ, tương lai của đất nước, tương lai của quê hương. Giáo Hội yêu cầu, mong muốn tích cực tham gia đào tạo xây dựng đất nước, xây dựng đào tạo người trẻ bằng cách nào? Là giáo dục, tới bây giờ thì Giáo Hội chưa được quyền giáo dục trẻ. Cha biết, các nữ tu chỉ được quyền mở lớp mẫu giáo, mầm non chứ không phải mẫu giáo nữa, từ zero tuổi cho đến năm tuổi, từ năm tuổi trở lên thì không được. Xét cho cùng, không phải là giáo dục, giữ trẻ mầm non vậy thôi, cho nó qua. Giáo dục phải từ tiểu học trở lên, thì Giáo Hội mong muốn xây dựng đất nước, đâu phải riêng gì cho Giáo Hội nhưng mà cho đất nước, dân tộc Việt Nam, cái đó là chưa được. Một cái ý muốn thứ hai nữa là góp phần xây dựng vào công tác xã hội, thì cho tới bây giờ nhà nước yêu cầu để cho Giáo Hội lo cho những người bị bệnh HIV (AIDS) tới giai đoạn cuối cùng, hay là những bệnh cùi mà nhà nước thấy rằng không có thiết tha làm những chuyện đó thì để cho Giáo Hội làm. Giáo Hội vui mừng làm công chuyện đó bởi vì là công việc bác ái, cái nền tảng của Giáo Hội, nền tảng của Giáo lý Phúc Âm. Nhưng mà, Giáo Hội muốn làm hơn nữa, phục vụ hơn nữa nhưng mà chưa được, thì chúng ta cầu mong lần lần những người có trách nhiệm thấy rằng là Giáo Hội mong muốn phục vụ và sự phục vụ đó không phải cho Giáo Hội nhưng mà cho đất nước, cho dân tộc. Hỏi: Con xin Đức Ông cho chúng con những cảm tưởng quý mến của Đức Ông đối với Đại Hội trong những ngày vừa qua. Đáp: Con xin hết lòng cảm ơn Cha, con đến đây với Đại hội, con thấy là niềm vui rất lớn, thấy một số đông những người anh em hay đồng bào Công Giáo Việt Nam của chúng ta đi từ xa. Hồi sáng này, có gặp một số anh em từ bên Tiệp Khắc, đến nữa là họ rất lấy làm vui mừng tham dự Đại hội và con thấy trong bầu khí hết sức tốt đẹp, sốt sắng nhất là Thánh Lễ đại trào ngày hôm nay mà chúng ta mừng lễ và sau đó thấy một đoàn thiếu nhi rất là đông, cái niềm vui lớn tương lai của Giáo Hội, tương lai của xã hội và chúng ta hy vọng tin tưởng chắc chắn rằng là nguồn gốc người Việt Nam luôn luôn được hướng về, hướng tâm hồn và hướng cả công việc làm để giúp ích cho đất nước Việt Nam, Giáo Hội Việt Nam là một niềm sung sướng và giúp được, thì Giáo Hội ở Đức này các cha tuyên úy đã từ nhiều năm nay thực hiện Đại hội như thế này năm nay là lần thứ 32, ở Âu Châu là nhất, đó là công trình lớn lao của các cha tuyên úy. Con xin chân thành chúc mừng, cám ơn các cha tuyên úy về công tác hết sức là tích cực lo đồng bào của chúng ta. Đó là niềm hạnh phúc, niềm vui mà con thấy được. Hỏi: Con chân thành cám ơn Đức Ông đã dành cho chúng con một buổi nói chuyện hết sức là hữu ích. Phần riêng Đức Ông, và đặc biệt là chúc Đức Ông chiều hôm nay về Rôma bằng an, rồi lên đường đến Việt Nam với nhiều thành quả rất là tốt đẹp cho Giáo Hội, cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại và chúng con hợp ý hiệp thông cầu nguyện cho phái đoàn Tòa Thánh không những được bằng an mà còn đem lại rất nhiều hoa trái cho quê hương, cho Giáo Hội. Đáp: Con xin cám ơn cha và qua cha con xin gởi lời chào tất cả cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam tại Đức cũng như trên thế giới. LM Stephanô Bùi Thượng Lưu
Việt Nam: Ðất giáo hội bị tịch thu để xây khách sạn
Tình trạng căng thẳng giữa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo và chính phủ Việt Nam đang gia tăng sau khi chính quyền địa phương tại tỉnh Vĩnh Long loan báo kế hoạch xây cất một khách sạn trên một miếng đất bị tịch thâu ngay sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Tin của Independent Catholic News và của Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam cho hay Giám Mục Tô-Ma Nguyễn Văn Tân của giáo phận Vĩnh Long vừa gửi một văn thư tới các linh mục, tu sĩ và giáo dân trong giáo phận để tố cáo quyết định của chính quyền địa phương trong việc phá bỏ Tu Viện của Dòng Nữ Tu Thánh Phao Lồ. Trong văn thư được đọc trong tất cả các buổi thánh lễ hôm cuối tuần vừa rồi, Giám Mục Nguyễn Văn Tân nói rằng ngày 7 tháng 9 năm 1977 được coi là ngày đại nạn của giáo phận Vĩnh Long. Văn thư cho hay vào ngày vừa kể, nhà cầm quyền địa phương đã sử dụng công lực để phong tỏa và khám xét Thánh Giá Học Viện, Dòng thánh Phao Lồ và Đại Chủng Viện, rồi bắt giữ tất cả những người phụ trách. Giám Mục Nguyễn Văn Tân là một trong số những người bị bắt giữ này. Văn thư cho biết tiếp rằng kể từ đó, chính quyền đã chiếm hữu và sử dụng tất cả những tài sản vừa kể trong nhiều mục tiêu khác nhau. Tháng trước, nhà cầm quyền loan báo dự án xây cất một khách sạn trên phần đất rộng 10 ngàn 235 mét của Dòng Nữ Tu Thánh Phao Lồ. Các nữ tu đã mở những vụ phản kháng ngay trên miếng đất này và một nhóm linh mục đã bầy tỏ thái độ chống đối tại trụ sở của Mặt Trận Tổ Quốc. Văn thư của Giám Mục Tô-Ma Nguyễn Văn Tân cho hay dầu vậy, chính quyền vẫn không thay đổi quyết định và thay vào đó, đã mở những cuộc họp dân phố, thông báo sẽ có những biện pháp mạnh đối với những ai dám cản trở công trình xây cất. Văn thư của Giám Mục Nguyễn Văn Tân kêu gọi giáo dân cầu nguyện cho giáo phận và cho Dòng Thánh Phao Lồ mau vượt qua những khó khăn. Trong khi đó, tin của Asia News được Spero News loan tải hôm thứ Tư cho hay miếng đất của Dòng Thánh Phao Lồ kể trên trước đây là một cô nhi viện, và chính quyền địa phương của tỉnh Vĩnh Long dự tính cho Công Ty Du Lịch Saigon xây cất một khách sạn 4 sao để thay thế cô nhi viện này. Theo tin trên, Giám Mục Nguyễn Văn Tân nói với giáo dân rằng nhà cầm quyền đã khởi sự xây cất khách sạn trên miếng đất của Dòng Thánh Phao Lồ, và rằng không thể chấp nhận cách giải quyết có tính cách áp đặt của những người có quyền lực trong tay, đồng thời không được im lặng, vì im lặng trong lúc này là đồng lõa, là thỏa hiệp với bất công. Asia News cho hay các nữ tu dòng thánh Phao Lồ đã có mặt tại Vĩnh Long từ năm 1871 và đã điều hành một nữ tu viện và một cô nhi viện trên đường Tô Thị Huỳnh ở Vĩnh Long cho tới năm 1975. Kể từ tháng 7 năm 1977, nhà cầm quyền bắt đầu tịch thu đất đai, nhà cửa, trong chiến dịch thay đổi xã hội để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tin trên nói rằng tháng 9 năm 1977, nhà cầm quyền chiếm khu tu viện và cô nhi viện của các nữ tu, đuổi tất cả trẻ mồ côi, kể cả những em tàn phế, ra ngoài. Trong lúc đó, chính quyền cũng chiếm cứ các cơ sở khác thuộc giáo phận, giam giữ nhiều tu sĩ và đuổi vài chục người đang theo học trong tu viện ra khỏi nơi này. Tin cho hay: theo nghị quyết 1958 của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Vĩnh Long, khu này sẽ trở thành một bệnh viện của tỉnh, trong có một khu nhi đồng. Thế nhưng chuyện này chẳng bao giờ xảy ra. Trong 6 năm qua, các nữ tu đã tìm cách lấy lại miếng đất và các cơ sở này để dùng vào mục tiêu nguyên thủy, nghĩa là dùng làm nơi trú ngụ và giúp đỡ trẻ em bị bỏ rơi và tàn tật. Tuy nhiên nhũng cố gắng của các nữ tu đã không nhận được một đáp ứng nào. Thay vào đó, một khách sạn 4 sao được dựng lên tại đây. Một nông dân lớn tuổi than phiền là mỗi khi nhóm họp, Ủy Ban Nhân Dân đưa ra những khẩu hiệu của dân, vì dân, cho dân, nhưng tất cả đều cũ kỹ, rỗng tuếch, và chẳng có điều gì xảy ra. Nông dân này nói thêm rằng dân chúng đã chờ đợi 40 năm nay để có một chút đời sống tốt đẹp, nhưng vô ích. Điều đáng kể hơn nữa là dân địa phương còn bị đe dọa bằng những biện pháp trừng phạt có thể áp dụng nhắm vào ai chống đối quyết định của chính quyền.
May 18 Đức Giám Mục giáo phận Vĩnh Long tố cáo Chính Quyền phong tỏa và áp đặt Dòng Nữ Tu Thánh PhaolôVĩnh Long, ngày 18.05.2008
Kính gởi: Các Linh mục, Các Tu sĩ Toàn thể Giáo dân trong Giáo phận Vĩnh Long, Anh Chị Em thân mến, Trước những bức xúc của Anh Chị Em, của các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô về cơ sở Đại Chủng Viện Vĩnh Long, đường Nguyễn Huệ và Tu Viện Dòng Thánh Phaolô, đường Tô Thị Huỳnh ( tên cũ là Nguyễn Trường Tộ), tôi muốn ngỏ lời với Anh Chị Em. Ngày 7.9.1977 nói được là ngày ‘đại nạn’ của Giáo Phận Vĩnh Long: Nhà Cầm Quyền Tỉnh lúc đó đã sử dụng công lực phong tỏa, khám xét Thánh Giá Học Viện, đường Phạm Thái Bường (tên cũ là Khưu Văn Ba), Dòng Thánh Phaolô và Đại Chủng Viện; sau đó quản lý toàn bộ cơ sở và tài sản, bắt giữ điều tra những người phụ trách trong số đó có Linh mục Nguyễn Văn Tân (nay là Giám mục Giáo phận Vĩnh Long). Đại Diện Tỉnh Dòng Thánh Phaolô cũng như Tòa Giám Mục đã nhiều lần đệ đơn lên Chính Quyền từ địa phương đến Trung Ương, tới nay vẫn chưa có một giải đáp thỏa đáng. Nay được biết Chính Quyền Tỉnh Vĩnh Long đã có quyết định tiến hành việc xây dựng Khách Sạn trên phần đất 10.235 m2 của Dòng Thánh Phaolô, bất chấp những ý kiến của các Linh Mục tại Mặt Trận Tổ Quốc Vĩnh Long, và đã họp dân phố trong Thị xã, thông báo sẽ có những biện pháp ngăn cấm những ai cản trở công trình nói trên. Đây là nỗi thống khổ của các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô – Dòng đã có mặt tại Vĩnh Long từ năm 1871 và còn đang phục vụ tại nhiều Họ Đạo trong ba Tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long – và cũng là nỗi thống khổ của cả Giáo Phận. Chúng ta không thể tán thành cách giải quyết có tính cách áp đặt của những người có quyền lực trong tay, cũng không được im lặng, vì im lặng trong lúc nầy là đồng lõa, là thỏa hiệp với bất công. Tin chắc rằng Anh Chị Em sẽ hợp nhất với nhau, cương quyết tôn trọng lẽ phải, và trong tinh thần liên đới với nhau, xin Anh Chị Em cầu nguyện cho Giáo Phận, cho Dòng Thánh Phaolô mau vượt qua những khó khăn. Mỗi ngày, xin cùng nhau dâng 3 Kinh Kính Mừng và Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô. Thân ái trong Chúa Kitô, Tôma Nguyễn Văn Tân,
Giám mục Vĩnh Long VietCatholic News (Chúa Nhật 18/05/2008 13:48)
Vietnam: Church protests at government plans to demolish monastery
Tensions between the Catholic Church and government are growing after the local government announced plans to build a hotel on land seized after the Vietnam War.
Bishop Thomas Nguyen Van Tan of Vinh Long diocese, 135 km South West of Saigon, has sent a letter to priests, religious, and lay people of his diocese denouncing the decision to pull down the monastery of the Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul. In the letter read in all Masses on the last weekend, Bishop Nguyen Van Tan says that September 7, 1977 was "a day of disaster" for the diocese of Vinh Long. On that day, "the local authorities mobilized its armed force to blockade and raid on Holy Cross College.., St. Paul Monastery, and the Major Seminary", and arrested all those who were in charge of the premises. Bishop Thomas was among the detainees. Since then, the government has kept the properties, using them for various purposes. Last month, local authorities announced a project to build a hotel on the land of 10,235 m2 of the Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul. The Sisters have staged protests at the site, and a group of priests has voiced their protest at the office of the Fatherland Front. Despite all this, the government has not changed its mind. Rather, it "has summoned residents in the town to meetings in which they vow to take strong actions against those who dare to prevent the construction", the letter says. Vinh Long is a province located in the Mekong River Delta of southern Vietnam. Its capital is Vinh Long. Its population is 1,023,400 living on the land of 1,475 km. Its unemployment rate in recent years stays persistently at more than 34%. The text of the letter follows. Vinh Long, 18 of May 2008 To priests, religious, and lay people of Vinh Long diocese, Dear Brothers and Sisters in Christ, I am writing this letter in response to your great concerns relating to the Major Seminary on Nguyen Hue street; and to the solicitude of Sisters of Charity of Saint Vincent de Paul for their monastery on To Thi Huynh street (previously known as Nguyen Truong To). The September 7, 1977 can be seen as a day of disaster for the diocese of Vinh Long. On that day, the local authorities mobilized its armed force to blockade and raid on Holy Cross College on Pham Thai Buong street (formerly known as Khuu Van Ba), St. Paul monastery, and the Major Seminary. Then, they seized all these properties and arrested those who were in charge of the premises. I myself was among the detainees. Representatives of the Provincial Superior of Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul and the Bishop office have repeatedly sent petitions to local and central governments. However, these petitions have gone unanswered. Recently, local government of Vinh Long province has issued a decree to build a hotel on the land of 10,235 m2 of the Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul. Despite the protest of priests at the office of the Fatherland Front, the government has summoned residents in the town to meetings in which they vow to take strong actions against those who dare to prevent the construction. It is a great suffering of Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul who have been in Vinh Long since 1871 and have been continuously serving people in the provinces of Ben Tre, Tra Vinh and Vinh Long. It is also a great suffering of the entire diocese. We cannot consent with the decision imposed unjustly by those who have power in their hands, neither we can stay silent in the face of this outrage. Being silent means complicity and a compromise with injustice. I am convinced that you will be united with each other, and be persistent for justice. In the spirit of solidarity, I ask you to pray earnestly for the diocese and Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul so that we soon overcome these difficulties. Every day, please be united in prayer with us by singing three Hail Mary and the Peace Prayer of St Francis of Assisi. In Christ, + Bishop Thomas Nguyen Van Tan Bishop of Vinh Long Independent Catholic News
Vinh Long: l’évêque appelle ses fidèles à ne pas accepter l’injustice commise par les autorités contre une congrégation religieuse
Après la décision des pouvoirs publics de la province de Vinh Long d’autoriser la construction d’un hôtel quatre-étoiles sur le domaine du couvent confisqué aux religieuses de Saint-Paul de Chartres (1), l’évêque du diocèse, dans une lettre envoyée à l’ensemble des fidèles, le 18 mai dernier, proteste avec une grande vigueur contre cet abus de pouvoir. La lettre invite le peuple de Dieu à se montrer résolu et solidaire dans la défense de la juste cause et à prier ensemble. Le 16 mai dernier, on avait appris que, malgré les très nombreuses requêtes et démarches effectuées par les religieuses de Saint-Paul de Chartres, le Comité populaire de la province de Vinh Long venait d’accorder à l’agence de tourisme Saigon-Vinh Long un permis de construire pour un ensemble hôtelier sur le domaine des religieuses de Saint-Paul de Chartres. La lettre écrite par Mgr Thomas Nguyên Van Tân, la veille de l’entrée en vigueur du permis de construire, ne cache pas les sentiments d’indignation que cette autorisation a fait naître chez les catholiques du diocèse. L’évêque commence par évoquer les événements survenus le 7 septembre 1977, une journée de grande calamité pour le diocèse, précise-t-il. Ce jour-là, les « détenteurs du pouvoir provincial de l’époque » ont utilisé la force publique pour perquisitionner et ensuite accaparer le couvent des religieuses et le grand séminaire (2). L’évêque rappelle que lui-même faisait partie des prêtres et religieuses arrêtés ce jour-là. Depuis, la représentante provinciale de la congrégation de Saint-Paul de Chartres ainsi que l’évêché ont envoyé de nombreuses requêtes auprès des autorités locales et centrales. Elles n’ont reçu « jusqu’à présent » aucune réponse satisfaisante. « Or, nous apprenons, constate l’évêque, que le pouvoir provincial a décidé d’entamer les travaux de construction d’un hôtel sur le terrain de 10 235 m² de la congrégation de Saint-Paul, sans tenir compte de l’avis des prêtres membres du Front patriotique de Vinh Long. La population de la ville rassemblée a été informée que des mesures seraient prises contre ceux qui s’opposeraient à ces travaux. » L’évêque affirme ensuite que la souffrance de ces religieuses, présentes à Vinh Long depuis 1871 et aujourd’hui au service de nombreuses paroisses, était celle de tout le diocèse. Il déclare: « Nous ne pouvons pas entériner la solution imposée par ceux qui détiennent le pouvoir entre leurs mains. Nous ne pouvons pas non plus nous taire car le silence en ce moment signifie complicité et acceptation de l’injustice. » S’adressant directement à ses fidèles, il se déclare convaincu que ceux-ci seront unis et résolus à faire respecter « la juste cause ». Il leur demande de prier pour que le diocèse et la congrégation des religieuses de Saint-Paul surmontent rapidement cette épreuve. Il les invite à réciter ensemble chaque jour trois Ave Maria et la prière pour la paix attribuée à Saint-François d’Assise (3). Le 7 septembre 1977, date que l’évêque rappelle dans sa lettre, les forces de sécurité de Vinh Long avaient investi la maison des sœurs et, après perquisition, avaient confisqué la maison et tous ses biens, dispersé ses jeunes pensionnaires orphelins et handicapés, et placé toutes les religieuses en détention. Au bout d’un mois, 17 religieuses avaient été renvoyées dans leur famille. La supérieure de maison, quant à elle, avait été gardée un mois de plus et ensuite reconduite à la maison-mère de la congrégation, à My Tho. (1) Voir l’historique de cette affaire dans EDA 484. (2) Voir IMSA: « La Formation des prêtres au Vietnam après avril 1975 » (Echange France Asie, n° 53). (3) La lettre de l’évêque de Vinh Long a paru sur le site Internet du diocèse (http://www.giaophanvinhlong.net/Giaophan/thumucvu%20khan.htm) et a été diffusée par l’agence Vietcatholic News.
