CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    June 28

    Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Tù nhân Lương tâm

     

    Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Tù nhân Lương tâm

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    2008-06-25

    Mới đây, Hoa Kỳ và hàng chục nước trên thế giới đồng bảo trợ Bản tuyên ngôn Liên hiệp quốc về Tù nhân lương tâm.

    Tuyên ngôn kêu gọi tất cả mọi quốc gia hãy quan tâm và bảo vệ sự tự do của những nhân vật bất đồng chính kiến trên toàn cầu, những người bị cầm tù vì thực hành các nhân quyền căn bản của công dân.

    Nghe audio
    Để tìm hiểu thêm về Bản tuyên ngôn Tù nhân lương tâm, Trà Mi có cuộc trao đổi với đại sứ Grover Joseph Rees, đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về các vấn đề xã hội, thuộc Vụ lo về các tổ chức quốc tế, nơi có trách nhiệm giám sát các vấn đề liên quan đến nhân đạo, xã hội, nhân quyền, và cả vấn đề ngoại giao đa quốc gia.

    Phát huy nhân quyền trên toàn thế giới

    Đại sứ Grover Joseph Rees: 64 quốc gia bao gồm Hoa Kỳ, 27 nước thành viên Liên hiệp Châu Âu, cùng các nứơc khác trên thế giới đồng bảo trợ Bản Tuyên ngôn Tù nhân lương tâm, thứ nhất là để nhắc nhớ thế giới 60 năm ngày Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu ra đời, công nhận quyền tự do bày tỏ quan điểm, tự do liên kết và tụ họp ôn hoà của ngừơi dân, và tiếp đó là để chỉ ra rằng, mặc dù tất cả các nước đã đồng ý với bản Tuyên ngôn nhân quyền từ 6 thập niên trước.

    Nhưng cho tới nay, vẫn còn nhiều quốc gia dùng biện pháp bắt bớ hoặc tù đày làm chiến lược đối phó với những người có quan điểm chính trị đối lập. Hiện còn quá nhiều nạn nhân tại nhiều nứơc trên thế giới bị giam cầm chỉ vì họ thực hành các nhân quyền căn bản ấy một cách ôn hoà.

    Trà Mi: Theo ông, vì sao Tuyên ngôn này cần thiết phải được đề nghị lưu hành như là một văn kiện của Đại hội đồng Liên hiệp quốc?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Một trong những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là phát triển nhân quyền trên toàn thế giới và Đại hội đồng là cơ quan chính của Liên hiệp, chịu trách nhiệm về nhân quyền. Vì thế, nếu chúng ta tìm kiếm một diễn đàn để lên tiếng về những vấn đề này thì không nơi nào tốt hơn là Đại hội đồng, và tất nhiên, các quốc gia có tù nhân lương tâm cũng có đại diện tại Liên hiệp quốc, và trong Đại hội đồng. Cho nên, đây cũng là cách để nói chuyện với họ nữa.

    Nhân quyền trong các chế độ độc tài

    Trà Mi: Thế nhưng Bản Tuyên ngôn tù nhân lương tâm này sẽ giúp ích như thế nào khi mà các quốc gia có tù nhân lương tâm như Việt Nam chẳng hạn, vẫn quả quyết rằng tại xứ họ không có ai bị giam cầm vì bất đồng chính kiến, mà chỉ những người nào vi phạm luật pháp mới bị trừng trị mà thôi?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Vâng đúng thế. Dĩ nhiên là có những luật lệ, nhưng Bản Tuyên ngôn này không nói đến những điều luật chế tài các hoạt động phạm tội hay những vấn đề không liên quan đến nhân quyền căn bản. Nhưng nếu một quốc gia có những luật quy định rằng người dân có thể bị tù tội nếu thực hành quyền tự do ngôn luận hay những quyền tự do căn bản tương tự, thì quốc gia đó cần phải xem xét lại luật pháp của mình xem đã nhất quán, phù hợp với Bản Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu hay chưa.

    Trà Mi: Theo ông, dựa trên những cơ sở nào mà chúng ta nên có một thoả thuận nhất trí giữa mọi quốc gia về khái niệm cũng như quan điểm về tù nhân lương tâm, thưa ông?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Vâng, dĩ nhiên là chúng ta rất mong muốn có một sự đồng thuận nhất trí, nhưng chừng nào mà trên thế giới vẫn còn các nứơc giam cầm công dân chỉ vì họ thực hành quyền tự do căn bản con người, thì chừng đó chúng ta vẫn chưa đạt được điều này. Trong hoàn cảnh chưa có đựơc thì điều khả dĩ kế tiếp là có số đông quốc gia và người dân trên thế giới phản đối hành động bắt bớ tù nhân lương tâm.

    Một trong những điều đựơc nêu ra trong Tuyên ngôn là tất cả các nước đã ký tên đồng ý sẽ đặt vấn đề tù nhân lương tâm và phóng thích tù nhân lương tâm lên hàng ưu tiên trong mối quan hệ bang giao song phương với các nước vi phạm nhân quyền.

    Đây là cách chúng ta tự nhắc nhở mình cũng như nhắc nhớ thế giới rằng mặc dù chúng ta có thể có mối giao hảo với các quốc gia vi phạm nhân quyền, chúng ta không thể quên những cá nhân can đảm tranh đấu cho nhân quyền tại các nước đó.

    Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn đại sứ Grover Joseph Rees, đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về các vấn đề xã hội, đã dành cho Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc trao đổi hôm nay.

    June 25

    Bush khen VN tiến bộ về tôn giáo

     
    Tổng thống Mỹ George W Bush vừa ca ngợi Việt Nam đạt tiến bộ "đáng ghi nhận" trong lĩnh vực tự do tôn giáo.

    Ông Bush đã nói như vậy sau cuộc hội đàm giữa ông và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại tòa Bạch Ốc vào tối thứ Ba (24/6).

    Nghe audio

    Hai vị lãnh đạo cũng đã bàn với nhau một loạt chủ đề như thương mại, đầu tư và an ninh khu vực.

    Sau cuộc gặp, tại buổi họp báo chung, ông Bush nói: "Chúng tôi đã thảo luận về quan hệ láng giềng, về khu vực. Chúng tôi cũng nói về quyền tự do, tự do chính trị và tự do tôn giáo".

    "Tôi nói với ông thủ tướng rằng các tiến bộ của chính phủ Việt Nam về tự do chính trị và tôn giáo là rất đáng chú ý, và tôi hoan nghênh các nỗ lực của ông và chính phủ của ông".

    "Nói chung, chúng tôi đã có một cuộc thảo luận tốt đẹp. Quan hệ của Mỹ với Việt Nam đang ngày càng thân cận hơn trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Tôi xin cảm ơn ông thủ tướng đã tới thăm để giúp quan hệ đó ngày càng lớn mạnh".

    Tuyên bố trên của ông tổng thống Mỹ xem ra sẽ không được một số người Mỹ gốc Việt đồng tình.

    Đòi dân chủ

    Hàng trăm người gốc Việt đã tụ tập bên ngoài Nhà Trắng để biểu tình phản đối chuyến thăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và hô hào đòi tự do, dân chủ cho Việt Nam.

    Từ Virginia, bác sỹ Nguyễn Quốc Quân, chủ tịch tổ chức quốc tế yểm trợ cao trào nhân bản Việt Nam, đưa ra giải thích của ông về đánh giá của tổng thống Bush:

    "Họ quan niệm đã có nhiều người VN được sinh hoạt tôn giáo. Thế nhưng chúng tôi thấy rằng vẫn còn nhiều người, nhiều tôn giáo, không được chấp nhận cho hành đạo, như Phật giáo VN Thống nhất hay người Thượng theo Tin Lành".

    "Khi còn người không được hưởng tự do đó thì VN vẫn còn vấn đề về tự do tôn giáo".

    Bác sỹ Quân cũng cho rằng, cách nhìn nhận của chính phủ Mỹ còn phiến diện, chưa nhìn vào thực chất của vấn đề:

    "Ông Bush cũng như một số nhà ngoại giao của Mỹ so sánh tình hình hiện nay với mười, hai mươi năm trước và thấy rằng có tiến bộ đáng kể".

    "Thế nhưng các quyền tự do cơ bản của con người là điều ai sinh ra cũng phải được hưởng. Không thể nói việc họ siết chặt rồi nới ra đôi chút là tiến bộ về nhân quyền được".

    Một số nhà hoạt động dân chủ gốc Việt cho rằng, Mỹ cần chuẩn bị một lộ trình để thúc đẩy dân chủ ở VN, thông qua bang giao, hội nhập và phát triển kinh tế để tiến tới các thay đổi về thể chế và chính trị.

    Cơ chế đối thoại

    Một lộ trình như vậy đã được chuẩn bị hay chưa là điều còn phải bàn cãi, thế nhưng có thể thấy quan hệ kinh tế đầu tư đã được lãnh đạo hai bên đặt làm một trong các ưu tiên hàng đầu.

    Trong ngày thứ Ba, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Carlos Gutierrez và ông Nguyễn Tấn Dũng đã chứng kiến lễ ký nhiều thỏa thuận kinh tế nhằm mở rộng tiếp cận của các công ty Mỹ đối với thị trường Việt Nam.

    Trong cuộc họp báo tại Washington D.C , Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói hai bên đã đồng ý khởi động đàm phán hiệp định đầu tư song phương.

    Một hiệp định như vậy sẽ thúc đẩy quan hệ kinh tế đã rất mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, một trong các thị trường phát triển nhanh nhất cho hàng hóa xuất khẩu của Mỹ.

    Quan trọng hơn, lãnh đạo hai bên thành lập cơ chế đối thoại cấp cao để bàn về các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, môi trường, khoa học, quốc phòng và an ninh.

    Ông Dũng tuyên bố rằng Tổng thống Bush đã tái khẳng định rằng Mỹ sẽ luôn ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

    Chi tiết gây chú ý này chắc chắn sẽ làm tốn giấy bút của các nhà quan sát vốn đang theo dõi sát các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong khu vực.

    BBC

    June 22

    "SỰ CỐ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ"

     

          80620HoithaoHyMan2.mp3 -

    ĐHY Mẫn chia sẻ tại Đại Hội La Vang Hoa Kỳ (đặc biệt từ phút 12). Nguồn : VietCatholic

     

     

    Cờ vàng hay đỏ, chỉ là cờ,

    Lý tưởng đâu thấy, chỉ thù căm.