Eglises d'Asie UBND TỈNH VĨNH LONG VÀ BỘ XÂY DỰNG ÁP BỨC CÁC NỮ TU DÒNG THÁNH PHAOLÔ NHƯ THẾ NÀO?VietCatholic News (Chúa Nhật 18/05/2008 10:46)
UBND TỈNH VĨNH LONG VÀ BỘ XÂY DỰNG ÁP BỨC CÁC NỮ TU DÒNG THÁNH PHAOLÔ NHƯ THẾ NÀO?
Để tiếp tục rộng đường dư luận đối với cuộc hành trình gian nan của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long đòi lại tu viện bị Nhà nước chiếm đoạt từ năm 1977, Lý Hành Giả tôi xin được hầu chuyện mọi người yêu chuộng sự thật và công lý, qua bài viết này, về Quyết định 1958 ngày 6-9-1977 của UBND tỉnh Cửu Long trước đây mà hậu thân của nó là UBND tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên, cột mốc khởi đầu cho số phận bi đát của một tu viện bị xóa sổ giữa thanh thiên bạch nhật. Một số phận tới nay đã dài đến 31 năm. Số phận của những tu sĩ bị xô, bị đẩy, bị ném, bị quăng bởi những cánh tay của kẻ có quyền lực, trước họng súng của lực lượng an ninh, ra khỏi chốn tu trì một cách không thương tiếc. QĐ 1958 còn là tang chứng – vật chứng không thể chối cãi về sự vu khống của UBND tỉnh Cửu Long đối với các nữ tu, xúc phạm nặng nề đến danh dự của những phụ nữ sống đời tu hành. Hành vi phi-nhân-văn và phản-nhân-quyền của UBND tỉnh Cửu Long trong QĐ 1958 đang được “phát huy” với những “sáng tạo” mới của UBND tỉnh Vĩnh Long và Bộ Xây dựng. QĐ 1958 là tiếng “kèn lâm khốc” (kèn đám ma) cho một thi thể đã thối rữa là UBND tỉnh Cửu Long. Vậy mà cái tồn thể, tức UBND tỉnh Vĩnh Long ngày nay, vẫn cứ ảo tưởng là khúc quân hành đắc thắng. Mặc dù QĐ 1958 là văn bản pháp lý đầu tiên, nhưng lại được phân tích sau cùng, vì người viết muốn mời quý độc giả thực hiện cuộc hành trình từ hiện tại về quá khứ. Từ thời điểm 2008 ngược tới 1977. Nhờ đó, chúng ta có cái cảm giác của người lần theo dấu vết của tội phạm. Rồi cuối cùng, khi đã đến cột mốc số 0 của khởi điểm, chúng ta hình dung được những hành vi phi pháp và phạm pháp đã diễn ra như thế nào, chúng ta hiểu được sự ngoan cố có bộ mặt ra sao và không còn ngạc nhiên nữa bởi vì chiếc mặt nạ dân biết-dân bàn-dân kiểm tra đã bị rớt xuống đất, làm lộ nguyên hình bộ mặt thật của cái gọi là tự do-dân chủ! Chính UBND tỉnh Vĩnh Long và Bộ Xây dựng đang góp phần làm rơi chiếc mặt nạ ấy. Chiếc mặt nạ được tô son trát phấn bằng những mỹ từ: dân biết-dân bàn-dân kiểm tra. I. QUYẾT ĐỊNH 1958 NGÀY 6-9-1977 CỦA UBND TỈNH CỬU LONG Ngày 6-9-1977, UBND tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long) ra quyết định số 1958, định đoạt số phận của tu viện Dòng Thánh Phaolô Vĩnh long. Hôm sau, ngày 7-9-1977, lực lượng an ninh, theo chỉ thị của UBND, bao vây tu viện, giam giữ các nữ tu (xem thêm bài viết của tác giả Người Lục Tỉnh), triển khai QĐ 1958. Cùng lúc đó Đài phát thanh Cửu Long liên tục đưa tin về việc “Đập tan âm mưu chống phá cách mạng tai Tu viện Dòng Thánh Phaolô”. Về sau, nữ tu Lê Thị Trạch, nhân chứng chính trong sự kiện này, nay đã 80 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, kể lại cho tác giả Gia Minh (RFA): “Đài phát thanh nói là chúng tôi có chứa vũ khí, nhưng mà thật ra thì đó là mấy cây súng (đồ chơi) của mấy đứa bé, chứ còn tụi tui thì không có súng ống gì hết trơn”. 1. Những nội dung của QĐ 1958 QĐ 1958 đưa ra ba quyết định của UBND tỉnh Cửu Long về số phận của tu viện và các tu sĩ sống trong tu viện này. Xin trích nguyên văn (kể cả chính tả cũng xin được giữ đúng bản văn và in nghiêng để độc giả dễ theo dõi): QUYẾT ĐỊNH - Điều 1: Nay quản lý toàn bộ cơ sở (bất động sản và động sản của cô nhi viện tại số 3 đường Tô Thị Huỳnh (Nguyễn Trường Tộ củ) thuộc Phường I Thị xã Vĩnh Long. - Điều 2: Tài sản trên đây được giao cho Ty tài Chánh, Ty Công an, Ty thương binh xã hội, Ủy ban Mặt trận tỉnh, Hội liên hiệp phụ nử tỉnh và Phòng quản lý nhà đất tỉnh Cửu Long quản lý với đầy đủ thủ tục kiểm kê. Việc phân phối cho sữ dụng sau nầy sẽ do Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định sau. - Điều 3: Tất cả những người hiện đang lưu trú tại cơ sở nêu trên được tạm thời di chuyển đến nơi khác hoặc tiếp tục phục vụ tai cơ sở nầy (nếu họ yêu cầu). 2. Những căn cứ của QĐ 1958 Rắp tâm thực hiện mưu đồ chiếm dụng tu viện Dòng Thánh Phaolô (qua ba quyết định nêu trên), UBND tỉnh cố tìm ra cái gọi là căn cứ pháp lý. Sau đây là năm căn cứ pháp lý được sử dụng. Xin trích nguyên văn (kể cả chính tả cũng xin được giữ đúng bản văn và in nghiêng để độc giả tiện theo dõi): - Xét vì cô nhi viện đường Nguyễn Trường Tộ là một cơ sở xã hội của 1 giòng tu ngoại quốc và xây cất nên do nguồn viện trợ của ngoại bang, là nơi đã từng đào tạo lớp trẻ bất hạnh trở thành lực lượng chống đối cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. - Xét vì các cơ sở hoạt động có tánh cách xã hội của các đoàn hội, tôn giáo, đều phải được sự thống nhất quản lý của Nhà nước. - Chiếu quyết định số 111/CP ngày 14-41977 của Hội đồng chánh phủ ban hành chánh sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất cho thuê ở các đô thị và các tỉnh phía Nam. - Căn cứ theo tiết 2 và 4 điều 117 của chánh sách quản lý và cải tạo đối với nhà đất của các đoàn, hội, tôn giáo. - Xét nhu cầu cho việc phục vụ lợi ích công cộng. II. TÍNH PHI PHÁP VÀ PHẠM PHÁP CỦA QĐ 1958 1. Tính phi pháp và phạm pháp của những căn cứ QĐ 1958: a/ Tính phi pháp và phạm pháp của căn cứ thứ nhất trong QĐ 1958: • Trong căn cứ thứ nhất QĐ 1958, UBND tỉnh Cửu Long cố tình cho rằng Tu viện của Dòng Thánh Phaolô tại số 3 Tô Thị Huỳnh là một cô nhi viện. Trong khi đây là một tu viện mà mọi người dân cư ngụ tại thị xã Vĩnh Long, trong hàng trăm năm qua, với rất nhiều thế hệ, đều chỉ biết đây là một tu viện của các soeur “dòng trắng Xanh Pôn” (tu phục trắng, đặc trưng của Dòng Thánh Phaolô). • QĐ 1958, với căn cứ thứ nhất, UBND tỉnh Cửu Long phóng đại, chụp mũ, quy kết một cách không ngượng miệng, thậm chí vô liêm sỉ và hết sức trơ trẽn, khi viết: (cơ sở số 3 Tô Thị Huỳnh) là nơi đã từng đào tạo lớp trẻ bất hạnh trở thành lực lượng chống đối cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Đến nay, thử hỏi toàn thể ban ngành đoàn thể tỉnh Vĩnh Long, liệu ai tìm được trong mọi kho tư liệu hay bất cứ tàng thư nào, để đưa ra được, dù một bằng chứng nhỏ, về tu viện Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long là nơi đào tạo lớp trẻ bất hạnh trở thành lực lượng chống đối cách mạng? Nếu không đưa được chứng cớ, thì căn cứ thứ nhất của QĐ 1958 phải được coi là một định nghĩa chính xác, đồng thời cũng là dẫn chứng mẫu mực về chữ vô liêm sỉ và chữ trơ trẽn, đến nỗi bất kỳ quyển tự điển nào cũng cần phải đưa căn cứ thứ nhất này vào, thành những mục từ đồng nghĩa với chữ “vô liêm sỉ” và chữ “trơ trẽn”. Điều đáng nói là về sau, trong các văn bản pháp lý, UBND tỉnh Vĩnh Long rồi Bộ Xây dựng lại đã sử dụng luận điệu trơ trẽn và vô liêm sỉ trên của UBND tỉnh Cửu Long, nhằm lái nội dung vào Luật đất đai 2003 để bác bỏ đơn khiếu nại của các nữ tu (x. bài 2). Về vấn đề này, Báo Công giáo và Dân tộc cũng đã từng mạnh mẽ phê phán QĐ 1958, dù đã rất kềm chế khi sử dụng ngôn ngữ phê phán. Vậy, cái gọi là căn cứ pháp lý của QĐ 1958 của UBND tỉnh Cửu Long, thực chất chỉ là luận điệu bóp méo sự thật và trò “ngậm máu phun người”, hòng chiếm nhà, cướp tài sản của các nữ tu thấp cổ bé miệng. b/ Tính phi pháp và phạm pháp của căn cứ thứ hai trong QĐ 1958: • Trong căn cứ thứ hai QĐ 1958, UBND tỉnh Cửu Long cố ý chống lại chủ trương của cấp trên, tức Trung ương Đảng và Chính phủ, khi cho rằng Tu viện của Dòng Thánh Phaolô tại số 3 Tô Thị Huỳnh là cơ sở hoạt động có tánh cách xã hội, vì thế phải được sự thống nhất quản lý của Nhà nước. Những người đứng đầu UBND tỉnh Cửu Long lúc đó đã không tuân thủ Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước VNDCCH, nền tảng cho mọi chủ trương, chính sách về tôn giáo, đã được đích thân Hồ Chủ tịch ban hành. Trong Sắc lệnh này, Chủ tịch nước ra lệnh: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo”. • Như vậy, trong căn cứ thứ hai, UBND tỉnh Cửu Long, khi quyết đưa tu viện Dòng Thánh Phaolô vào sự thống nhất quản lý của Nhà nước, đã tạo cho chính quyền cách mạng một bộ mặt “độc tài”, “phản dân chủ” không thể chối cãi. Do đó, UBND tỉnh Cửu Long không chỉ hành động phạm pháp (chống Sắc lệnh của Chủ tịch Nước VNDCCH Hồ Chí Minh), mà còn phản bội lý tưởng và các đồng chí cách mạng của mình (khi bôi nhọ khẩu hiệu “tự do dân chủ” của cách mạng). Vậy mà, sau này, UBND tỉnh Vĩnh Long và Bộ Xây dựng lại đi đúng vào vết xe “phản động” đó của UBND tỉnh Cửu Long. Không hiểu ông Thủ tướng đương nhiệm nghĩ gì và xử sự ra sao trước các hành vi phạm pháp của các thuộc cấp của mình ở Vĩnh Long và ở Bộ Xây dựng, khi đi vào vết xe “phạm pháp” và “phản động” của UBND tỉnh Cửu Long ngày trước? 2. Tính phi pháp và phạm pháp của những quyết định của UBND tỉnh Cửu Long trong QĐ 1958: a/ Tính phi pháp và phạm pháp của quyết định thứ nhất trong QĐ 1958: Khi quyết định “quản lý toàn bộ cơ sở (bất động sản và động sản)” đối với tu viện dòng Thánh Phaolô, UBND tỉnh Cửu Long đã phạm tội ăn cướp. Vì, nếu muốn tịch thu tài sản của một công dân thì phải có trong tay văn bản tuyên án của Tòa, vậy mà, những kẻ xông vào tu viện Dòng Thánh Phaolô vào ngày 7-9-1977 không hề có một mảnh giấy nào của pháp luật. Họ chỉ có súng. b/ Tính phi pháp và phạm pháp của quyết định thứ hai trong QĐ 1958: Quyết định thứ hai trong QĐ 1958 thực chất là thông báo mang tính nội bộ của tỉnh Vĩnh Long về việc ăn chia tài sản của Dòng Thánh Phaolô sau khi đã cướp đoạt được. Việc ăn chia này được san đều cho các ban ngành đoàn thể trong tỉnh Cửu Long. Ăn đồng chia đều những tài sản của người khác do chiếm đoạt phi pháp (rồi tự hợp thức hóa bằng QĐ 1958) mà có. Bằng quyết định thứ hai trong QĐ 1958, những người trong UBND tỉnh Cửu Long đã làm hoen ố hai chữ “cách mạng” vốn rất đẹp và cao quý. Họ đã thi hành đúng những gì mà nhà văn cách mạng Trung Quốc Lỗ Tấn từng nói về những kẻ làm cách mạng nửa vời. Cách mạng nửa vời là đem chữ “cách mạng” đổi thành “cách m… cái mạng của lũ chúng nó”, nghĩa là tàn bạo, nhẫn tâm (x. A.Q. chính truyện). c/ Tính phi pháp và phạm pháp của quyết định thứ ba trong QĐ 1958: Quyết định thứ ba trong QĐ 1958 là sự phản ánh rõ rệt khuôn mặt của UBND tỉnh Cửu Long hồi đó. Trục xuất các nữ tu ra khỏi tu viện, một hành động vi phạm nặng nề quyền của con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng. Chỉ có những đầu óc và trái tim không còn nhân tính mới có thể nghĩ ra và lạnh lùng thực hiện điều mà mọi đầu óc và trái tim bình thường không thể nào nghĩ ra và cũng chẳng thể nào đủ can đảm thực hiện. Điều đáng sợ ấy chính là đuổi một người ra khỏi nhà của họ, hơn nữa lại là trục xuất những phụ nữ, thậm tệ hơn cả là đuổi những tu sĩ ra khỏi chốn tu trì! Đã 31 năm trôi qua, kể từ cái ngày 7-9-1977 khủng khiếp ấy. Vậy mà giờ đây, khi đọc lại những tài liệu liên quan đến sự kiện xảy ra năm xưa, lại vẫn thấy như mới. Quả thật, sự kiện xưa vẫn còn như mới, bởi không ai có thể quên, không được phép quên. Vả lại, làm sao có thể quên được khi vào chính lúc này, tháng 5-2008, chính quyền tỉnh Vĩnh Long đang tái diễn tấn tuồng năm xưa, thời còn mồ ma UBND tỉnh Cửu Long. Tái diễn bằng sự ngoan cố và thách thức dư luận trong và ngoài nước, khi cho phép xây khách sạn tại một nơi tu hành mà họ đã có bằng sự chiếm đoạt. Mặc dù UBND tỉnh Vĩnh Long trước sức ép của dư luận đã phải đưa ra giải pháp ĐỔI ĐẤT. Đổi cho các nữ tu một miếng đất ở ngoại vi thị xã với một khoản tiền “hỗ trợ”. Tất nhiên các nữ tu không thể chấp nhận lời đề nghị này. Bởi lẽ, các nữ tu cần phải trở về mái nhà tu viện vốn là của mình. Hơn nữa việc trở về tu viện cũ còn mang ý nghĩa chứng minh cho sự thật: Tu viện dòng Thánh Phao lô số 3 Tô Thị Huỳnh không phải là nơi đào tạo những phần tử chống phá cách mạng, mà chỉ là nơi tu hành và làm việc thiện giúp đời. Còn nếu UBND tỉnh Vĩnh Long muốn phát triển ngành du lịch thì: Hãy xây khách sạn trên phần đất ngoại vi thị xã Vĩnh Long – nơi dự định hỗ trợ cho các nữ tu. Còn cơ sở số 3 Tô Thị Huỳnh thì trả về cho Dòng Thánh Phaolô. Làm được điều này, UBND tỉnh Vĩnh Long mới chúng tỏ cho mọi người thấy: Chính quyền Vĩnh Long là của dân, do dân, vì dân; đồng thời sẵn sàng để cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra./. Lý Hành Giả May 16 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG ĐÃ PHẠM PHÁP NHƯ THẾ NÀOVietCatholic News (Thứ Sáu 16/05/2008 12:05)
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG ĐÃ PHẠM PHÁP NHƯ THẾ NÀO
KHI BÁC ĐƠN KHIẾU NẠI CỦA CÁC NỮ TU DÒNG THÁNH PHAOLÔ (bài 2) Giữa lúc đang đọc tài liệu chuẩn bị cho bài viết này, được một bạn đọc ở Vĩnh Long gọi điện báo tin khẩn cấp: UBND TỈNH VĨNH LONG CHO PHÉP CÔNG TY DU LỊCH SÀI GÒN – VĨNH LONG KHỞI CÔNG XÂY DỰNG KHÁCH SẠN 4 SAO TẠI ĐẤT TU VIỆN DÒNG THÁNH PHAOLÔ VÀO NGÀY 19-05-2008 SẮP TỚI!!! Như vậy càng rõ ràng minh chứng cho mọi người thấy sự thật về cách hành xử của UBND tỉnh Vĩnh Long trong việc giải quyết khiếu nại của các nữ tu dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long suốt 6 năm qua. Một cách hành xử vừa phi pháp lại vừa phi nhân, hơn nữa, lại còn chà đạp người dân thấp cổ bé miệng. Cách hành xử của UBND tỉnh Vĩnh Long hoàn toàn đi ngược với những khẩu hiệu vốn được treo đầy đường: CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN. Mọi người chỉ cần lấy sự việc Tu viện Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long bị UBND tỉnh Vĩnh Long chiếm, rồi cho Cty cổ phần Du lịch Sài Gòn – Vĩnh Long xây làm khách sạn, thì đủ hiểu sự mỉa mai của khẩu hiệu vốn được không ít cán bộ thuộc lòng. Khẩu hiệu CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN. Khi dân đòi lại của cải tài sản bị chiếm dụng, lãnh đạo tỉnh bảo: CỦA NHÀ NƯỚC. Khi dân yêu cầu làm rõ vì sao lại xây khách sạn trên đất tu viện, lãnh đạo tỉnh trả lời: DO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG. Khi dân thắc mắc cơ sở tu hành có mặt tại Vĩnh Long hàng thế kỷ nay, sao lại phải nhường chỗ cho việc kinh doanh kiếm lời, lãnh đạo tỉnh đáp: VÌ SỰ NGHIỆP LÀM GIÀU CHO… TỈNH NHÀ! Những chữ CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN vốn rất tốt đẹp, thì đang bị những người trong các cơ quan quyền lực của nhà nước, như UBND tỉnh Vĩnh Long, làm cho biến nghĩa, trở nên rỗng tuếch, mang tính hô khẩu hiệu, không còn đúng thực chất, hoặc đang mang nét nghĩa mới, đầy tính tiêu cực: sự làm giàu của một số kẻ đặc quyền đặc lợi. Những từ ngữ sáo rỗng, thường xuyên xuất hiện trong các diễn văn, luôn luôn có mặt trong mọi huấn từ, chỉ thị của lãnh đạo với tần số rất cao, nghe đến nhàm tai nhân dân như phát triển, sự nghiệp, làm giàu, vì lợi ích của nhân dân, chăm lo cho đời sống nhân dân… Trong khi đó, nhân dân dài cổ chờ đợi những quyết định cụ thể, thực tế, hữu hiệu, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của con người, thể hiện tinh thần trọng sự thật, kính lẽ phải, chuộng đạo, mộ đức… thì chờ mòn mỏi suốt gần 40 năm qua cũng vẫn chưa thấy. Thực ra, nói cho công bằng, thảng hoặc cũng thấy đây đó vài gương sáng về đạo đức của kẻ làm đầu. Nhưng cái số người ít ỏi ấy lại chỉ làm cho lòng thêm đau về tính cách phi mực thước của những nguòi lẽ ra phải rất mẫu mực. Mẫu mực tuân thủ pháp luật, mẫu mực trọng kính nhân dân, mẫu mực làm đầy tớ nhân dân. Những gì đang diễn ra trong những ngày này ở Vĩnh Long, khi mà Cty cổ phần Du lịch Sài Gòn – Vĩnh Long đang hí hửng chuẩn bị cho việc khởi công xây tòa nhà KS bốn sao, thì mọi người chỉ còn biết lắc đầu, ngán ngẩm vì UBND tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ thái độ thản nhiên, lạnh lùng, thờ ơ, dửng dưng trước sự thật tưởng chừng không thể chối bỏ, vậy mà đã bị UBND tỉnh Vĩnh Long phủ nhận một cách dễ dàng: ĐỊA CHỈ SỐ 3 TÔ THỊ HUỲNH LÀ CƠ SỞ CỦA TU VIỆN DÒNG THÁNH PHAOLÔ. Sự thật đơn giản ấy đã bị UBND tỉnh Vĩnh Long cố tình bẻ cong, xuyên tạc trong những văn bản mệnh danh pháp lý nhưng thực sự chỉ là những hành vi phạm pháp, khi dàn dựng một kịch bản vụng về nhằm chiếm đọat một tu viện, rồi biến nó thành một khách sạn với mục đích kiếm chác. Phạm pháp ngay trong những văn bản mang tính pháp lý! Sự thật trớ trêu này đã tồn tại ở Vĩnh Long trong 31 năm qua, kể từ cái ngày lực lượng an ninh võ trang xông vào một nhà tu nữ (x. bài của Người Lục Tỉnh). Đồng thời với tính chất phạm pháp, UBND tỉnh Vĩnh Long còn bộc lộ dấu hiệu vi phạm nhân quyền. Vi phạm nhân quyền ngay trong những văn bản trả lời về quyền lợi hợp pháp của nhân dân! UBND tỉnh Vĩnh Long đã vi phạm pháp luật như thế nào khi ban hành Quyết định 1761? I. NỘI DUNG CHÍNH CỦA QUYẾT ĐỊNH 1761 Ngày 26 tháng 7 năm 2005, UBND tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số 1761 mang tiêu đề (trích nguyên văn): QUYẾT ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Ánh, ngụ số 14, đường Hùng Vương, phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Đây là quyết định cấp tỉnh, giải quyết đơn khiếu nại của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long do nữ tu Nguyễn Thị Ánh (tỉnh dòng Mỹ Tho) đứng tên, yêu cầu tỉnh Vĩnh Long trả lại tu viện cho các nữ tu ở số 3 đường Tô Thị Huỳnh (thị xã Vĩnh Long). Trả lời các nữ tu, UBND tỉnh Vĩnh Long ra quyết định 1761. Quyết định 1761 của UBND tỉnh Vĩnh Long dài ba trang A4 nhưng chỉ có một nội dung chính (trích nguyên văn): “Không thừa nhận việc bà Nguyễn Thị Ánh, ngụ số 14, đường Hùng Vương, phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đại diện nữ tu khiếu nại đòi lại cơ sở tại số 3, đường Tô Thị Huỳnh, phường 1, thị xã Vĩnh Long (Khoa nhi bệnh viện đa khoa cũ) do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng theo chính sách từ năm 1975 đến nay”. II. TÍNH PHẠM PHÁP CỦA QUYẾT ĐỊNH 1761 1. PHẠM PHÁP về những căn cứ a/ Những căn cứ được UBND tỉnh Vĩnh Long nêu ra: QĐ 1761 của UBND tỉnh Vĩnh Long dựa trên những căn cứ pháp lý sau: - Luật khiếu nại – tố cáo 1998 và Bản sửa đổi 2004. - Luật đất đai 2003. - Tờ trình của Chánh Thanh tra Tỉnh ngày 29-3-2005. b/ Sự phạm pháp của UBND tỉnh Vĩnh Long khi sử dụng căn cứ pháp lý: - UBND tỉnh Vĩnh Long đã cố tình xuyên tạc, chà đạp và chống lại luật pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam khi vận dụng Luật đất đai 2003. Luật đất đai 2003 được UBND tỉnh Vĩnh Long viện dẫn, tại khoản 2, điều 10 quy định (dẫn theo QĐ 1761): “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách của Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam”. Rõ ràng UBND tỉnh Vĩnh Long đã ngang nhiên chống luật, vì: • Tu viện dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long không thuộc diện “đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác sử dụng” chiếu theo Luật đất đai 2003 đã trích dẫn. • Các nữ tu có quyền đòi lại cơ sở tu viện bị UBND tỉnh Cửu Long (cũ) chiếm đoạt, mặc dù họ cũng đồng thời có quyền kiện UBND tỉnh Cửu Long (cũ) ra tòa về hành vi phạm pháp này, nhưng lại chỉ sử dụng quyền công dân ở mức độ khiếu nại. Như vậy việc UBND tỉnh Vĩnh Long bác bỏ quyền của công dân được đòi lại tài sản bị chiếm đoạt phải bị kể là hành vi phạm pháp, hơn nữa còn phạm pháp ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng, vì đây là hành vi của những người được nhân dân trao nhiệm vụ bảo đảm cho luật pháp được thực hiện (x. Luật tổ chức hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003). - UBND tỉnh Vĩnh Long đã thông đồng, tạo sức ép, ngăn cản việc thực hiện chức năng thanh tra của Cơ quan Thanh tra nhà nước Tỉnh, bằng cách chỉ đạo cho Thanh tra kết luận theo hướng có lợi cho UBND tỉnh Vĩnh Long. Trong QĐ 1761, nội dung kết luận của Thanh tra, được UBND tỉnh Vĩnh Long viện dẫn, rõ ràng là được viết ra theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Xin trích dẫn nguyên văn “nội dung kết luận của Thanh tra” để rộng đường dư luận: “Nguồn gốc cơ sở tại số 03, Tô Thị Huỳnh, phường 1, thị xã Vinh Long trước năm 1975 là Cô nhi viện, do Dòng Thánh Phaolô quản lý, nơi nuôi dạy trẻ mồ côi. Đến sau giải phóng 30/4/1975, thực hiện quy định tại mục I, mục II, Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất cho thuê ở các đô thị và các tỉnh phía Nam, ngày 06/9/1977, UBND tỉnh Cửu long đã ban hành Quyết định số 1958 với nội dung: quản lý toàn bộ cơ sở (bất động sản và động sản) của Cô nhi viện tại số 3, đường Tô Thị Huỳnh, thị xã Vĩnh Long và sử dụng làm khoa Nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh”. Đọc kết luận được trích trên đây của Cơ quan Thanh tra, ai cũng thấy rõ sự phạm pháp của UBND tỉnh Vĩnh Long: • UBND tỉnh Vĩnh Long đã chỉ đạo cho Cơ quan thanh tra viết kết luận theo ý mình. • Như vậy Cơ quan Thanh tra không hề có động thái tác nghiệp, vì chỉ cần một thanh tra viên tập sự cũng có thể dễ dàng xác minh cơ sở số 3 Tô Thị Huỳnh không phải là cô nhi viện mà chính là một tu viện có hoạt động từ thiện nuôi trẻ mồ côi (có thể thấy rõ đặc điểm của một tu viện ngay trong biên bản được Công an tỉnh lập, khi khám xét nhà dòng năm 1977: có phòng làm việc của tu sĩ, có phòng ngủ của tu sĩ, có Nhà nguyện – đọc kinh, có bàn thờ, đồ lễ… Những vật dụng đặc trưng của một tu viện mà không thể tìm thấy ở bất kỳ cô nhi viện nào). • Ngăn cản hoạt động độc lập của Thanh tra Nhà nước, UBND tỉnh Vĩnh Long phạm tội cản trở người thi hành công vụ. • Gợi ý cho Thanh tra viết kết luận có lợi cho mình, UBND tỉnh Vĩnh Long phạm vào tội “lôi kéo người khác cùng phạm tội”. • Chỉ đạo cho Thanh tra viết kết luận có lợi cho UBND tỉnh Cửu Long (cũ) nhằm biện bạch cho hành vi và quyết định sai trái của Ủy ban này, UBND tỉnh Vĩnh Long đã phạm vào tội “cố tình che giấu tội phạm”. 2. TÍNH PHẠM PHÁP CỦA CHỦ THỂ VĂN BẢN trong lúc thi hành nhiệm vụ soạn thảo văn bản pháp lý UBND tỉnh Vĩnh Long là chủ thể của văn bản pháp lý Quyết định 1761. Là chủ thể của một văn bản pháp lý, UBND tỉnh Vĩnh Long phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung của văn bản. Những phân tích trên đây cho thấy Quyết định 1761 đã được soạn thảo trong tình trạng phạm tội của chủ thể - được viết ra nhằm che đậy tội lỗi, lấp liếm những sai phạm. Hơn nữa, qua những nội dung xuyên tạc sự thật, cố tình bóp méo thực tế, dàn dựng kịch bản để chuẩn bị cho một hành động trái pháp luật tiếp theo (xây dựng khách sạn), bôi nhọ danh dự của công dân là các nữ tu, chủ thể văn bản là UBND tỉnh Vĩnh Long không thể trốn tránh trách nhiệm phải trả lời trước pháp luật về việc đã không chu toàn bổn phận của người cán bộ nhà nước. mà chỉ chăm chăm đàn áp nhân dân và lừa dối cấp trên. Ngoài ra, UBND tỉnh Vĩnh Long không thể không trả lời trước nhân dân vốn là người chủ thực sự của mình, còn mình chỉ là đầy tớ, công bộc, vậy mà trong ngần ấy năm, hết thế hệ Ủy ban này đến thế hệ Ủy ban khác, chỉ một con đường xa rời quần chúng, thoát ly hiện thực đời sống nhân dân, làm ngơ trước sự thật. Tóm lại, việc soạn thảo QĐ 1761 là một hành vi phạm pháp của UBND tỉnh Vĩnh Long. Hành vi phạm pháp này lại nhận được sự tán thưởng của Bộ Xây dựng. Phạm pháp được tiếp nối bằng phi pháp. Phạm pháp chồng lên phạm pháp. Ngày 19-5-2008 sắp tới UBND tỉnh Vĩnh Long bật đèn xanh cho Công ty cổ phần Du lịch Sài Gòn – Vĩnh Long khởi công xây dựng khách sạn 4 sao tại đất tu viện Dòng Thánh Phaolô. Quả thật kẻ phạm pháp lại tiếp tục bất chấp và thách thức dư luận. Lý Hành Giả
VietCatholic News (Thứ Sáu 16/05/2008 12:00)
TÂM SỰ CỦA TRƯỜNG MẪU GIÁO MĂNG NON 32 BIS NGUYỄN THỊ DIỆU – 1
Thưa Quý vị, tôi đến từ thế giới bên kia, tên tôi là Măng Non, tên chính thức theo chứng minh nhân dân nhà nước cấp, nhưng tôi vẫn thích cái tên “Jardin d’enfant” có nghĩa là Vườn Trẻ, vốn là tên Mẹ tôi đặt khi tôi vừa sinh ra. Tôi sống ở số 32bis Trương Minh Ký, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, nay là 32bis Nguyễn Thị Diệu. Tôi sinh năm 1958 và qua đời năm 1997, như nạn nhân của một vụ thanh toán có tính toán trước sau. Tôi hãnh diện về cái tên “Jardin d’enfant”, không phải vì tiếng Tây, nhưng vì Mẹ tôi là bà đầm thương trẻ em Việt. Mà nó đâu có gì “quý tộc”, chỉ là vườn cho trẻ em chơi thôi mà, đâu có đẹp như tên của các ngôi sao, như tên các trường to lớn, đạt tiêu chuẩn Quốc gia. Bởi tôi sinh ra và lớn lên trong một làng nghèo, chỗ của người dân lao động nên Mẹ tôi đặt cho tôi cái tên “cúng cơm” này cho phù hợp với số phận các trẻ nhỏ đến với tôi. Vâng, trẻ em nhà nghèo thì gần gũi với nơi có thể tung tăng chạy nhảy hơn là một Trường có cổng khang trang, có chỗ cho xe hơi ra vào. “Vườn trẻ”, nơi trẻ đến chơi mà học, học mà chơi. Đọc đến đây chắc quý vị cho là tôi xuyên tạc sự thật. Xin thưa, không sai tí nào, quý vị có thể kiểm chứng thông tin này qua những vị cao tuổi trước đây sống ở Quận 3 vào những năm 1975. Tôi tâm niệm: mình sinh ra, sống là để cống hiến cho các mầm non của đất nước, đặc biệt của các trẻ em nghèo, xấu số. Thời gian, sức khỏe, khả năng của tôi là thuộc về các em. Tôi không có quyền hoang phí cơ hội và khả năng mà Mẹ tôi ban tặng cho tôi. Có thể nói, tuổi thơ và thời thanh thiếu niên là quãng thời gian đẹp nhất trong đời tôi. Đẹp không phải vì tôi có nhiều hoài bão và mộng mơ, nhưng vì đã sống gắn bó, cưu mang, che chở cho biết bao mảnh đời bất hạnh, nghèo khổ. Sáng sáng, tôi hân hoan chào đón các trẻ em đến với tôi. Dù em đen đủi, quần áo lem luốc, tôi luôn mở rộng vòng tay. Những ngày đầu đến trường, các em không ngần ngại hòa tấu cho tôi nghe tiếng gào thét, chen lẫn tiếng khóc rên rỉ, thút thít gần xa. Các bàn tay nhỏ xíu, có khi còn vướng thức ăn hay bụi bặm, cứ thế thản nhiên mân mê lấy mình tôi. Rồi cả những giọt nước mắt nóng hổi cũng rơi rớt trên bàn chân tôi. Những lúc ấy tôi thầm cầu mong cho ngày mau hết để bọn chúng gặp lại mẹ cha. Thời gian trôi qua, trẻ nhỏ trở thành một phần không thể thiếu trong đời tôi. Ngày ngày, tôi nghe tiếng em hát, em cười. Tôi say sưa nhìn em múa, em nắn đất sét với đủ loại trái cây. Thú thật, có lần tôi không thể hiểu được em đang vẽ quả gì, nắn quả gì. Giống như quả cam. Nhưng màu tím, giống trái ớt nhưng lại màu nâu. Mù tịt ! Phải nghiêng đầu hỏi nhỏ vào tai em, khi ấy tôi mới thấy mình thật ngớ ngẫn. Trẻ em có lý lẽ riêng của nó. Tất cả là hồn nhiên và không thể xóa nhòa trong ký ức tôi, dầu hơn 40 năm trôi qua. Mỗi kỳ hè là thời gian buồn bã nhất trong đời tôi. Đối với phụ huynh, 2 tuần, một tháng là quá xá. Họ không thể canh các chú em lâu hơn. Nghịch ngợm và chạy nhảy ! Nhưng với tôi, nó là cả thế kỷ. Các Nữ tu biết thế, nên không bỏ tôi một mình. Kỳ hè là lúc họ may đồ mới cho tôi, gắn lên áo tôi những bông hoa mới. Cắt lại mái tóc cho tôi. Chưa hết họ an ủi tôi rằng, phải có thời gian để trẻ chơi đùa, gắn bó với các anh em, cha mẹ. Rằng tôi cũng phải nghỉ ngơi, thư giản và bổ sức để tiếp tục sứ mạng cao quý của mình. Thấm thoát biết bao năm đã trôi qua, tôi chứng kiến biết bao trẻ đã đến trong bộ mặt bánh bao chiều và ra trường trong bộ đồ xúng xính cử nhân bé xíu với khuôn mặt rạng rỡ. Thú thật tôi không thể cầm lòng mỗi lần tiễn các em đi. Dẫu biết rằng, em ra đi thì có lợi cho em và cũng có lợi cho tôi. Nhờ thế, tôi mới là nơi nương tựa và lớn lên trong của hàng trăm em, hàng ngàn em nhỏ. Em lớn lên không chỉ về tri thức, nhưng cả về tâm hồn. Em sẽ ghi khắc trong lòng hình ảnh các “người thầy” với chiếc khăn trắng che đầu. Khắc vào mãnh giấy trắng tâm hồn mình gương sáng về tình yêu, sự hy sinh quãng đại, lòng vị tha mà em đã “nuốt lấy” trong những năm đầu đời. Thế mà, có ai đó đã bảo rằng “tôi vô dụng và nguy hiểm” nếu tiếp tục nằm trong tay các ma soeur. Phải tẩy sạch bộ não của nó. Còn không thì giết nó đi ! Ôi, những ngày đen tối sắp đến. Tôi hồi hộp, lo âu chờ tin dữ… Măng Non May 13 Tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị xử phạt, hành hungTín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị xử phạt, hành hungViệt Hùng, phóng viên đài RFA 2008-05-12Liên tiếp trong tháng 4 năm 2008 các tín đồ Tin Lành thuộc Hội thánh Phúc Âm toàn vẹn Việt Nam tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã gặp khó khăn với các cấp chính quyền trong việc nhóm họp thờ phượng Chúa. Thậm chí có những lời cáo buộc từ Hội thánh Phúc Âm Toàn vẹn Việt Nam về việc các tín đồ bị đánh. Nghe audio ở đây. Mục sư quản nhiệm Nguyễn Trung Tôn thuật lại trong câu chuyện với Việt Hùng của Ban Việt ngữ như sau: Trong văn bản chính quyền Xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính tín đồ Tin Lành Lê Thị Sang dựa trên hành vi “ cầu nguyện, đọc kinh thánh ( Đạo Tin lành) “. Bản sao do MS Nguyễn Trung Tôn cung cấp. Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Chúng tôi sinh hoạt ở Hội thánh Phúc Âm Toàn vẹn Việt Nam sự việc xảy ra thì nhiều lắm. Nhưng nói riêng tại Hội thánh tại Quảng Yên là Hội thánh do tôi trực tiếp quản nhiệm đã xảy ra vụ việc vào ngày 20-4 Trưởng công an xã là ông Lê Quang Kỳ cùng với nhiều công an khác đến ngăn cản buổi nhóm cầu nguyện của chúng tôi. Hôm đó họ bắt 15 người cùng gia đình chúng tôi đến Uỷ ban Nhân dân xã. Tại đây họ đưa ra những lời lẽ thô bạo, ép buộc chửi mắng tín đồ. Họ bắt tất cả các tín đồ và gia đình tôi lên Nhà Văn hóa của xã Quảng Yên, và tại đây họ đã đánh đập các tín đồ. Hôm đó họ đánh cháu Nguyễn Xuân Thiệu và anh Nguyễn Xuân Thành và những người khác nữa. Và tại đây họ ra quyết định bằng miệng ông Lê Quang Kỳ phạt mỗi tín đồ 100 ngàn đồng VN, chỉ là quyết định miệng vậy thôi chứ không có văn bản giấy tờ gì. Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Trên thực tế thì không cần phải thắc mắc nữa vì trên thực tế căn cứ theo Biên bản vi phạm hành chánh do ông Lê Quang Kỳ đã ban hành và ký, lý do chính quyền đưa ra là đọc Kinh Thánh, cầu nguyện sinh hoạt đạo Tin Lành. Chính quyền ra những quyết định như vật thì không có gì phải thắc mắc nữa là Việt Nam các cấp chính quyền địa phương vẫn tiếp tục bắt bớ và ngăn chặn cấm các tín đồ không được sinh hoạt đạo Tin Lành là rõ ràng cụ thể có chữ ký và con dấu chính quyền đóng mà. Sáng ngày 28-4 sau khi tôi gửi đơn đi các nơi trình bày về việc xảy ra ngày hôm trước thì chiều ngày 28-4 thì anh Đàm Văn Hà, công an phụ trách thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên đến nhà tôi dùng đất đá ném vào nhà tôi, khi mẹ tôi ra hỏi anh ấy lý do tại sao ném đất đá vào nhà tôi thì anh ta đã xông thẳng vào buồng của tôi để đánh tôi, tôi đã dùng video camera để quay lại những hình ảnh đó thì anh ta còn định lao vào định cướp máy của tôi. May 12 Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin Stalinist để trở về với Dân chủ Xã hội có phản bội Marx không?Phong Uyên
Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin Stalinist để trở về với Dân chủ Xã hội có phản bội Marx không?
Từ hơn nửa thế kỷ nay chủ nghĩa Marx-Lenin đã trở thành quốc giáo, được khẳng định trong Hiến pháp và hiện đang chiếm mười lăm phần trăm thời trình bắt buộc của mỗi sinh viên đại học. Thời trung cổ, môn Thần học Công giáo bị bắt buộc phải được giảng dậy ở Đại học Sorbonne cho sinh viên toàn cõi châu Âu cũng không chiếm một thời lượng lớn như vậy.
Trừ các vị tiến sĩ trong Ban Tuyên giáo Trung ương, ai cũng biết rằng vào năm 1924, Stalin đã tự bầy đặt ra chủ nghĩa Marx-Lenin này để củng cố quyền thế của mình. Thật ra, ngay cả cái mà hiện nay đang được gọi là “chủ nghĩa Marx” (Marxisme) cũng không phải do chính Marx đề xướng từ nguyên thuỷ; về điều này Marx đã từng nói “tôi không phải là người Marxist.” Chỉ có một học thuyết được Marx và Engels trình bầy trong bản Tuyên ngôn Cộng sản và trong cuốn Tư bản luận. (Trong bài viết này, những tư tưởng của Marx và Engels trong hai trước tác đó sẽ được tạm gọi là ‘học thuyết Marx-Engels’.) Học thuyết này được Engels hoàn chỉnh thành một chủ nghĩa gọi là Dân chủ Xã hội vào năm 1889, sáu năm sau khi Marx mất. La Thành, trong bài viết mới đây “Cuộc hẹn mới của dân chủ?”, có đề nghị đối lập dân chủ nên chọn Dân chủ Xã hội làm mô hình để thúc đẩy phong trào dân chủ tiến triển và đi đến sự đồng thuận. Tôi xin bổ sung thêm là mô hình này cũng có khả năng thuyết phục các nhà lãnh đạo có tư tưởng tiến bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi hoàn toàn có thể chứng minh được rằng nó không phản bội Marx. Đây không phải là việc khó: chỉ cần ôn lại những diễn tiến trong việc triển khai học thuyết Marx-Engels từ khi có bản Tuyên ngôn Cộng sản năm 1848 cho tới khi Engels mất (1895). Trước hết tôi thấy cần phải nhắc lại là trong thân thế và sự nghiệp của Marx và Engels có nhiều mối liên quan mật thiết giải thích sự thành hình sau này của chủ nghĩa Dân chủ Xã hội:
Triết học Marx: Từ thời cổ Hi Lạp cho tới ngày nay, trong triết học vẫn có hai xu hướng: xu hướng “duy vật” (matérialisme) với Democrite, Epicure, và xu hướng “duy tâm” (idéalisme) theo Platon. Trung thành với những ý tưởng đã được bảo vệ trong luận án của mình, Marx tiếp tục truyền thống triết học duy vật, nhưng cái độc đáo của Marx là đã gắn triết học duy vật với biện chứng pháp của Hegel. Có điều là phép biện chứng Hegel chỉ là biến thể của phép biện chứng “duy tâm” Platon. Để khắc phục mâu thuẫn “duy vật” / “duy tâm”, Marx đưa ra khái niệm “duy vật lịch sử”, hàm nghĩa là những hiện tượng lịch sử tuy không phải là vật chất nhưng phát sinh từ vật chất. Tóm lại, triết lý của Marx về lịch sử là lý thuyết duy vật [về một đối tượng] phi vật chất. Cũng như mọi triết gia từ thượng cổ tới nay như Aristote, Platon, Descartes, Spinoza, Kant, Hegel, Sartre v.v... Marx sẽ có chỗ đứng đời đời trong triết học. Comte-Sponville, một nhà triết học duy vật Pháp, khi tranh luận với nhà khoa học Jean Staune đã nói: “Một lí thuyết khoa học có thể chỉ mấy chục năm là đã lỗi thời và bị quên lãng; một lí thuyết triết học vẫn luôn luôn có giá trị vì không ai có thể phản bác được.” Kinh tế học Chính trị của Marx: Căn bản tư tưởng kinh tế chính trị của Marx nằm trong hai tác phẩm nổi tiếng là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Tư bản luận. Những khám phá mới đây cho thấy trong hai tác phẩm này khó mà phân biệt được phần nào là của Marx, phần nào là của Engels. Năm 1847, Marx thảo một bản pamphlet (một thể văn đả kích), trong đó Marx lặp lại gần như toàn diện những nguyên lý cộng sản chủ nghĩa của Engels. Engels góp ý với Marx là phải trình bầy làm sao cho dễ hiểu và phải tìm một nhan đề thật kêu để lôi cuốn. Bài “đả kích” (pamphlet) được biến thành một “tuyên ngôn” (manifeste): Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tiếng Anh The Manifesto of the Communist Party, tiếng Đức Manifest der Kommunistischen Partei). Thật ra thời đó chưa có đảng cộng sản nào mà chỉ có “Liên đoàn Những người Cộng sản” (Ligue des Communistes), mà tên đầu tiên là “Liên đoàn Những người Công chính” (Ligue des Justes). Ngay cả câu “Vô sản mọi xứ trên toàn cầu hãy hợp nhất lại!” cũng là theo ý của Engels, chứ mới đầu Marx chỉ muốn đưa ra châm ngôn “Mọi người đều là anh em!” Có lẽ Marx đã chịu ảnh hưởng của phương châm “Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ” từ hồi Cách mạng Pháp. Bắt đầu từ 1865, Marx đã bỏ rất nhiều công sức viết cuốn Tư bản luận. Nhưng chỉ có tập đầu xuất bản năm 1875 (và được dịch từ đây ra tiếng Pháp) là có sự kiểm tra của Marx. Tập II và tập III được biên soạn bởi Engels: tập II xuất bản năm 1885, tập III năm 1894. Tập IV do Karl Kautsky biên tập và xuất bản năm 1905–1910. Tuy nhiên, mới đây người ta đã công bố các tập sau của bộ Tư bản luận mà David Ryazanov (một học giả Mác-xít theo Bôn-sê-vích đã bị Stalin xử bắn năm 1938) dịch từ bản thảo viết tay của Marx: có rất nhiều khác biệt khi so sánh với các tập Tư bản luận mà Engels biên soạn, thậm chí nhiều đoạn đã bị thay đổi. Điều này khiến ta có thể đặt câu hỏi trong bộ Tư bản luận mà ta biết hiện giờ phần nào thật sự do Marx viết, phần nào do Engels tu bổ, đổi nghĩa? Cũng cần nói thêm là bộ Tư bản luận xuất bản ở Liên Xô từ thời Stalin, và có lẽ bây giờ vẫn còn được diễn giảng ở Việt Nam qua bản dịch của Nhà xuất bản “Tiến bộ” Moskva, sau này được Nhà xuất bản “Sự Thật” (nay là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) nối bản, chỉ là một version đã bị chỉnh lý lại theo ý Stalin. Qua những phát hiện trên, ta có thể kết luận rằng phần triết học trong tư tưởng Marx là hoàn toàn của Marx. Nhưng những khái niệm về kinh tế chính trị là tài sản chung của hai người – Marx và Engels. Sau khi Marx mất, lí thuyết Kinh tế Chính trị đã được Engels sử dụng như một công cụ đấu tranh, và khi chủ xướng Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (l’Internationale Socialiste), hay còn gọi là Đệ nhị Quốc tế, Engels đã biến nó thành Chủ nghĩa Dân chủ Xã hội (Social-Démocratie, Social Democracy) để đấu tranh với chủ nghĩa tư bản. Đệ nhị Quốc tế có mục đích hợp nhất mọi tổ chức như các công đoàn, các Đảng Xã hội mỗi nước để kiến tạo một lực lượng quốc tế mỗi ngày một lớn mạnh có đủ sức mạnh đương đầu, đấu tranh trực diện với giới chủ tư bản siêu quốc gia. Các công đoàn có nhiệm vụ đấu tranh kinh tế, chống áp bức bóc lột, giành quyền lợi kinh tế cho giới cần lao. Các Đảng Xã hội (les parties socialistes, socialist parties) có nhiệm vụ đấu tranh chính trị, đòi công bằng xã hội và các quyền tự do dân chủ. Đến một lúc nào đó, cuộc đấu tranh trên hai mặt trận (kinh tế và chính trị) này đòi hỏi các Đảng Xã hội phải thay đổi tôn chỉ, trở thành các đảng Dân chủ Xã hội, có tư cách các phân bộ của một tổ chức duy nhất là Đệ nhị Quốc tế, tỷ như Đảng Xã hội Pháp còn mang tên là SFIO (‘Phân bộ Pháp của Công nhân Quốc tế’), hay như – cho tới năm 1919 – Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga (PSDOR, cánh Bôn-sê-vích) do Lenin thủ lãnh vẫn là một phân bộ của Đệ nhị Quốc tế. Năm 1919, Lenin đổi tên Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga (cánh Bôn-sê-vích) thành Đảng Cộng sản (Bôn-sê-vích) Toàn Nga, đồng thời thành lập Quốc tế Cộng sản (hay Đệ tam Quốc tế) gồm những người thuộc phái Bôn-sê-vích và những người đã li khai các đảng Dân chủ - Xã Hội các nước. Tuy nhiên, đến năm 1921, sau một cuộc nội chiến kéo dài ba năm và nền kinh tế kiệt quệ, Lenin đã quay trở lại một hình thức kinh tế tư bản giới hạn bằng “Chính sách Kinh tế Mới” (NEP) mà nếu phân tích kỹ, có thể coi nó như một biểu hiện của Chủ nghĩa Dân chủ - Xã hội. Cũng cần nhắc lại là trước khi mất, Lenin đã để lại di chúc nói rõ Stalin là con người tàn bạo, cần phải kiếm người khác thay thế. Năm 1924, sau khi thâu tóm được quyền bính, Stalin đã mượn danh Marx ghép với tên Lenin để đặt tên cho chủ nghĩa của mình. Cái gọi là “chủ nghĩa Marx-Lenin” chính là và chỉ là chủ nghĩa Stalin. Chính những người Mác-xít theo Lenin khi trước đã chống lại cái chủ nghĩa giả hiệu này vì thấy rõ đó chỉ là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước tập trung mọi quyền hành trong tay một nhóm người. Tất nhiên là những người chống đối kia đều bị thanh trừng. Tất cả những gì Lenin đã làm đều lần lần bị Stalin dẹp bỏ: Stalin gọi ‘Komintern’ (cách gọi tắt của Quốc tế Cộng sản) là một “cửa tiệm”, biến Komintern thành một thiết chế chỉ có nhiệm vụ kiểm soát và thanh trừng các lãnh tụ cộng sản nước ngoài bị nghi ngờ là không phục tùng mình. Cái “cửa tiệm” này cũng bị dẹp luôn năm 1943. Chính sách NEP của Lenin bị chính thức bãi bỏ từ năm 1928. Chế độ bao cấp phát phiếu được tái lập. Các chế độ cộng sản ở Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam đều chỉ là những biến thái của chế độ Stalin; cho tới ngày nay những chế độ này vẫn luôn luôn hãnh diện là đang ngoan cường kiên trì theo chủ nghĩa Marx-Lenin tức chủ nghĩa Stalin. Các nền Dân chủ - Xã hội ở các nước Tây Âu là thừa kế chính thống Marx-Engels Nói là “thừa kế chính thống”, vì chính Engels đã sáng lập ra các đảng Dân chủ - Xã hội. Có thể coi cương lĩnh của Chủ nghĩa Dân chủ - Xã hội là bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Cách mạng Pháp năm 1879. “Nhân quyền” này phải được hiểu theo nghĩa rộng là nhu cầu căn bản về vật chất và tinh thần của mỗi con người phải được bảo đảm. Chính Engels, trước khi mất năm 1895, trong “Lời tựa” lần tái bản cuốn Đấu tranh giai cấp ở Pháp của Marx, sau khi phân tích những hình thức đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân từ 1848 đến 1871 đã nhấn mạnh là cần phải thay đổi cách đấu tranh vì thời đại đã thay đổi: các tập đoàn tư bản, các công đoàn và các đảng công nhân đều phát triển ngang tầm nhau, không thể tiếp tục đấu tranh một mất một còn được. Từ đó các đảng Dân chủ Xã hội đã lần lần từ bỏ chủ trương đấu tranh bạo động để đi theo con đường tranh đấu ôn hoà từng bước một: Về mặt xã hội, tập hợp công nhân trong những tổ chức, những công đoàn có đủ sức mạnh bắt buộc giới chủ nhân phải chấp thuận những yêu cầu lương bổng, điều kiện làm việc của mỗi người công nhân và những cải thiện đó phải được bảo đảm bởi những công ước tập thể. Về mặt chính trị, các đảng Dân chủ - Xã hội chấp nhận thể chế đại nghị, cử đại diện của mình thông qua bầu cử, kể cả ở những cấp bậc thấp nhất. Và nếu giành được đa số trong quốc hội thì sẽ trực tiếp nắm quyền chính trị. Còn nếu không thì cũng sẽ làm áp lực để cải tổ các cơ chế xã hội, chính sách đóng góp chi thu, chính sách thu thuế theo lũy tiến để phân phối lại lợi tức một cách công bằng hơn, thông qua các hình thức trợ cấp, giảm