    Sứ điệp Tin Mừng, hàng sọt rác ,

    Lời vị chủ chăn, chẳng phải thừa !

     

    Thời gian vừa qua đã xuất hiện nhiều bài viết, của người không Công Giáo cũng như của một số người Công Giáo, tấn công chỉ trích trực diện ĐHY Tổng Giám Mục Sài Gòn, với những lời lẽ và thái độ nặng nề hay nhục mạ ngài. Những lời lẽ có tính xây dựng và suy nghĩ nghiêm chỉnh thì hầu như không có, chỉ thấy một sự bùng nổ lòng hận thù một khi có cơ hội.

    Nguyên nhân xuất phát từ một bức thư của ĐHY gởi cho một số Đức Cha có liên hệ trực tiếp đến việc tham dự của phái đoàn Việt Nam tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới săp đến ở Úc, trong đó, ngài cho biết « sự cố » « lá cờ vàng ba sọc đỏ » « làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam » và ngài kêu gọi những vị hữu trách làm sao cho « mọi người biết dùng cơ hội quy tụ này như con đường bồi đắp cho tình yêu hiệp thông hiếu thảo với Chúa, cho tình hiệp thông huynh đệ với nhau, cho tinh thần hiệp thông liên đới huynh đệ tương thân tương trợ trong Giáo Hội Công Giáo tại VN cũng như trên thế giới toàn cầu hoá hôm nay ».

    Phải nói rằng ĐHY rất can đảm khi phải đụng chạm đến một vấn đề rất nhạy cảm như thế, và ngài đề cập một cách trực diện chứ không vòng vo : « sự cố » « lá cờ vàng ba sọc đỏ » « làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam ». Chính lời khẳng định này đã gây nên những phản ứng giận dữ của một số người, thậm chí một số người đã đi quá xa gán cho ĐHY những gì mà ngài không nói.

    Một số người cho rằng ĐHY đã khinh thường, dị ứng hay hạ thấp lá cờ vàng ba sọc đỏ và đề cao cờ đỏ sao vàng ; số khác cho rằng ngài đã hiểu sai bản chất và ý nghĩa của lá cờ này ; số khác nữa cho rằng ngài muốn thay thế lá cờ vàng này bằng lá cờ đỏ kia ; người khác lại cho rằng ngài muốn sống yên thân dưới chế độ CS nên đó là cách làm đẹp lòng chế độ…Nhìn chung, những phê bình chỉ trích ĐHY không hiểu đúng (hay cố tính không hiểu đúng) bức thư của ĐHY, nhưng lại gán cho ngài những suy nghĩ của riêng họ. Có người cẩn thận hơn nói rằng ý ngài không phải là muốn dẹp lá cờ vàng đâu…, NHƯNG rồi đọc thư của ngài cũng đành SUY DIỄN ra như vậy !

    Trước khi suy nghĩ về lời đề nghị của ĐHY qua bức thư này, chúng tôi muốn phân tích lại bức thư này theo như những gì nó cho thấy hay nói :

    + Thứ nhất, trong bức thư ĐHY không hề nói đến chuyện phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc trong Đại Hội giới trẻ.

    + Thứ hai, trong thư, ĐHY không có đề cao hay đề cập đến lá cở đỏ sao vàng, cũng như muốn nó thay thế lá cờ vàng.

    + Thứ ba, Đức Tổng Sài Gòn không muốn làm đẹp chế độ CS, điều đó có thể thấy rõ trong bức thư khi ngài cũng phê phán luôn chủ nghĩa CS.

    + Thứ tư, ngài không coi thường , hạ thấp cờ vàng ba sọc đỏ hay hiểu sai bản chất và ý nghĩa của nó.

    + Nhưng ĐHY cho biết có một « SỰ CỐ » đã xảy ra, nhất là trong các kỳ Đại Hội Giới Trẻ trước. Và sự cố đó là gì ? Đó là « lá cờ vàng ba sọc đỏ được dương lên trong lúc các bạn trẻ VN từ nhiều châu lục quy tụ lại để cử hành phụng vụ hoặc sinh hoạt chung ».

    + Và theo ngài, vấn đề của việc giương lên lá cờ vàng này nơi cử hành phụng vụ đó là gì ? Đó là « nó đã làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam ».

    + Tiếp đến ngài phân tích ý nghĩa tượng trưng của lá cờ, khi thì nó đại diện cho điều này, khi thì nó tượng trưng cho điều kia, nhưng CÓ LÚC nó chỉ « biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng ».

    + Tuy nhiên ngài không dừng lại ở đó. Ngài nói điều đó trong mối tương quan với « người mẹ Việt Nam », một người mẹ không phải là cờ này hay cờ kia, rồi từ đó ngài nói đến tình huynh đệ anh em một nhà. Ngài còn đi xa hơn nữa, trong bối cảnh nói với những người KITÔ HỮU - CÓ CHÚA KITÔ, tức là trong tương quan với Thiên Chúa của đức tin, trong đó mọi người đều là con một Cha.