thuế, miễn chi phí cho những tầng lớp cần lao. Nhờ vậy mà chênh lệch giầu nghèo trong các chế độ Dân chủ - Xã hội không quá lớn, mặc dầu thể chế không hề bãi bỏ tự do kinh doanh. Trong những chế độ này, vai trò của Nhà nước – làm trọng tài xã hội, giám sát thị trường kinh tế, truy thu và phân phối lợi tức qua thuế má – cũng rất quan trọng. Sau Hội nghị Bad Godesberg năm 1959, Đảng Dân chủ - Xã hội Đức (SPD) đã thông qua Cương lĩnh Godesberg nổi tiếng, chính thức từ bỏ tư tưởng kinh tế chính trị Mác-xít đã quá lỗi thời. [3] Đa số các đảng Dân chủ - Xã hội Âu Tây cũng đã theo gương, cắt đứt lần lần mọi ràng buộc với tư tưởng kinh tế thuần Marx. Vả lại xã hội cũng trở thành phức tạp với nhiều thành phần, nhiều lobbies chống đối nhau chứ không phải chỉ có hai giai cấp như hồi tiền tư bản và chủ nghĩa tư bản giai đoạn đầu. Vì vậy các đảng Dân chủ - Xã hội lần lần trở thành đảng trọng tài của mọi tầng lớp nhân dân chứ không phải chỉ là đảng của giai cấp thợ thuyền. Có thể nói bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX, ý tưởng Dân chủ - Xã hội là động cơ của những cải cách ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, cũng như ở Nhật Bản và Úc... Các thể chế Dân chủ - Xã hội này cũng chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết Keynes, dành cho nhà nước quyền can thiệp tạm thời về kinh tế để điều chỉnh những cực đoan thái quá trong kinh tế thị trường tự do. Nếu các vị tiến sĩ trong Ban Tuyên giáo Trung ương chịu khó đọc lại Marx, Engels, Keynes..., vứt bỏ được những gì các vị đã học thuộc lòng về “chủ nghĩa Marx-Lenin” của Stalin qua những “kinh điển” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, thì các vị có thể trở về với học thuyết Marx-Engels chính thống để, không những không phản bội Marx, mà còn mang lại phúc đức cho đất nước Việt Nam. Đi theo con đường Dân chủ - Xã hội, tên Đảng sẽ là Đảng Dân chủ - Xã hội Việt Nam, làm thoả vong linh Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ đã bị Lê Duẩn bức tử khi trước. Đảng Dân chủ - Xã hội Việt Nam sẽ hoàn toàn có cơ hội gia nhập Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (l’Internationale Socialiste) – liên minh toàn thế giới của các đảng Dân chủ Xã hội – để có thêm sự hậu thuẫn vô giá của phong trào Dân chủ Xã hội quốc tế, thoát khỏi nỗi tủi nhục từ bao lâu nay bị coi là một phân bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. [4] Đây cũng là một cơ hội để có thể lấy lại tên nước: chỉ cần thay từ “Chủ nghĩa” trong quốc hiệu hiện nay bằng từ “Dân chủ”, tên nước sẽ là Cộng hoà Dân chủ Xã hội Việt Nam, đồng thời là sự “hoà giải” tên nước hợp pháp trước đây của miền Nam (Việt Nam Cộng hoà) với tên nước ban đầu của Hồ Chí Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). © 2008 talawas [1]Rhénanie (tiếng Pháp), Rhineland (tiếng Anh) hay Rheinland (tiếng Đức) là tên gọi chung của phần lãnh thổ phía Tây nước Đức ngày nay nằm ở hai bên bờ sông Rhine (t. Đức Rhein). Đây là vùng đất có lịch sử địa hành chính và địa chính trị khá phức tạp. Trước thế kỷ XIX, các lãnh địa nằm trong vùng này chịu ít nhiều ảnh hưởng của Pháp. Sau khi đế chế của Napoléon tan rã (1815), các lãnh địa nói tiếng Đức trong vùng này được sáp nhập vào Vương quốc Phổ. Các thành phố Trier (quê hương của K. Marx) và Barmen (quê hương của F. Engels) đều nằm trong vùng này. (Các chú thích đều của talawas.) [2]Có vẻ như Engels chưa bao giờ kết hôn. Ông lần lượt yêu và chung sống với hai chị em nhà Burns, người Ireland, là Mary (chết năm 1863) và Lydia (hay Lizzy, 1827–1878). Sau khi chuyển từ Manchester (nơi có công xưởng của cha mình) đến sống ở London (từ 1870 cho đến lúc chết, 1895), Engels thường nói về Lizzy Burns như là vợ ông. [3]Hội nghị Bad Godesberg (Bad Godesberg Convention): Một hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng Dân chủ - Xã hội Đức (tiếng Đức Sozialdemokratische Partei Deutschlands – SPD) nhóm họp vào tháng Mười Một năm 1959 tại Bad Godesberg, một quận của thành phố Bonn, khi đó đang là thủ đô của Cộng hoà Liên bang Đức trong điều kiện nước Đức đang bị chia cắt. Trong hội nghị lịch sử này, các đại biểu của SPD đã thông qua Cương lĩnh Godesberg (tiếng Đức Godesberger Programm), vào ngày 15.11.1959, thẳng thừng từ bỏ toàn bộ các nguyên lý Marxist đã từng là ý thức hệ của đảng này. Trong quá trình tái thống nhất nước Đức, SPD đã sáp nhập với Đảng Dân chủ - Xã hội tái lập của Đông Đức, đồng thời thay thế Cương lĩnh Godesberg bằng Cương lĩnh Berlin, thông qua ngày 20.12.1989 tại một đại hội của đảng. [4]Có thể lưu ý thêm tác giả Phong Uyên và độc giả talawas rằng ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay cũng đang “thám hiểm” con đường Dân chủ - Xã hội như một lộ trình tới tương lai của Trung Quốc. Hãy tham khảo bài báo “Lộ trình Hồ Cẩm Đào tới tương lai của Trung Quốc”, đã đăng trên talawas, của Giáo sư Khoa học Chính trị Đại học Nottingham Trịnh Vĩnh Niên. May 09 Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008Điểm nhấn: “Tất cả các thành viên của Liên Hiệp Quốc phải tôn trọng tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Việt Nam, nước nay là thành viên của Hội đồng Bảo an, cần phải nêu ví dụ trong lĩnh vực này nhưng không phải ví dụ về những nước tệ nhất”. (Elaine Pearson, Human Rights Watch. Nguồn : BBC) “It is a travesty that Vietnam has been allowed to host a major international Buddhist celebration while its state policy is political control of every religious organization –Vietnam continues to systematically imprison and persecute independent Buddhists as well as followers of other religions,” said Elaine Pearson, deputy Asia director at Human Rights Watch. “All members of the United Nations must respect freedom of religious belief and worship. Vietnam, now a member of the Security Council, should be exemplary – not among the worst – in this regard.” (Elaine Pearson, Human Rights Watch)
Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008 Ngày Nhân quyền cho Việt Nam lần thứ 14 vừa được cử hành trọng thể hôm qua tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ với sự tham dự đông đảo của những nhà lập pháp Mỹ và đại diện các cộng đồng Việt Nam cùng những tổ chức vận động cho các quyền tự do cơ bản của người dân tại Việt Nam. Sau đây là tường thuật của Phái viên Lê Dân . Ngày Nhân quyền cho Việt Nam phát xuất từ Nghị quyết của Quốc hội Hoa Kỳ và được nguyên Tổng thống Bill Clinton ký thành sắc luật mang số 103- 258 vào ngày 25 tháng Năm năm 1994. Sắc luật quy định rằng ngày 11 tháng Năm năm 1994 được đặt làm “Ngày Nhân quyền cho Việt Nam” nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực của Phong trào Bất bạo động đấu tranh cho Nhân quyền tại Việt Nam. Tổng thống Hoa Kỳ cho phép và yêu cầu ra tuyên cáo kêu gọi dân chúng Mỹ hàng năm tổ chức kỷ niệm với những hoạt động thích hợp. Năm nay, lễ kỷ niệm lần thứ 14 được tổ chức được sự bảo trợ của rất đông các nhà lập pháp Hoa Kỳ như các thượng nghị sĩ Sam Brownback và Barbara Boxer, các dân biểu Tom Davis, Zoe Lofgren, Jim Moran, Chris Smith, Ed Royce, Loretta Sanchez... Ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ AFL-CIO, Hàn lâm viện Khoa học Mỹ, Viện Hỗ trợ Dân chủ Hoa Kỳ… cùng một số các tổ chức của những nước láng giềng với Việt Nam như Sáng hội Nghiên cứu Lao Cải Trung Quốc, Liên đoàn Miến Điện, Phong trào Dân chủ Lào Lansang, Hội Phật giáo Cambodia… và các cộng đồng, hội đoàn người Việt ở khắp nước Mỹ và trên thế giới. Những năm trước, về phía Việt Nam vẫn có sự tham dự đông đảo của các nhân vật và tổ chức nặng lòng với đồng bào trong nước như Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản, Ủy ban Bảo vệ Nhân quyền Việt Nam....Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân cho hay năm nay lễ kỷ niệm có một số mặt được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân nói: “Lễ kỷ niệm lần thứ 14 Ngày Nhân quyền năm nay có một số điểm đặc biệt. Đó là lần thứ nhất các anh em trẻ đứng ra nhận lãnh trách nhiệm tổ chức, nên chúng tôi trở thành những người ủng hộ và dứng ra yểm trợ cho các em trẻ thôi. Cái thứ hai là lần đầu tiên bộ Ngoại giao có cử đại diện chính thức của họ đến phát biểu ý kiến và ngồi vào thuyết trình đoàn trong cuộc hội thảo buổi chiều về vấn đề dân chủ và nhân quyền tại Á châu. Thứ ba, là cũng lần đầu tiên có những phái đoàn Tây Tạng, Pháp luân công, Miến Điện, phái đoàn Trung Hoa, phái đoàn Lào đến tham dự. Trưởng ban Tổ chức lễ kỷ niệm năm nay là một người trẻ, bác sĩ Nguyễn Thể Bình. Bác sĩ Bình nói: “Hôm nay là ngày mùng 8 tháng Năm, tổ chức lần thứ 14 Ngày Nhân quyền cho Việt Nam. Đây là một ngày rất quan trọng, được nước Mỹ công nhận, được Tổng thống Clinton công nhận vào năm 1994. Tới nay, hàng năm chúng ta đều tổ chức ngày lễ này rất long trọng. Đặc biệt năm nay có các anh em trẻ đứng ra tổ chức và được sự ủng hộ rất nồng nhiệt của các cộng đồng Việt Nam.” Bên lề buổi lễ, trả lời phỏng vấn của báo chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua và các triển vọng cho năm tới, dân biểu Chris Smith khẳng định là nhà cầm quyền Việt Nam không thể cứ tiếp tục các hành động vi phạm quyền con người mà không phải chịu hậu quả gì. Dân biểu Chris Smith nói “Những người bị Hà Nội giam cầm, kết án vừa qua, chỉ là những người yêu chuộng dân chủ và muốn bảo vệ nhân quyền. Điểm được chú ý nhiều nhất tại lễ kỷ niệm Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008 là sự tham dự của nhiều người trẻ. Một phụ nữ đến từ Canada là bác sĩ Kim Ngọc. Bác sĩ Kim Ngọc nói: “Tôi tên là Ngô thị Kim Ngọc, là bác sĩ tại Toronto. Hôm nay tôi và gia đình đến góp phần cho Ngày Nhân quyền cho Việt Nam. Tôi mới tốt nghiệp năm 2007. Phái viên Lê Dân: “Cô còn rất trẻ, lý do nào thúc đẩy cô đến với Ngày Nhân quyền cho Việt Nam ?” Bác sĩ Kim Ngoc nói: “Lý do thúc đẩy là vì tôi rất được may mắn sinh ra tại Canada. Từ bé tới lớn, lúc nào tôi cũng có tự do, nhân quyền. Những vấn đề đó đối với tôi từ bé không cần phải suy nghĩ đến. Sau này lớn lên mới biết được là ở bên Việt Nam có rất nhiều người từ ngày sinh đã không có được nhân quyền, tự do. Suy nghĩ như thế nào, từ vấn đề nhỏ, cho tới vấn đề lớn, vẫn phải cẩn thận, không được ăn nói tự do, nên tôi cảm thấy cái đó rất là không công bằng.” Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, chủ tịch Ủy ban Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản đã phát biểu về triển vọng của nhân quyền, tức các quyền tự do cơ bản của con người, và những nỗ lực đấu tranh đòi dân chủ, tự do trong nước, Bác sĩ Quân nói: “Phó Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương trong chuyến đến thăm bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã khẳng định, thứ nhất là chính phủ Mỹ không chấp nhận dân chủ từ ngoài đưa vào, dĩ nhiên chắc chắn là không có chuyện đó. Thứ hai là họ cũng không chấp nhận dân chủ từ trên đưa xuống, có nghĩa là dân chủ giả tạo do chính quyền dựng ra. Họ nói là tất cả mọi sự đòi hỏi phải xuất phát từ dân chúng.” VOA May 06 Hành động phi pháp của Chính quyền CSVN với các Cơ sở của Dòng thánh Phaolô Vĩnh LongVietCatholic News (Thứ Ba 06/05/2008 11:36)
Bài 1: BÁC ĐƠN KHIẾU NẠI CỦA CÁC NỮ TU DÒNG THÁNH PHAOLÔ (VĨNH LONG),
BỘ XÂY DỰNG NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM ĐÃ HÀNH ĐỘNG MỘT CÁCH PHI PHÁP! Đọc bài của tác giả Người Lục Tỉnh với nhan đề “Ở ngay trung tâm thị xã Vĩnh Long, tu viện dòng thánh Phaolô bị biến thành khách sạn” , nhiều người đã không quản công tìm hiểu con đường gian nan, gập ghềnh của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long (NTDTPVL) từ khi cầm lá đơn khiếu nại, kiên trì gõ mọi cánh cửa công quyền, ròng rã suốt 6 năm trời, cho đến ngày… thất bại, vì chỉ nhận được, một cách cay đắng, mảnh giấy của Bộ Xây dựng của nước CHXHCN Việt Nam mang số 88 phán rằng, đại ý, từ nay đừng kiện cáo gì nữa! Không ai không cảm phục lòng kiên trì, thái độ thiện chí, ước nguyện thiết tha được sống trong tinh thần tôn trọng và tin tưởng sự công minh của pháp luật nơi các NTDTPVL. Chính vì thế, lại càng thấy rõ các cấp chính quyền, từ địa phương đến trung ương, từ thị xã Vĩnh Long, rồi tỉnh Vĩnh Long, đến tận cấp Bộ ở Trung Ương, tất cả đều cùng một cách đối xử hà khắc, trịch thượng đối với dân, cùng một não trạng chuyên chế, cùng một kiểu cầm quyền phi-pháp-quyền, cùng một hành vi coi thường pháp luật, cùng một thái độ bất chấp những quy định rõ rệt trên giấy trắng mực đen của những văn bản pháp quy. Đó là cảm nhận khái quát của người viết bài này, sau khi đã đọc những văn bản của chính quyền bác bỏ đơn khiếu nại của các NTDTPVL đăng trên nhiều số báo Công giáo và Dân tộc từ 2005 đến 2007. Tưởng cũng nên nhắc lại, tờ CG&DT vốn là cơ quan ngôn luận hợp pháp và chính thức của Ủy ban Đoàn kết Công Giáo TPHCM. Vậy mà, ngay cả một cơ quan ngôn luận như CG&DT, vốn chịu sự kiểm soát của nhiều tầng quyền lực ngành tuyên huấn (Đảng), văn hóa – thông tin (Chính quyền), cũng không thể không bất bình và đã chính thức lên tiếng về tính không hợp lệ những cơ sở pháp lý được viện dẫn, tính vô lý của những giải thích, tính khiên cưỡng của những quyết định. Cuối cùng, tờ CG&DT, với sự dè dặt thường lệ của mọi cơ quan ngôn luận hợp pháp, cũng đã phải thốt lên lời ta thán, mặc dù đã hết sức… kềm chế, rằng: các NTDTPVL rất không “tâm phục khẩu phục” những nội dung trả lời và mọi quyết định bác đơn khiếu nại (x. các bài viết của hai nhà báo Nguyễn Thanh Long và Khổng Thành Ngọc). Cho nên, mặc dù rất tôn trọng sự hiền hòa của những nhà tu hành, rất ngưỡng mộ tính chịu đựng của các phụ nữ, nhưng người viết không thể lặng im kiên trì chờ giây phút nhà cầm quyền ăn năn trở lại, thành tâm thống hối, dốc lòng sửa chữa những sai lầm, đấm ngực ăn năn mọi tội vô tình hay cố ý, xin nhân dân tha lỗi trong vụ CƯỚP ĐẤT TU VIỆN XÂY KHÁCH SẠN. Người viết tin chắc, các nữ tu là những người vốn không muốn gây sự lôi thôi với nhà đương cục, kẻo lỡ ra “chẳng phải đầu cũng phải tai” (thành ngữ dân gian), nhưng vì thấy rõ cần lên tiếng mạnh mẽ hơn nữa, để cho cái thói “cả vú lấp miệng em” (thành ngữ dân gian) của kẻ có quyền có chức, phải bị vạch trần trước mặt bàn dân thiên hạ, nên Lý Hành Giả tôi xin được hầu chuyện cùng quý độc giả về tính chất PHI PHÁP và PHẠM PHÁP trong việc “thu hồi” đất tu viện sử dụng vào mục đích kinh doanh khách sạn cũng như trong các văn thư bác bỏ đơn khiếu nại của các NTDTPVL. Vì thế xin được làm rộng đường dư luận bằng ba bài viết nhỏ: - Bài 1: Tính PHI PHÁP của Quyết định số 88 của Bộ Xây dựng (ban hành ngày 18-01-2007) đối với đơn khiếu nại của đại diện nữ tu Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long. - Bài 2: Tính PHẠM PHÁP của Quyết định số 1761 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long (ngày 26-07-2005) đối với đơn khiếu nại của đại diện nữ tu Dòng Thánh Phaolô Vĩnh Long. - Bài 3: Tính PHI PHÁP VÀ PHẠM PHÁP của Quyết định số 1958 của UBND tỉnh Cửu Long (ngày 6-09-1977) nhằm hợp thức hóa việc chiếm đóng tu viện, xóa sổ một nơi tu hành. *** Nội dung chính của Quyết định số 88 của Bộ Xây dựng Bộ Xây dựng, qua QĐ 88 về việc giải quyết khiếu nại của các NTDTPVL, đã đưa ra 2 quyết định chủ yếu: 1. Công nhận QĐ 1761 của UBND tỉnh Vĩnh Long (nghĩa là: không xét đơn khiếu nại của các nữ tu). 