    + Thế nhưng, điều nhấn mạnh nhất của bức thư mà những người phê bình ngài rất xem nhẹ,  đó là TÌNH HIỆP THÔNG. Một tình hiệp thông bị gây tắc nghẽn. Và ngài « thành tâm cầu khẩn » kêu gọi « dùng cơ hội này như con đường bồi đắp cho tình hiệp thông… ».

     Phải nói rằng  chính xác tín về tình hiệp thông này đã thúc đẩy ngài viết bức tâm thư kia, dù biết sẽ bị phản đối công kích, và lời kêu gọi của ngài hoàn toàn thuộc bình diện tôn giáo.

    Mối ưu tư của ngài có thực không hay chỉ là tưởng tượng ? Sự cố cờ vàng làm tắc nghẽn tình hiệp thông đó có thực không ? Những ai đã tham dự các Đại Hội Giới Trẻ vừa qua đều không mấy khó khăn để trả lời. Ở đây, tôi chỉ trưng ra một ví dụ nhỏ : một người trẻ đến từ Sài gòn được một người trẻ đến từ Hoa Kỳ hỏi : anh đến từ đâu ? Anh bạn tôi trả lời : từ thành phố Hồ Chí Minh. Ngay lập tức anh bạn nhận được câu đáp từ người kia : « đối với tôi là Hồ Chó Minh thì có » !

    Phải nói rằng mối ưu tư của ĐHY là có thực : tình hiệp thông có nguy cơ bị đe dọa. Rõ ràng ngài không phỉ báng lá cờ vàng ba sọc đỏ hay thiếu tôn trọng những người cả đời mình gắn bó với lá cờ này. Ngài rất trân trọng. Khi tôi viết bài này, thì ngài đang ở Hoa Kỳ tham gia vào Đại Hội hành hương Đức Mẹ La Vang. Cả mấy ngàn người hiện diện ở đó có ai không tôn trọng cờ vàng và xem nó như là lý tưởng ? ĐHY hiện diện ở đó cũng đủ chứng tỏ ngài tôn trọng lý tưởng chính trị của mỗi người. Và sự kiện gần 5000 người hành hương ở đó không mang theo cờ vàng không có nghĩa là họ coi thường lý tưởng của họ, nhưng đúng ra họ biết tách biệt chính trị ra khỏi tôn giáo để đặt chính trị vào chỗ của nó.

    Tuy nhiên, ở đây phải chăng không thể phân biệt được lý tưởng đích thực nơi nơi nhiều người dành cho lá cờ vàng này và một số khác mà lá cờ vàng này chỉ còn là « biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng » ? Lá cờ chỉ là lá cờ. Khi nó được trao vào tay của những người này, thì nó trở nên lý tưởng mạnh mẽ nhờ chính cuộc sống của họ ; còn khi trao vào tay người kia, nó lại đánh mất đi ý nghĩa của nó, bởi vì thay vì bảo vệ lá cờ của mình đúng mức, cách hành xử của họ lại chà đạp nó cách tồi tệ. Tôi tự nhủ có bao nhiêu người xuống đường « bảo vệ lá cờ vàng » theo cách của những người đã làm đối với tờ báo Người Việt ?  Từ một phản ứng « bình thường » ban đầu kéo dài đến một phản ứng « bất bình thường ». Lá cờ vàng được bảo vệ theo cách đó thì quả là kinh hoàng ! Những cái ý nghĩa nhân bản, thiêng liêng…của lá cờ dường như đã bị chà đạp theo cách mà người ta chà đạp người khác.

    Chính với những người mà lá cờ vàng chỉ còn « biểu trưng cho tính đối kháng » này mà ĐHY muốn nói đến, chứ không phải ngài muốn nói với tất cả những ai đã hy sinh và gắn bó cả đời mình vì lý tưởng cờ vàng của mình.Và chỉ vì những người này mà mối hiệp thông giữa các bạn trẻ có nguy cơ, chứ không phải vì những người cũng tham dự vào đó với lá cờ lý tưởng của mình mà họ biết cách cư xử nhân bản và đức tin với nhau. Những người kitô hữu nhân danh lá cờ lý tưởng để chà đạp lý tưởng Tin Mừng đó là một thảm họa. Sứ điệp Tin Mừng đã bị họ đạp xuống ngang hàng sọt rác chỉ vì họ muốn đề cao cờ vàng với lòng thù hận. Họ đấu tranh cho một « lý tưởng » đang khi chà đạp những lý tưởng khác. Họ đòi công lý đang khi chính họ cũng đang chà đạp công lý ; họ hô hào bênh vực nhân quyền , thế nhưng họ chính là người đang vi phạm nhân quyền !!! Họ cư xử chẳng thua gì những người bên kia chiến tuyến với họ, thì thử hỏi họ lấy tư cách gì để đại diện bênh vực cho nhân quyền và phẩm giá con người, cho công lý và sự thật ?