2. Khẳng định QĐ 88 là “quyết định cuối cùng” (nghĩa là: từ nay sẽ không bao giờ nhận và giải quyết bất kỳ đơn do các NTDTPVL gửi đến khiếu nại về cơ sở tu viện tại số 3 Tô Thị Huỳnh nữa). Tính phi pháp của Quyết định số 88 của Bộ Xây dựng 1. PHI PHÁP về những căn cứ: QĐ 88 của Bộ Xây dựng được Thứ trưởng Tống Văn Nga ký thay Bộ trưởng, dựa trên 2 loại căn cứ. Căn cứ pháp lý và căn cứ hồ sơ. a/ Căn cứ pháp lý Gồm: Luật Tổ chức Chính phủ của Quốc hội; Luật Khiếu nại, tố cáo của Quốc hội; Nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ… của Bộ Xây dựng. Đặc biệt đã dựa vào Nghị quyết số 23 ( năm 2003) của Quốc hội (về nhà đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 1- 07 - 1991) và Nghị định 26 (năm 1999) của Chính phủ (quy định các hoạt động tôn giáo). b/ Căn cứ hồ sơ, gồm: - Quyết định 1958 của UBND tỉnh Cửu Long năm 1977 về việc quản lý toàn bộ cơ sở nhà đất số 3 Tô Thị Huỳnh, tức tu viện dòng Thánh Phaolô, bố trí sử dụng làm khoa Nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh (Bài 3 sẽ nói rõ về tính phi pháp và phạm pháp của QĐ này). - Việc chuyển khoa Nhi cùng bệnh viện Đa khoa đến một địa điểm khác và quy hoạch lại diện tích đất trước đây bố trí cho khoa Nhi cùng bệnh viện Đa khoa thành Trung tâm Thương mại – Dịch vụ du lịch (không nêu Quyết định của UBND tỉnh hoặc HĐND tỉnh). - Đơn khiếu nại của đại diện nữ tu Dòng Thánh Phaolô. c/ Nhận định: QĐ 88 của Bộ Xây dựng là một quyết định phi pháp về mặt căn cứ pháp lý: - QĐ 88 cố tình hiểu sai, thậm chí đi đến xuyên tạc Nghị quyết số 23 ( năm 2003) của Quốc hội. Tinh thần của Nghị quyết số 23 ( năm 2003) của Quốc hội hướng đến việc quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất. Tu viện của Dòng Thánh Phaolô không phải là đối tượng mà Nghị quyết số 23 ( năm 2003) của Quốc hội nhằm đến. Một tu viện của tôn giáo không bao giờ là đối tượng của chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa. Như vậy, nếu liệt tu viện Dòng thánh Phaolô Vĩnh Long vào đối tượng cần phải đưa vào diện cải tạo xã hội chủ nghĩa, thì Bộ Xây dựng đã cố tình vi phạm và xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước nhất quán trong mấy chục năm qua. - QĐ 88 cố tình hiểu sai, thậm chí đi đến xuyên tạc Nghị định 26 (năm 1999) của Chính phủ. Tinh thần của Nghị định 26 (năm 1999) của Chính phủ, cũng như mọi nghị định, nghị quyết khác về tôn giáo, luôn cam kết tôn trọng tự do tín ngưỡng và bảo đảm cho việc hành đạo của các chức sắc, tu sĩ tôn giáo được an toàn trong mọi cơ sở thờ tự và tu hành. Vậy mà Bộ Xây dựng lại đi thừa nhận hành vi xâm phạm nơi tu hành của các tu sĩ, lại là nữ tu sĩ, của chính quyền tỉnh Cửu long vào năm 1977. - QĐ 88 cố tình bênh vực hành vi sai trái của UBND tỉnh Cửu Long khi ủng hộ Quyết định số 1958 của UBND tỉnh Cửu Long. Quyết định số 1958 của UBND tỉnh Cửu Long vốn được ban hành nhằm hợp thức hóa hành vi xâm phạm chủ quyền hàng trăm năm của các nữ tu đối với tu viện tọa lạc tại số 3 đường Nguyễn Trường Tộ. Quyết định này là sản phẩm phi pháp của một giai đoạn lịch sử mà việc điều hành đời sống dân sự của chính quyền vốn diễn ra trong điều kiện và bối cảnh phi-pháp-quyền, hoặc nói rõ hơn, mọi hoạt động chính quyền chỉ chủ yếu nhằm quyền lực hóa ý chí, đây chính là điểm mà Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI và VII đã thẳng thắn thừa nhận và quyết tâm sửa sai để đổi mới (xem các Văn kiện Đại hội Đảng). Vậy mà, Bộ Xây dựng của Nước CHXHCN Việt Nam lại trở về bảo vệ bằng được cái quyết định rất sai trái của cái gọi là chính quyền tỉnh Cửu Long. Không hiểu phẩm chất Đảng viên của những người lãnh đạo Bộ Xây dựng còn hay đã mất, khi không biểu hiện tinh thần dân chủ pháp quyền trong việc giải quyết đơn khiếu nại của nhân dân. 2. PHI PHÁP về tư cách chủ thể văn bản pháp lý: Khi ban hành QĐ 88, Bộ Xây dựng viện dẫn Nghị định của Chính phủ về chức năng và quyền hạn của Bộ. Xin trích một đoạn dựa vào thông tin tại website của Bộ (www.xaydung.gov.vn): “Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: xây dựng; kiến trúc, quy hoạch xây dựng; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; phát triển đô thị; nhà ở và công sở; kinh doanh bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Bộ Xây dựng không có quyền tài phán về chủ quyền cơ sở tu viện. Không có chức năng tài phán lại ngang nhiên phán rằng Quyết định của tỉnh Cửu Long rồi tỉnh Vĩnh Long là đúng đắn rồi bác đơn khiếu nại của các nữ tu. Hành vi này của Bộ Xây dựng đang làm rối loạn hệ thống và trật tự của các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương khi ra QĐ 88. Do đó có thể nói rằng Bộ Xây dựng không có tư cách là chủ thể văn bản hành chánh-pháp lý liên quan đến tài phán về chủ quyền sở hữu tu viện. Những hành vi phi pháp của Bộ Xây dựng cần phải bị xử lý Như trên vừa phân tích QĐ 88 hoàn toàn phi pháp. Do đó đề nghị Chính phủ, Thủ tướng không thể không có biện pháp xử lý tất cả những cán bộ liên quan đến việc soạn thảo, ký kết, ban hành, áp dụng QĐ 88. Lập tức hủy bỏ QĐ 88. Có thể dựa vào chứng cứ phạm pháp của Bộ Xây dựng để đưa ra xem xét tại Tòa án Hành chánh, hoặc nếu có dấu hiệu câu kết ăn chia giữa UBND tỉnh Vĩnh Long – Bộ Xây dựng – Công ty cổ phần Du lịch Sài Gòn – Vĩnh Long, thì nhất thiết phải tiến hành điều tra hình sự. Đồng thời, Thủ tướng không thể không lắng nghe những đề nghị chính đáng của các nữ tu dòng Thánh Phaolô, những người đã chịu tiếng oan suốt mấy chục năm qua. Có như vậy, lòng tin của nhân dân vào Nhà nước pháp quyền, vốn đã rất mong manh, thì nhờ vậy mới hy vọng được củng cố. Lý Hành Giả ![]() May 04 Ðại Cương về Thông Ðiệp Fides et Ratio của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô IIĐiểm nhấn :
"Nhà nước, theo quan niệm lành mạnh, cũng là một chủ thể, trên nguyên tắc giống như công dân và cũng phải chịu sự chi phối của pháp luật và các chuẩn mực ứng xử khác, chứ không thể đứng trên pháp luật và các chuẩn mực đó. Nhà nước cũng chỉ có năng lực sở hữu tài sản do pháp luật qui định, không thể tùy tiện, thoải mái muốn lấy của ai thì lấy, dù là nhân danh lợi ích công." (TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN , khoa luật ĐH Cần Thơ). Nguồn : Tuổi Trẻ
VietCatholic News (Chúa Nhật 04/05/2008 12:13)
Ðại Cương về Thông Ðiệp Fides et Ratio của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Gần đây Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh nhiều về vai trò của đức tin và lý trí trong những bài nói chuyện của Ngài. Để giúp các bạn trẻ có một cái nhìn tương đối đầy đủ về sự liên quan giữa đức tin và lý trí, chúng tôi mạn phép dịch bài tóm tắt Thông Điệp “Fides et Ratio - Đức Tin và Lý Trí” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của GS. Phillip B. Liescheski để chia sẻ với các các bạn. Tại sao Ðức Thánh Cha [Gioan Phaolô II] lại viết một thông điệp về đức tin và lý trí? Có phải vì đức tin và lý trí đối nghịch với nhau? Có phải vì chúng ta đang sống trong thời kỳ mất đức tin không? Nhưng tại sao ngài lại gồm cả lý trí? Ðức tin và lý trí có liên hệ gì với nhau? Ðức tin có cần lý trí không và ngược lại lý trí có cần đức tin không? Có phải lý trí bị lâm nguy trong thời đại khoa học kỹ thuật không? Đức Thánh Cha nói đến những vấn đề này và nhiều vấn đề khác trong Thông Ðiệp Đức Tin và Lý Trí. Ít ra đối với phần đông Kitô hữu (kể cả anh em Tin Lành), chúng ta có một căn bản chung là Thánh Kinh. Thực sự là có những sự bất đồng trong việc giải thích và quy điển Thánh Kinh giữa Công Giáo và Tin Lành, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng. Thánh Kinh có thể dùng làn nền tảng cho những cuộc đối thoại trí thức giữa Công Giáo và Tin Lành. Nhưng đối với những người vô thần và vô tri, thì nền tảng chung trở nên mờ ảo hơn. Vì họ phủ nhận sự hiện hữu hay vai trò quan trọng của Thiên Chúa, nên Lời Ngài càng không đáng tin cậy đối với họ. Chỉ có thể còn một nền tảng chung là lý trí. Như Thánh Phêrô viết: "Anh em hãy luôn sẵn sàng giải thích cho bất cứ ai hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng của anh em, nhưng hãy làm điều đó với sự khoan dung và kính cẩn" (1 Phr 3:15-16). Tiếc rằng một số người vô thần có thể cũng vô lý và giáo điều như một số Kitô hữu. Chúng ta nên nhớ, như Thông Ðiệp này đã nhận ra, rằng: "Nếu con người với trí thông minh không nhận ra Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo mọi sự, không phải vì họ thiếu phương tiện, nhưng vì ý chí tự do và tội lỗi của họ cản đường" (Fides et ratio 19). Tôi không phải một triết gia chuyên nghiệp, nên theo một nghĩa nào đó, tôi không đủ khả năng nói bài này. Nhưng theo một nghĩa khác, triết học ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, nên chúng ta cần nhận chân được chiều hướng hiện tại của nó. Triết lý là nền tảng của các hệ thống chính trị, Mácxít chẳng hạn. Tất cả chúng ta là những tư tưởng gia đang cố công thu thập kiến thức. Tin đồn đương nhiên là một thí dụ xấu của nhu cầu này.Tất cả chúng ta đều muốn biết sự thật. Có người muốn đánh lừa người khác, nhưng rất ít người muốn bị đánh lừa. Thông điệp này nói về những vấn đề có ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Hy vọng rằng có một giây phút nào đó chúng ta suy tư về mục đích của đời mình. Phải chăng chúng ta chỉ là một quái vật ngẫu nhiên sinh ra trong vũ trụ cần một mục đích, hay là chúng ta được dựng nên với một mục đích? Thông Ðiệp này mở đầu bằng những câu hỏi như "Tôi là ai? Tôi từ đâu đến và tôi đang đi về đâu? Tại sao có sự dữ? Sau cuộc đời này còn có gì?" Những câu trả lời (hay không có câu trả lời) cho những vấn nạn căn bản này về ý nghĩa cuộc đời "quyết định hướng đi mà con người tìm kiếm cho đời sống mình" (Ibid.). Mặc dù sống trong thời đại khoa học, chúng ta vẫn có thể còn rất nhiều phi lý. Chúng ta nghe nói nhà trường đã thất bại trong việc giáo dục thế hệ tương lai như thế nào. Cũng như vì truyền hình, truyền thanh, báo chí tuyên bố rằng họ có những câu trả lời, nên chúng ta không cần phải suy nghĩ. Chúng ta đơn thuần chấp nhận những xu hướng phổ thông mà không thắc mắc gì cả. Theo thiển ý của tôi, khoa học và kỹ thuật đã làm cho chúng ta trở thành những người suy nghĩ cụ thể. Chúng ta càng ngày càng quan tâm đến thế giới vật chất và nhận thức giác quan của chúng ta về nó. Thuế má và thuốc ngừa bệnh có thể giải quyết những vấn nạn xã hội. Ðã lâu rồi, khi học đại số trừu tượng, tôi đã than với vị giáo sư là tôi không thấy thoải mái về đề tài này. Trong lớp tôi học được, nhưng tôi cảm thấy bị lạc, hay ít ra, tôi nghĩ là mình thiếu một điều gì quan trọng. Câu trả lời của vị giáo sư là: "Ờ, nó trừu tượng mà!" Khi đó tôi mới nhận ra rằng mình cũng là một người suy nghĩ cụ thể. Dù chúng ta cho rằng mình đang sống trong "thời đại của lý trí", vậy mà lý trí tân thời vẫn có những trở ngại lớn lao. Trở ngại đầu tiên mà Đức Thánh Cha đề cập đến là "Hoài Nghi". Vì chỉ suy nghĩ cách cụ thể nên chúng ta rất dễ bỏ qua những tư tưởng trừu tượng. Theo thuyết Hoài Nghi thì chỉ có những kiến thức thu lượm được do quan sát những gì là vật chất là quan trọng. Chúng ta chỉ biết nhờ ngũ quan. Những kiến thức liên quan đến những tư tưởng trừu tượng, như tình yêu, thẩm mỹ và Thiên Chúa là những ý nghĩ ngu xuẩn hay kỳ quặc. Những quan niệm trừu tượng như tự do và công lý cũng bị xuyên tạc hoặc phải đi đôi với những gì cụ thể. Thuyết Hoài Nghi cho rằng lý trí chỉ giới hạn bởi những gì giác quan cảm nhận. Tư tưởng nào vượt ra ngoài những gì là vật chất đều không quan trọng. Trở ngại thứ nhì với lý trí tân thời là sự tự trị và độc lập giả tạo. Sự tự trị giả tạo này của lý trí gọi là "Chủ Nghĩa Duy Lý". Chủ Nghĩa Duy Lý cho rằng kiến thức của con người không cần đến đức tin. Tất cả mọi kiến thức mà chúng ta cần đều có thể tự kiểm chứng được bằng giác quan và kinh nghiệm cá nhân của mình. Chúng ta không cần phải tin gì cả vì chúng ta có thể tự chứng minh được. Lý trí thay thế đức tin. Tiếc rằng sự tự tin này thiếu thành thật. Vì bị giới hạn bởi thời gian và tài nguyên, ngay cả các khoa học gia cũng phải nhìn nhận một ít ý thức về đức tin, có thể đó không phải là siêu nhiên. Theo Thông Ðiệp này, "con người - người tìm chân lý - cũng là người sống theo đức tin" (Fides et ratio, 31). Bây giờ đối với tất cả nhân loại, có hai cách để biết: đức tin và lý trý. Ðức tin là biết qua sự tin tưởng. Lý trí là biết qua suy nghĩ, quan sát hay kinh nghiệm cá nhân. Chúng ta cần cả hai cách để biết. Sự hiểu biết nhờ lý trí mà thôi thì quá giới hạn. Cả hai cần phải cùng nhau phát triển. Thí dụ, tôi chưa bao giờ đến Paris. (Tôi hầu như đến đó, nhưng chuyến bay của tôi bị quay trở lại). Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp về thành phố này. Lúc này trong đời tôi, tôi chỉ tin rằng thành phố này có thật. Tôi phải tin rằng có Paris qua niềm tin; tuy nhiên, niềm tin tự nhiên này không phải là một "bước mù quáng". Tôi có đủ lý do để tin rằng Paris thật sự là một thành phố. Có một điểm hội tụ của các chứng cớ: tôi nghe bạn bè đã ở đó nói về thành phố ấy. Tôi đọc nhiều sách, báo cáo và các bài báo liên quan đến Paris. Có thể bạn tôi nói dối, và các bài báo có thể sai, nhưng vẫn khó mà chấp nhận rằng tất cả đều sai. Các khoa học gia phải lệ thuộc vào niềm tin tự nhiên. Họ phải tin tưởng nhau. Mỗi khoa học gia không có thì giờ và tài nguyên để tự mình kiểm chứng tất cả mọi thí nghiệm và đo lường. Họ phải tin vào những bài viết về khoa học. Vậy niềm tin là kiến thức được nuôi dưỡng bằng sự liên hệ cá nhân, và chúng ta cần có niềm tin. Trong khoa học niềm tin này được nuôi dưỡng bằng "cộng đồng khoa học". Niềm tin này không phải là một "bước mù quáng" nhưng được hỗ trợ bằng lý trí. Những bài viết trên các sách báo khoa học được duyệt xét cẩn thận bởi các khoa học gia khác. Nếu một khoa học gia nào có bằng chứng là thiếu lương thiện, thì niềm tin này bị tan vỡ, và công việc của người đó bị mất tín nhiệm. Người đó phải giải nghệ. Vậy đức tin cũng thúc đẩy chúng ta theo đuổi lý trí. Theo Thông Ðiệp này, "Chính đức tin hướng dẫn lý trí vượt qua mọi cô lập và sẵn sàng mạo hiểm để nó có thể đạt được những gì là chân, thiện, mỹ. Ðức tin như thế trở nên biện hộ vững chắc và hợp lý cho lý trí" (Fides et ratio, 56). Tất cả khoa học vật lý trên căn bản cho rằng chúng ta có thể tìm hiểu được vũ trụ vật chất. Vũ trụ tự nó đáng được nghiên cứu và không đơn giản để khám phá. (Khoa học nghiên cứu về vũ trụ để biết vũ trụ là gì, trong khi kỹ thuật và kỹ sư nghiên cứu vũ trụ để chế ngự nó). Không có điều căn bản này, là một niềm tin chưa chứng minh được, rất ít người muốn bỏ giờ ra nghiên cứu vũ trụ và những điều cơ bản của vật chất. Hãy trực diện điều này: nghề nghiệp của các kế toán gia và y tá thì vững chắc hơn nghề nghiệp của các khoa học gia. Thông điệp này nhìn nhận rằng, "Chính và cũng một Thiên Chúa là Ðấng đảm bảo điều dễ hiểu và hợp lý của trật tự tự nhiên của vạn vật mà các nhà khoa học dựa vào một cách đầy tin tưởng, và là Ðấng tỏ mình ra là Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Feides et ratio, 34). Ở đây, Đức Thánh Cha dẫn chứng về Galilêô trong chú thích số 29: "Thánh Kinh và thế giới tự nhiên đều tiến hành cách bình đẳng từ Lời Thiên Chúa, Thánh Kinh được Chúa Thánh Thần viết, thế giới tự nhiên thừa hành cách trung tín lề luật của Thiên Chúa". Trong năm cuối cùng của chương trình Tiến Sĩ của tôi, những thí nghiệm của tôi vẫn chưa đem lại kêt quả mỹ mãn. Những thí nghiệm này đáng lẽ phải đem lại kết quả tốt, nhưng có một việc gì lạ lùng xảy ra. Tôi thất vọng và hầu như tuyệt vọng. Tôi than thở với giáo sư giám hộ của tôi. Ông trả lời: "Hỡi kẻ yếu tin!" Dầu tôi đang theo đuổi một văn bằng cao cấp về khoa học ở một đại học đời, tôi vần cần lòng tin để giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn. Như kết quả của đức tin siêu nhiên vào một Ðấng Tạo Hóa thông minh, là Ðấng không muốn lừa dối ai, khoa học hiện đại phát sinh từ Kitô Giáo thời trung cổ. Người Trung Hoa và Hy Lạp cổ xưa là những người rất thông minh. Người Trung Hoa khám phá ra thuốc súng, hỏa tiễn đầu tiên và la bàn. Người Hy Lạp phát minh ra máy hơi nước và hình học. Nhưng vì các tôn giáo có tính cách phiếm thần, họ không tin vào sự dễ hiểu của vũ trụ. Người Hy Lạp tin rằng thiên nhiên là thần thánh nên không thể hiều thấu được. Những người này có óc thông minh, nhưng không có hứng thú để theo đuổi khoa học. Theo Stanley Jaki thì khoa học trong những nền văn hóa này còn 'phôi thai". Tức cười là "thuyết Darwin, " thuyết tiến hóa vô thần, cho rằng vũ trụ là một quái thai của sự ngẫu nhiên. Nếu vũ trụ là một sự tình cờ, thì nó có đáng cho chúng ta nghiên cứu không? Một sự ngẫu nhiên thì không có mục đích gì. Và thường những gì xảy ra tình cờ thì cũng lộn xộn. Nếu trên căn bản vũ trụ lộn xộn, thì nó không thể hiểu thấu được. Quyết đoán này của Darwin có thể đem đến cho những ai muốn nghiên cứu khoa học những nghi ngờ. Thuyết Darwin không chỉ đả phá Kitô giáo mà còn đả phá cả những khích lệ cơ bản cho việc theo đuổi khoa học. Nhưng đức tin siêu nhiên thì sao? Ðức Tin siêu nhiên là nền tảng cho Kitô giáo. Nó liên quan đến lý trí tự nhiên thế nào? Theo Thông Ðiệp, "Mặc dầu đức tin, một món quà Thiên Chúa ban, không dựa trên lý trí, chắc chắn không được ban phát với lý trí. Đồng thời rõ ràng là lý trí cần phải được củng cố bằng đức tin để khám phá ra những chân trời ngoài phạm vi của nó" (Fides et ratio, 67). Lý trí có thể mở trí khôn cụ thể của chúng ta ra để rồi ý chí chúng ta dễ đón nhận ân sủng của đức tin siêu nhiên. Thí dụ câu hỏi căn bản "Tại sao có còn hơn không?" (Fides et ratio, 76) có thể làm cho chúng ta nhận ra rằng có một cái gì thiếu sót nếu chỉ dùng cảm quan. Lý trí cũng giúp đức tin không sa vào mê tín dị đoan. Lý trí có thể phê phán đức tin của chúng ta. Thông Ðiệp này nói rằng: "Thật là một ảo tưởng khi nghĩ là một đức tin, được liên kết với những lý lẽ yếu ớt, có thể là đức tin sâu sa hơn; ngược lại, đức tin đó dễ bị sa lầy vào hoang đường và mê tín" (Fides et ratio, 48). Một lạc giáo liên quan đến đức tin là thuyết "Duy Tín", cho rằng đức tin siêu nhiên thì quá trổi vượt trên lý lẽ tự nhiên đến nỗi lý trí không có ích gì cho đức tin. Tiếc thay Thuyết Duy Tín làm cho đức tin trở nên một sự tin tưởng cá nhân hay một "bước mù quáng". Như Thánh Phêrô đã khuyến khích rằng lý trí có thể giúp chúng ta giải thích đức tin một cách hay hơn cho những người không có cùng một niềm tin như chúng ta. Ngược lại, đức tin siêu nhiên có thể cung cấp cho lý trí một sức sinh động và mới mẻ. Một lần nữa, theo Thông điệp: "Cũng thế, lý trí mà không liên kết với một đức tin trưởng thành thì không được thúc đẩy nhìn đến sự mới mẻ và căn bản của sự vật" (Fides et ratio, 48). Ðức tin có thể giải thoát lý trí khỏi sự lệ thuộc hoàn toàn vào cảm quan. Như trong khoa học, đức tin có thể thúc đẩy chúng ta theo đuổi các lý lẽ xa hơn nữa để thu lượm được nhiều kiến thức. Theo kết luận của Thông Ðiệp: "Hội Thánh vẫn tin tưởng một cách sâu xa rằng đức tin và lý trí ‘hỗ tương nhau’; chúng ảnh hưởng lẫn nhau khi chúng trao đổi những phê phán làm cho nhau thêm tinh tuyền, và khuyến khích nhau trong việc theo đuổi tìm kiếm để hiểu biết sâu xa hơn” (Fides et ratio, 100). Mặc dù tôi đã nói chính về đức tin và lý trí, vì đề tài của Thông Ðiệp là "Ðức Tin và Lý Trí", Thông Ðiệp này thực ra cũng quan tâm đến liên quan giữa triết học và thần học. Cả hai đều cần sự tự trị hợp lý, nhưng chúng có hiệu quả hơn nếu chúng tác động lẫn nhau. Triết học là một khối kiến thức được xắp xếp có thứ tự để giải thích một điều gì. Tương tự như lý trí, nó bắt đầu từ cảm quan. Trái lại, thần học cũng là một khối kiến thức nhằm mục đích giải thích một điều gì, nhưng nó bắt đầu từ Lời Chúa mặc khải. Nó liên quan đến cả đức tin lẫn lý trí. Vì hai môn học đó bắt nguồn từ hai khởi điểm khác nhau, nên chúng cũng khác nhau. Nhưng chúng ta có thể dùng cả hai để hiểu thêm về Thiên Chúa. Dựa vào thế giới tự nhiên dễ hiểu, triết học có thể dùng lý luận để chứng minh rằng có Thiên Chúa như là một Nguyên Lý Tuyệt Ðối. Nhưng triết học không thể biết gì về Chúa Ba Ngôi. Chỉ nhờ mặc khải và thần học mà chúng ta mới hiểu biết hơn về Thiên Chúa là Chúa Ba Ngôi. Trước khi kết luận, Đức Thánh Cha đã vạch ra một số dòng tư tưởng triết học hiện đại mà trên căn bản có tính cách sai lạc. Trước hết, "Thuyết Chiết Trung", như tên của nó ám chỉ, là một phương thức vay mượn tư tưởng từ nhiều triết lý khác nhau mà không quan tâm đến sự thích hợp hay mạch lạc nội tại của chúng. Nó là "một mớ tư tưởng hỗn tạp". Thứ nhì, "Thuyết Duy Sử" cho rằng không có chân lý nào vượt thời gian cả. Một điều đúng ở giai đoạn lịch sử này có thể sai ở giai đoạn lịch sử khác. Nó liên quan mật thiết với Thuyết Ðổi Mới. Kế đến là thuyết "Duy Khoa Học", tương tự như thuyết Duy Lý và thuyết Duy Nghiệm, cho rằng chuúg ta chỉ có thể thu thập được những kiến thức chắc chắn qua những phương pháp khoa học. Nó cho người ta cảm giác rằng những gì kỹ thuật có thể làm được thì theo luân lý cũng được phép làm. "Thuyết Duy Thực", là thuyết rất phổ thông ở Anh Quốc và Hoa Kỳ, là một thái độ tư tưởng trong đó quyết định được dựa trên kết quả và sự thực dụng. Tất cà những cân nhắc có tính cách lý thuyết đều bị bác bỏ. Bất cứ hành động nào đem lại kết quả mong muốn đều là hành động tốt. Sau hết tất cả những triết thuyết trên đưa đến "Thuyết Hư Vô". Ðó là việc chối bỏ nhân phẩm và số phận đời đời của con người. Hư vô là một kết luận hợp lý cuối cùng và chân thật rằng không có Thiên Chúa chúng ta không là gì cả. Ðó là sự tuyệt vọng của thuyết vô thần. Những triết thuyết này có khuynh hướng chối từ sự cần thiết Thiên Chúa và tuyên xưng một sự tự lập giả tạo. Như Thông Ðiệp ghi nhận: "Vì thế giới được tạo dựng không thể tự túc, mọi ảo ảnh về tự lập trong đó chối từ sự lệ thuộc cần thiết vào Thiên Chúa của mọi tạo vật - kể cả loài người - đều đưa đến những hoàn cảnh bi đát làm tan vỡ việc tìm kiếm hợp lý sự hòa hợp và ý nghĩa của đời sống con người" (Fides et ratio, 80). Tóm lại, vì hoàn cảnh con người của chúng ta, chúng ta cần cả đức tin lẫn lý trí để phát huy kiến thức. Cả hai phải đi song đôi với nhau. Vì tôi không phải là một triết gia mà cũng không phải là một thần học gia, nên xin ngừng ở đây. Xin đọc Thông Ðiệp này. Cám ơn quý vị vì thì giờ và sự kiên nhẫn quý vị dành cho tôi. (Nguồn: Phillip B. Liescheski, ngày 14/5/1999, do Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ) Phaolô Phạm Xuân Khôi Nhận định của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo tại Việt NamNhận định của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo tại Việt NamTrà Mi, phóng viên đài RFA 2008-05-03Phúc trình thường niên của Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế USCIRF công bố sáng 2/5/2008 tại Washington DC đề nghị đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC. Nguyên do vì sao? Quan điểm của Ủy ban này về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Nghe audio ở đây. Bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc USCIRF. Photo do bà Gaer cung cấp. Linh mục Nguyễn Văn Lý tại phiên toà án xét xử ở Thừa Thiên Huế, hôm 30-3-2007. AFP PHOTO . Trà Mi có cuộc trao đổi với bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc USCIRF, người từng 2 lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch và 2 lần làm Phó Chủ tịch của Ủy ban này. Bà Gaer nhấn mạnh:
Bà Felice Gaer: Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế đề nghị nên tái tục việc đưa tên Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần được đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo, tức danh sách CPC. Chúng tôi nhận thấy tình hình tự do tôn giáo tại đây thật sự không ổn định. Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 10 năm ngoái, phái đoàn Ủy ban chúng tôi ghi nhận rằng Hà Nội vẫn còn giam cầm nhiều tù nhân tôn giáo, giới chức địa phương vẫn áp dụng các biện pháp phân biệt và cấm cản một cách bất hợp lý và xâm phạm đến tự do cá nhân của công dân. Ngoài ra, chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm trước sự đàn áp mạnh tay của nhà nước Việt Nam đối với những ai tranh đấu cho nhân quyền và cổ võ quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, và tự do tôn giáo. Đi ngược với các cam kết quốc tế Trà Mi: Xin bà cho biết thông điệp chính của đề nghị này là gì và việc đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo CPC sẽ giúp ích như thế nào đối với hiện tình tại Việt Nam? Bà Felice Gaer: Chúng tôi cho rằng vạch trần sự thật và tiếp tục gây áp lực lên chính phủ Việt Nam là điều rất quan trọng để giúp cải thiện tình hình tại đây. Thật không thể tưởng tượng nổi là ngay sau khi Hà Nội được bỏ tên ra khỏi danh sách CPC và trở thành hội viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, thì họ lập tức quay lại đàn áp các lãnh tụ tôn giáo, các nhà dân chủ, đồng thời thực hiện hàng loạt các hành động đi ngược lại với những gì đã cam kết. Trà Mi: Nhưng Việt Nam phản biện rằng không có ai bị bắt bớ hay tù đày vì thực hành nhân quyền hay quyền tự do tôn giáo, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật mới bị trừng trị mà thôi. Vậy theo bà, giải pháp nào cho sự khác biệt về quan điểm giữa Hà Nội và các lực lượng bảo vệ nhân quyền? Bà Felice Gaer: Trước tiên, chúng tôi xác định tối thiểu có ít nhất 23 tù nhân tôn giáo cần quan tâm tại Việt Nam hiện nay. Hơn thế nữa, chúng tôi nhận thấy có gút mắc trong khái niệm của nhà nước Việt Nam về tù nhân lương tâm. Cần hiểu rõ thế nào là các nhân quyền căn bản của công dân, đó là điều hết sức quan trọng. Những người như linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, các tù nhân tín đồ Hoà Hảo, Cao Đài, cộng đồng Phật giáo người Khơme, các lãnh tụ tôn giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, v.v.. thật ra họ bị giam cầm vì những lý do liên quan đến niềm tin tín ngưỡng cũng như quan điểm về nhân quyền và tự do tôn giáo mà thôi.