    Những người đó, hiện diện trong một thời điểm mà tính hiệp thông của Giáo Hội được biểu lộ mạnh mẽ nhất thì qủa là gây lo ngại cho vị chủ chăn như ĐHY.Chính vì thế, qua nhiều lần kinh nghiệm, lần này, với sự tham dự của ngài, ngài đã ĐỀ NGHỊ các vị tổ chức hãy ý tứ về điều đó để Giáo Hội Việt Nam có thể hòa mình vào Giáo Hội toàn cầu với tinh thần yêu thương hiệp thông đích thực, chứ không thể có ở đó « cái thói đời mang tính đối kháng » giữa con cái của Cha trên Trời. Lá cờ vàng biểu trưng cho một lý tưởng chính trị chứ không phải là tôn giáo, và vì thế có nhiều thành phần không phải Công Giáo cũng gắn bó với là cờ vàng này. Chính vì thế, sự hiện diện của lá cờ vàng ở đó cần phải được cân nhắc cẩn thận sao cho sứ điệp chính trị không có thể và không có quyền lấn át sứ điệp Tin Mừng.Cần tách bạch chính trị ra khỏi tôn giáo! Và nếu thấy lá cờ đỏ sao vàng ở đó, thì đừng vội vã nghĩ rằng GHVN tôn vinh cờ đỏ. Giáo Hội không bao giờ tôn vinh lá cờ nào cả, nhưng nếu nó hiện diện ở đó, thì nó chỉ có tính cách "thủ tục", hành chánh mà một số não trạng bên ngoài khó có thể hiểu được.

    Khi người kitô hữu chưa biết đặt sứ điệp Tin Mừng lên trên tất cả thì quả là một phản chứng nhãn tiền. Khi họ muốn biến sứ điệp Tin Mừng thành một công cụ chính trị và hạ thấp nó ngang hàng hay thậm chí thấp hơn sứ điệp chính trị, thì quả thật họ đang sỉ nhục Tin Mừng. Những phản ứng giận dữ và thù hận đó tiếp tục cho thấy Tin Mừng chỉ là một thứ trò chơi của họ trong cuộc chiến chính trị, chứ không phải là ánh sáng dẫn dắt đời họ.

    Công Lý

     

     

          

     

    VietCatholic News (Chúa Nhật 22/06/2008 23:59)

    Đại Hội Thánh Mẫu La Vang năm nay sẽ được tổ chức từ ngày 13/8 tới 15/8/2008 tại Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc La Vang với chủ đề: "Đức Maria Nhà Giáo Dục Đức Tin"; và bản nhạc chủ đề "Mẹ La Vang, Thầy Dậy Của Con" một sáng tác của LM Minh Anh, phần Video Clip do VietCatholic thực hiện với hình ảnh từ cuộc Hành Hương La Vang tại thủ đô Washington DC từ ngày 19-21/06/2008 vừa qua.

    LM Minh Anh

    Nhân quyền sẽ được đề cập đến trong chuyến thăm Mỹ của TT Nguyễn Tấn Dũng

     

    Nhân quyền sẽ được đề cập đến trong chuyến thăm Mỹ của TT Nguyễn Tấn Dũng

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    2008-06-21

    Ngày 23/6/2008, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng Việt Nam có mặt tại thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, bắt đầu chuyến thăm chính thức kéo dài khoảng 1 tuần.

    Nghe audio

    Liệu vấn đề nhân quyền của Hà Nội, mối quan tâm chính yếu của Hoa Kỳ trong bang giao song phương Việt-Mỹ, có đựơc đặt lên bàn thảo luận với người đứng đầu nhà nước Việt Nam lần này hay không?

    Thứ Trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động, ông David Kramer, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ trong cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Việt Nam ở Hà Nội, dành cho Trà Mi cuộc phỏng vấn đặc biệt trước khi Thủ tướng Việt Nam đặt chân tới Washington.

    Quan trọng đối với Tổng thống Bush

    Trà Mi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho buổi tiếp chuyện đặc biệt này. Trước tiên, xin hỏi ông liệu vấn đề nhân quyền của Việt Nam có được nêu lên lần nữa với Hà Nội nhân chuyến Mỹ du của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kỳ này hay không?

    Thứ trưởng David Kramer: Tôi nghĩ rằng vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ lại đựơc đề cập đến. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với Tổng thống George W. Bush. Chắc cô còn nhớ, điểm nhấn mạnh trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của ông Bush là phát huy tự do, dân chủ, và nhân quyền trên toàn cầu.

    Chúng tôi cho rằng những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền của Việt Nam sẽ giúp tăng cường mối quan hệ bang giao của hai nước. Tiếp nối cuộc đối thoại nhân quyền tại Hà Nội hồi cuối tháng Năm do tôi làm trưởng đoàn, tôi nghĩ rằng vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ lại đựơc nêu lên khi Tổng thống Bush tiếp Thủ tướng Dũng lần này.

    Trà Mi: Những điều gì đang đựơc kỳ vọng cao nhất đối với Hà Nội lần này, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Chúng tôi đã nêu lên một số vấn đề với đối tác phía Việt Nam liên quan tới tự do tôn giáo, tự do báo chí, tù nhân lương tâm, cải cách luật pháp, đặc biệt là bộ luật hình sự. Tóm lại, chúng tôi muốn thấy cải thiện trong những lĩnh vực đó.

    Khi thương thuyết với Hà Nội, chúng tôi luôn cố gắng đi vào chi tiết cụ thể và đề nghị những bước cải thiện cụ thể mà phía Việt Nam có thể làm để chứng tỏ tiến bộ trong những vấn đề này.

    Cho nên, chúng tôi hy vọng sẽ có những hiệu quả trông thấy cả trước và sau chuyến Mỹ du của ông Dũng, không đơn giản chỉ là để tạo điều kiện tốt cho chuyến thăm, mà là nỗ lực phát huy những cải thiện lâu dài. Điều này không chỉ tốt cho mối quan hệ Việt-Mỹ mà còn tốt cho tương lai của Việt Nam sau này.

    Sẽ có vài nhà tranh đấu được trả tự do

    Trà Mi: Trong cuộc phỏng vấn hồi đầu tháng 6 với Ban Việt Ngữ RFA sau cuộc thoại với Hà Nội, ông có cho biết rằng Washington khuyến khích Hà Nội chứng tỏ những cải thiện trong lĩnh vực nhân quyền để tạo điều kiện cho chuyến Mỹ du của thủ tướng Việt Nam được tốt đẹp hơn. Cho tới nay Hà Nội đã có những biểu hiện gì đáng kể chưa, chẳng hạn như sẽ có tù nhân lương tâm nào được phóng thích chăng, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Chúng tôi được nghe là sẽ có một vài người đựơc Hà Nội trả tự do, nhưng để đảm bảo cho điều này diễn ra tốt đẹp thì tôi sẽ không nêu danh tánh cụ thể của các nhân vật đó bây giờ. Song, chúng tôi đã nhận được những dấu hiệu tích cực về mặt này.

    Chúng tôi cũng đã đạt đựơc thoả thuận rằng chuyên gia hai nước sẽ phối hợp trong công tác cải tổ các vấn đề về luật lệ và Bộ luật hình sự. Và cũng có tín hiệu là Việt Nam sẽ cho phép giới truyền thông quốc tế thành lập các văn phòng tại TPHCM. Nhìn chung, có một số lĩnh vực đã được đánh tiếng là sẽ có cải thiện. Và chúng tôi sẽ tiếp tục theo sát những vấn đề này với các đồng nghiệp phía Việt Nam.

    Trà Mi: Mỗi khi lĩnh vực nhân quyền đựơc nhắc tới, Hà Nội vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần rằng Washington không nên can thiệp quá sâu vào chuyện nội bộ của Việt Nam. Quan điểm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra sao, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Khi chúng tôi có mặt tại Việt Nam cuối tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng đây không phải là những vấn đề hoặc những giá trị của Mỹ áp đặt lên Việt Nam. Những gì chúng tôi đang thúc giục Hà Nội là những giá trị toàn cầu.

    Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do quyết định lựa chọn của người dân, đó là những quyền căn bản của con người trên toàn cầu, mà Việt Nam đã đồng ý ký tên tham gia. Những gì chúng tôi đang làm là khuyến khích Hà Nội tôn trọng những nhân quyền ấy. Chúng tôi nghĩ rằng cho phép tự do ngôn luận, tự do báo chí, hay tự do tôn giáo v.v., sẽ giúp Việt Nam trở thành một nước hùng mạnh hơn.

    Chúng tôi muốn Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng, dân chủ hơn, một đất nước nghiêm túc tôn trọng nhân quyền. Bởi nếu đựơc như vậy, Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia đối tác hữu hiệu hơn đối với chúng tôi. Thế nên, chúng tôi không xem đây là việc can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam mà đó là lĩnh vực quan trọng mà Hoa Kỳ hết sức quan tâm.

    Trà Mi: Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có sự nhất trí về định nghĩa “tù nhân lương tâm”, mà như ông biết đó, Hà Nội vẫn luôn khẳng định rằng “tại Việt Nam không có người tù lương tâm, chỉ có những ai vi phạm pháp luật mới bị trừng trị mà thôi.” Theo ông thì có giải pháp nào khả dĩ cho vấn đề này không?

    Thứ trưởng David Kramer: Trong những cuộc thảo luận đầy đủ với Bộ Công An Việt Nam không chỉ trong khuôn khổ các cuộc đối thoại nhân quyền, chúng tôi đã nêu lên những trường hợp cụ thể, khẳng định sự quan tâm, cũng như đưa ra những giải pháp đề nghị cho những trường hợp đó.

    Chúng tôi hy vọng rằng phía Việt Nam sẽ sớm có những hành động cụ thể. Đã có những tín hiệu chứng tỏ thiện chí như tôi đã trình bày, và chúng tôi mong sẽ thấy điều này xảy ra càng sớm càng tốt.


     
    June 21

    CSVN cũng đã lợi dụng chiêu bài "DÂN TỘC" để bách hại Cao Đài

     

    "Dân tộc", "đồng hành cùng dân tộc", "phản bội tổ quốc, dân tộc", "làm tay sai cho ngoại bang"...là những chiêu bài Cộng sản VN luôn dùng để bách hại các tôn giáo. Và điều đáng nói là có kẻ giả danh tôn giáo cũng tiếp tay cho chiêu bài này của Cộng sản để lấy điểm và tấn công các tôn giáo khác ! Nỗi nhục "tôn giáo" một khi nó bị chính trị hóa.

     

    Hành Trình Đạo Cao Đài từ 1975 (phần 2)

    RFA
    2008-06-20

    “Bản Án Cao Đài” năm 1978 của Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh là văn kiện đầu tiên làm nền tảng giải thể Hội Thánh Cao Đài . Văn bản này qui rằng: “mọi người đều có tội. Không ai vô tội. Mọi tài sản đều bị tịch thu.”