Nhà nước Việt Nam nên chấm dứt ngay việc tù đày hoặc quản thúc tại gia đối với những người này vì họ đã bị bắt bớ phi pháp, nhân quyền của họ bị chà đạp bởi các phiên toà bất công, vô lý.
Luật pháp không phải là công cụ để đàn áp
Trà Mi: Đó là quan điểm của các tổ chức bảo vệ nhân quyền, thế nhưng, dưới cái nhìn của chính quyền Hà Nội, những người này là những thành phần vi phạm pháp luật. Làm cách nào có thể thu hẹp sự khác biệt về quan điểm trong lĩnh vực này, thưa bà?
Bà Felice Gaer: Vậy thì chúng ta cần phải nhìn lại chính cái luật pháp ấy. Luật mà không cho phép người dân thực hành các quyền con người căn bản được cả thế giới công nhận thì chính cái luật ấy đã có vấn đề.
Khi nói những người này vi phạm pháp luật, họ nên nhìn lại chính cái pháp luật của họ đặt ra như thế nào. Họ phải xem dân như con người, với đầy đủ các nhân quyền căn bản.
Luật pháp không phải là công cụ để đàn áp, mà là phương tiện để duy trì trật tự xã hội và bảo đảm người dân sống trên mức tiêu chuẩn cơ bản chứ không phải dưới mức tiêu chuẩn cơ bản.
Trà Mi: Sau các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên giữa Washington và Hà Nội, có những tiến bộ hay trì trệ gì đáng lưu ý hay không, thưa bà?
Bà Felice Gaer: Ngài đại sứ Mỹ tại Việt Nam đã nói đây là một ví dụ thành công nhất trong nhiệm kỳ của ông, rằng kết quả không phải từ các cuộc đối thoại song phương mà từ các thỏa thuận ràng buộc đạt được là những sự cải thiện lớn nhất mà ông đã từng thấy.
Rõ ràng Hà Nội có cải thiện nhưng theo quan điểm của Ủy ban chúng tôi là những biện pháp mà nhà nước Việt Nam áp dụng là không đúng đắn và hiện giờ vẫn còn quá sớm để công bố rằng chính phủ Hà Nội nghiêm chỉnh tôn trọng tự do tôn giáo, ngược lại, họ vẫn duy trì sự kềm kẹp chặt chẽ đối với các cộng đồng tôn giáo khác nhau trong nước.
Những gì chúng tôi chứng kiến trong chuyến đi thực tế Việt Nam vừa rồi cho thấy họ vẫn kiểm soát nghiêm ngặt sự tự do và các quyền căn bản của người dân. Chẳng hạn như những người chúng tôi có dịp tiếp xúc để hỏi chuyện, tất cả họ đều bị chính quyền cảnh cáo trước khi đi gặp chúng tôi, bị đe doạ, rồi bị công an thẩm vấn, sách nhiễu sau khi gặp chúng tôi.
Mặc dù chúng tôi rất cảm kích chính quyền Việt Nam vì họ đã cho phép chúng tôi thực hiện chuyến thăm này, nhưng chúng tôi mong muốn nhìn thấy nhiều sự tiến bộ đáng kể hơn nữa.
Điều trần về Nhân quyền ở Việt Nam
Trà Mi: Tuần tới tại Quốc hội Mỹ sẽ diễn ra buổi điều trần về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Thông điệp mà Ủy ban sẽ mang tới nhân dịp này là gì, có những điểm nào đáng chú ý mà bà muốn chia sẻ bây giờ không?
Bà Felice Gaer: Chúng tôi dự định sẽ nêu lên nhiều điều, rằng tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn còn nhập nhằng. Có biểu hiện dễ thở đối với một vài cộng đồng tôn giáo nhưng nhiều nơi lại vẫn tiếp tục bị khó khăn như trước. Luật nhà nước không được thực thi nghiêm túc tại các cấp địa phương.
Hiện vẫn còn quá nhiều vi phạm và hạn chế quyền tự do tôn giáo, đặc biệt là việc cầm tù công dân với các lý do có liên quan đến hoạt động tôn giáo hay cổ võ tự do tôn giáo, và tranh đấu cho nhân quyền.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới nơi mà nhà nước có quyền cho phép hay cấm đoán quyền tự do của người dân.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn bà Felice Gaer, Ủy viên Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
(Trên đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Trà Mi với bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế. Phần chuyển ngữ lời bà Felice Gaer do Thy Nga trình bày). May 03 Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPCỦy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPCNhã Trân, phóng viên đài RFA 2008-05-02Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ hôm thứ Sáu công bố phúc trình về tình hình tôn giáo trên toàn thế giới năm 2008 và kiến nghị Ngoại trưởng Condoleeza Rice về vấn đề các quốc gia cần quan tâm đặc biệt. nghe audio ở đây. Trong phần nói về Việt Nam, đưa ra tại cuộc họp báo ngày 2 tháng 5 ở Washington, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ cho biết tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam năm qua vẫn tệ hại. Số tín đồ bị trù dập tuy có giảm nhưng các hành động sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm, và phạt vẫn thường xuyên diễn ra, cho thấy nhà cầm quyền tiếp tục giới hạn tự do tôn giáo của dân chúng. Đặc sứ John Hanford trình bày trước tiểu ban nhân quyền Hạ Viện về vấn đề tự do tín ngưỡng ở Việt Nam hôm thứ Năm 6-12-2007. / Dân biểu Loretta Sanchez và Dân biểu Chris Smith tại buổi điều trần “Những mối quan tâm về tình trạng Nhân quyền ở Việt Nam” ở Hạ viện Mỹ chiều thứ Ba hôm 6-11-2007. Photo RFA/ Thanh Truc. Gặp nhiều khó khăn Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ cho hay các tôn giáo trong năm rồi đã gặp nhiều khó khăn. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục bị trù dập và bị lên án là một tổ chức chính trị. Các quyền tự do di chuyển, bày tỏ ý kiến, hội họp vẫn bị giới hạn. Tăng ni và những người có liên hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị công an thường xuyên sách nhiễu và điều tra lấy cung. 12 tu sĩ lãnh đạo của giáo hội vẫn còn bị đặt trong tình trạng quản chế. Hà Nội cũng tiếp tục cấm đoán và gây cản trở cho các hoạt động tôn giáo của những giáo phái khác như Cao Đài, Hoà Hảo, các nhóm Phật Giáo Khmer tại vùng ĐBSCL. Nhà cầm quyền ra sức điều khiển, kiểm soát các buổi tế tự, cầu kinh, và quyết định việc lựa chọn thành phần lãnh đạo của đạo Cao Đài; theo dõi, thẩm vấn và bắt giam các nhà sư người Khmer khi họ có các cuộc phản đối ôn hoà tại Cambodia cũng như Việt Nam, và kềm hãm sự truyền bá ngôn ngữ, văn hoá của họ; tuyên án nhiều năm tù đối với những tín đồ Hoà Hảo tuyệt thực bất bạo động để bày tỏ bất mãn trước sự đàn áp của chính quyền và việc bắt giữ một số tín hữu từ năm 2005. Chính quyền Việt Nam, theo nhận định của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, đã đặt ra những luật lệ nhằm giới hạn hoạt động của các tôn giáo. Việc tế tự, nghi lễ phải đựơc các quan chức cho phép, phải mất nhiều thời gian mới được thông qua và nếu bị từ chối sẽ không được tái cứu xét. Chính quyền địa phương thường có những yêu sách gây khó dễ như đòi phải có danh sách của tín đồ, tuy điều này không hề có trong luật định. Luật buộc đăng ký bị áp dụng sai lạc, và nhiều nhóm tôn giáo bị từ chối không được hoạt động, như các nhóm Cao Đài, Hoà Hảo, Mennonite, Baptist, Tin Lành ở vùng ĐBSCL, Tây Nguyên và các tỉnh phía Tây Bắc. Có những làng theo đạo Tin Lành bị đối xử phân biệt, không được hưởng các qui chế về y tế, nhà cửa, giáo dục và các trợ giúp của quốc tế, đồng thời chính quyền đe doạ cắt mọi phúc lợi xã hội nếu cha mẹ không khuyên con cái bỏ đạo.
Trước các tố giác của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ,bà Ngô Thị Hiền, Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam, trụ sở tại Mỹ, có nhận định rằng: Chúng tôi nhận thấy những nhận xét của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế rất là chính xác. Tôn giáo tại Việt Nam đang bị đàn áp.
Thiếu tính minh bạch và độc lập Sau khi nhận định về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong năm 2007, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ kết luận rằng Hà Nội đã không giữ các cam kết về tôn trọng quyền tự do tôn giáo, còn hệ thống luật pháp, bộ máy tư pháp của Việt Nam thì thiếu tính minh bạch và độc lập. Dựa trên những bằng chứng vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa kỳ yêu cầu chính phủ Mỹ có thái độ đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Chính quyền Bush được thúc giục đòi nhà cầm quyền Việt Nam cải thiện tức khắc để chấm dứt mọi sự trù dập đàn áp, giảm bớt các giới hạn về hoạt động của các giáo phái. Washington phải cho Hà Nội hiểu rõ rằng tôn trọng tự do tôn giáo là điều thiết yếu trong việc phát triển bang giao giữa hai nước. Nhà cầm quyền Hà Nội phải sửa đổi các sắc luật về tôn giáo, ban hành từ năm 2004, để chính sách về tôn giáo của Việt Nam theo đúng tinh thần, mẫu mực của quốc tế, kết thúc sự lạm dụng của giới chức địa phương trong việc đàn áp tôn giáo. Các yêu cầu chính yếu Các yêu cầu chính yếu của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ gồm việc đòi Hà Nội trả tự do cho mọi tù nhân tôn giáo: Đại lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, Đức Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phan Văn Lợi, tín đồ các đạo Cao Đài, Hoà Hảo, các nhóm sắc tộc thiểu số vùng Tây Nguyên và các tỉnhTây Bắc, các sư sãi Phật Giáo Khmer, và các tù nhân lương tâm như Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân.
Washington cũng được kêu gọi giúp đỡ Hà Nội phát triển sự bảo vệ quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam, bằng cách thực thi những chính sách thích hợp như tiến hành chương trình phát triển các nhóm sắc tộc thiểu số, lâu nay bị đàn áp về tôn giáo và bị tước đoạt đất đai; tái phân bổ một số tài trợ cho các chương trình xã hội.
Bày tỏ quan điểm về kiến nghị của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam tại Mỹ, bà Ngô Thị Hiền, lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do: Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ để đặt Việt Nam vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt, vì tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam không tiến triển đúng theo mức định như mọi người mong đợi.
Nhã Trân tường trình từ Washington.
Thông tin trên mạng:
May 2, 2008: USCIRF Names 11 Countries of Particular Concern, Keeps Vietnam on List
USCIRF thúc chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách “quan tâm đặc biệt” WASHINGTON DC. 2-5 (TH).- Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ (USCIRF) đốc thúc chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt” (CPC) vì các cuộc đàn áp hoặc giới hạn tự do tôn giáo vẫn diễn ra rất thường tại Việt Nam.
Cuối năm 2006, chính phủ Mỹ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách này trước khi có cuộc hội nghị Thượng Ðình Diễn Ðàn Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (tháng 11, 2006) mở đường cho CSVN gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào đầu năm sau. Dịp này USCIRF đã khuyến cáo chính phủ không nên làm như vậy.
USCIRF (U.S. Commission on International Religeous Freedom) là một tổ chức điều hành độc lập được thành lập theo một đạo luật, trong đó một nửa (5) thành viên do chính phủ và một nửa (5) thành viên do Quốc Hội đề cử. Hàng năm tổ chức này đưa ra các phúc trình và khuyến cáo cho chính phủ và quốc hội về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới.
Việt Nam xứng đáng được cư xử như một nước vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng vì “có quá nhiều đàn áp và giới hạn quyền tự do tôn giáo” vẫn xảy ra dù chính phủ đã lấy tên (VN) ra khỏi danh sách CPC nhờ Hà Nội đưa ra một số chỉ thị lệch lạc cải cách chính sách đối với các tôn giáo, USCIRF nói trong bản phúc trình thường niên.
“Bắt giữ, bỏ tù, phân biệt đối xử và các giới hạn khác tiếp tục, vi phạm quyền tự do tôn giáo vẫn được các viên chức nhà nước các địa phương cứng đầu thực hiện và được nhà cầm quyền trung ương khuyến khích đối với các lãnh tụ tôn giáo bị tình nghi là có mưu đồ chính trị.” Bản phúc trình của USCIRF gửi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Condoleezza Rice viết như vậy.
Hồi cuối năm ngoái tin tức phổ biến trên VietCatholic News cho thấy nhà cầm quyền các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu vẫn cấm đạo Công Giáo. Linh mục bị cấm dâng thánh lễ trong khi tín đồ thì bị cấm theo đạo.
Tại khu vực Tây Nguyên, Tổ Chức Người Thượng ở Hoa Kỳ, thường xuyên đưa ra các bản tường trình cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn cấm đoán các hội thánh Tin Lành tư gia hoạt động qua các vụ bắt giữ, đánh đập, bỏ tù. Dịp lễ Phục Sinh vừa qua, hàng ngàn người Thượng cũng đã biểu tình ở các buôn làng đòi quyền tự do tôn giáo bên cạnh chuyện đòi lại đất canh tác đã bị nhà nứơc cướp đoạt.
Các giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy, Cao Ðài vẫn tiếp tục bị khủng bố dưới nhiều hình thức. Bản tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế thường đăng các bản tin thông báo các hành động khủng bố, đàn áp giáo hội này.
Dù có các bằng chứng hiển nhiên như vậy, Tom Casey, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ nói rằng Hoa Thịnh Ðốn đang cùng với Hà Nội giải quyết các vấn đề còn tồn tại. Ông nói rằng: “Các hành động mà nhà cầm quyền CSVN thực hiện đã giải tỏa một số trong những điều chúng ta quan tâm cho nên họ không đáng được đưa trở lại danh sách CPC.”
Trước bản phúc trình của USCIRF, Tòa đại sứ CSVN ở Hoa Thịnh Ðốn chưa đưa ra lời bình luận. Thông thường Hà Nội đều phủ nhận các cáo buộc liên quan đến tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền. Chế độ Hà Nội luôn luôn chối là không hề bỏ tù ai vì lý do tôn giáo hay chính trị.
Bản phúc trình của USCIRF cũng khuyến cáo chính phủ nên cho vào danh sách CPC cả Pakistan và Turkmenistan.
Trên nguyên tắc và theo luật, khi bị bỏ vào danh sách CPC, chính phủ Hoa Kỳ sẽ có các biện pháp chế tài, đặc biệt là giới hạn hoạt động thương mại, viện trợ. Tuy nhiên cho tới nay chưa thấy Hoa Thịnh Ðốn có hành động cụ thể nào với chuyện này.
Hiện có 8 nước trên thế giới đang trong danh sách CPC là Trung Quốc, Eritrea, Iran, Myanmar, Bắc Hàn, Saudi Arabia, Sudan và Uzbekistan.
Người Việt |
|
|