    Nghe audio

    Trong một diễn biến liên quan, năm 1982, một số chức sắc đạo Cao Đài đã viết bản “Cải Án,” để phản biện bản án năm 1978. Bản cải án nói rằng văn kiện 1978 là sự kết tội không có phiên tòa, gây tác hại vật chất, nhưng “phần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn”.

    CaoDai_TinNguyen

    Ban việt ngữ đài Á Châu Tự Do tìm hiểu và đối chiếu Bản Án 1978 với Bản Cãi Án 1982, trình bày trong bài thứ nhì của loạt 4 bài.

    "Bản Án Cao Đài" năm 1978 từ chính quyền Tỉnh Tây Ninh

    Ngày 20-9-1978, tức là chỉ hơn 3 năm kể từ khi thống nhất Việt Nam, chính quyền thời ấy, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh, cho phổ biến một văn kiện mang tên “Bản Án Cao Đài,” làm văn tự căn bản bắt đầu quá trình giải thể Hội Thánh Cao Đài và tịch biên một số tài sản của Đạo.

    Bản án, mở đầu bằng lời giới thiệu mang tính chất của một kết luận, viết nguyên văn: “Đạo Cao Đài Tây Ninh ngày thành lập đến nay đã 52 năm. Trên nửa thế kỷ qua, một số tên trong những người cầm đầu giáo phái này không ngừng lợi dụng xương máu, mồ hôi, nước mắt của tín đồ, mà tuyệt đại bộ phận là nông dân và nhân dân lao động yêu nước, để làm hậu thuẫn chính trị phản động cho các đế quốc xâm lược nước ta qua thời kỳ lịch sử của dân tộc.”

    Một năm sau ngày công bố Bản Án, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị chính quyền cưỡng bách giải thể. Đồng thời, một phần lớn tài sản của Đạo cũng bị cưỡng chế.

    “Những năm 1979, 1980, do tình hình đất nước thay đổi, Ngài Mở Đạo và Ngài Đầu Sư ra Đạo Lệnh 01 giải thể Hội Thánh từ trung ương đến địa phương, đồng thời thành lập Hội Đồng Chưởng Quản. Hội Đồng Chưởng Quản chỉ có tư cách coi sóc cơ ngơi của đạo chứ không hoạt động tôn giáo.”

    Phát biểu của Sĩ Tải Phùng Văn Phan, một chức sắc Cao Đài hiện đang sinh sống tại Việt Nam cho thấy, Hội Đồng Chưởng Quản là cơ quan ra đời trong bối cảnh đạo Cao Đài không còn Hội Thánh cùng các cơ quan quyền lực quan trọng được xây dựng theo giáo luật, gồm có Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện.

    Nội dung Bản Án 1978

    Bản Án năm 1978 gồm trên 5 ngàn chữ, phân tích 4 giai đoạn thành hình và hoạt động của Đạo Cao Đài. Các giai đoạn này, theo nguyên văn Bản Án, bao gồm, “Thời Kỳ Thành Lập” từ 1926 đến 1938, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Phát Xít Nhật” từ 1939 đến 1945, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Miền Nam” từ 1956 đến 1975, và Thời Kỳ từ 30 tháng Tư, 1975 đến thời điểm ra đời bản án, tức tháng 9 năm 1978.

    Sau những phân tích nhằm chứng minh rằng, những chức sắc cao cấp, trong đó có cả những vị khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là tay sai cho Pháp, Nhật, Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, Bản Án đưa ra một số kết luận.

    Các kết luận ấy, phần lớn nhằm vào những người khai sáng đạo và các chức sắc cao cấp của Đạo, viết nguyên văn rằng: “Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo, lợi dụng niềm tin của quần chúng và làm tay sai cho đế quốc.”

    Dựa trên lập luận rằng, đạo Cao Đài đi theo đế quốc để đối lấy quyền lợi, nhận tài trợ từ đế quốc và Ngụy Quyền, chính quyền tỉnh Tây Ninh ra lệnh tịch thu “tài sản, dinh thự, các cơ sở kinh doanh của Hội Thánh” với lý do đây “không phải là của riêng ai, mà là tài sản của đế quốc đã rút chạy để lại”. Trên căn bản này, chính quyền tuyên bố cần phải “tước đoạt những phần tài sản của chức sắc do tham ô, ăn cắp, và dựa thế lực đế quốc tạo ra”.

    Một năm sau, chính quyền công bố quyết định 124/QĐ-UB, ra lệnh giải thể Hội Thánh và guồng máy hành chánh của Đạo từ trung ương đến địa phương. Một phần lớn tài sản của đạo Cao Đài cũng bị sung công quỹ. Một tín hữu Cao Đài, hiện vẫn còn sinh sống tại Việt Nam, phân tích:

    “Hội Thánh có thể chứng minh ai là sở hữu chủ của Tòa Thánh. Bằng chứng thứ nhất, toàn bộ cơ sở có từ năm 1926. Thứ hai là toàn bộ cơ sở đều có tên với 6 đại tự “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.” Tài sản này đã được công bố ngay từ khi lập đạo năm 1926 chứ không phải đợi đến năm 1965.

    Bây giờ chính quyền Việt Nam thường hay nói rằng pháp nhân 1965 là do Đệ Nhị Cộng Hòa ban, nên họ không chấp nhận, phải xoá đi. Như vậy là họ chụp ngang một giai đoạn. Hai sự kiện chứng minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có từ năm 1926 là tờ khai đạo với chính phủ Pháp, và cuộc lễ xã hội hóa trước xã hội vào ngày 15 tháng 10 năm 1926. Con dấu thì được đăng ký với chính quyền thời Pháp thuộc.”

    “Bản Cãi Án Cao Đài” năm 1982 của một số chức sắc Cao Đài


    Bốn năm sau khi chính quyền công bố Bản Án, ngày 3-5-1982, một số Sĩ Tải chức sắc của Hiệp Thiên Đài cho công bố
    một văn bản gởi một số cơ quan và cá nhân, trong đó có Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, tức thủ tướng, và Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, tức chủ tịch nước.

    Văn bản có tên “Bản Cãi Án Cao Đài” phản bác những cáo buộc nêu ra trong Bản Án năm 1978, đồng thời nói rõ rằng: “Đạo Cao Đài trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhứt trong lịch sử Đạo, do Bản án của Mặt Trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh đề ngày 20-9-1978, lên án các bậc tiền bối có công khai sáng mối Đạo…” Ông Nguyễn Thanh Liêm, một hiền tài của Đạo Cao Đài, nhớ lại:

    “Các vị Sĩ Tải đó là chức sắc của Hiệp Thiên Đài, tức là người nắm luật của Đạo. Khi bản án Cao Đài được ban ra, thì các chức sắc này làm bản cải án cho thấy không bằng lòng với bản án. Bản án đó lên án các chức sắc của Đạo là phản Cách Mạng, và vì vậy nên đồng đạo không bằng lòng.”

    Bản Cãi Án viết rằng, văn kiện tố giác các tiền bối Cao Đài không có chứng tích xác thật, mà chỉ ghép thành một “Bản án” không có phiên toà xét xử, và bị cáo là những vị đã qua đời từ lâu.

    Các tác giả của Bản Cãi Án viết rằng họ “không vội vàng để chờ xem kết quả của Bản Án, và nay mọi diễn biến đã an bày, bản án cùng với thời gian lùi vào quá khứ,” hệ lụy từ Bản Án năm 1978 gây ra cho đạo Cao Đài, không gì khác hơn, là “Những tín hữu không đồng ý với Bản án bị bắt bớ, giam cầm”, “Hội Thánh bị giải thể cùng với ba cơ quan Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện để thành lập “Hội Đồng Chưởng Quản” thay thế. Cùng với sự giải tán Hội Thánh, “nhiều dinh thự nội ô Toà Thánh cùng các động sản, bất động sản của Đạo đã bị trưng dụng.”

    Bản Cãi Án xác định giá trị tâm linh trong hành đạo

    Tuy nhiên, kết luận quan trọng và có lẽ gây khó chịu cho chính quyền lại nằm ở phần tâm linh của Bản Cãi Án. Kết luận đó là, “phần tinh thần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn, vì nó ở trong tâm khảm của mỗi người”, và “Chánh quyền Cách mạng làm mất cảm tình của 3 triệu tín đồ Cao Đài mà từ năm 1975 đến nay họ an tâm làm công dân nước Việt Nam mới Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa, không có hành vi chống đối hay đố kỵ.”

    Một trong những điểm khiến tín hữu Cao Đài đau lòng, là Bản Án năm 1978 lên án những nhân vật khai sáng Đạo, trong đó có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, là tay sai cho Pháp, Nhật, Mỹ. Một đạo hữu Cao Đài nói rằng, với Bản Án năm 1978, “chức sắc nào cũng là tay sai. Ai cũng có tội. Không ai vô tội. Từ chỗ đó, mọi tài sản bị sung công.”

    Đến năm 2006, chính quyền Việt Nam đã cho đưa liên đài của nhân vật mà trước đó gần 30 năm họ kết án là “phản quốc,” từ Cambodia trở về Việt Nam, nhập Bửu Tháp tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đó là trường hợp của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Người đạo hữu bày tỏ:

    Chính quyền hồi phục lễ miễu năm 2006


    “Tới năm 2006, họ lại rước liên đài ông Phạm Công Tắc về. Nói về mặt luật pháp, thì sao năm 1978 anh nói họ phản quốc, rồi nay rước họ về với nghi thức linh đình, cho nhập Bửu Tháp mà không có văn bản nào xoá án hay xin lỗi là nói sai? Đây là chính sách 2 mặt. Một mặt có tội, để lấy tài sản, bỏ tù, giải tán, mặt khác rước người ta về để nói là có tự do tôn giáo.”

    Năm 2006 cũng là năm Việt Nam vận động để được rút tên ra khỏi danh sách các quốc gia được quan tâm đặc biệt vì tình trạng vi phạm nhân quyền, dân quyền và tự do tôn giáo.

    Bản Án năm 1978 không phải là hành động duy nhất kết án, và qua đó, giải thể Hội Thánh, sung công tài sản. Từ thời điểm công bố văn kiện “Bản Án Cao Đài,” tôn giáo có lịch sử từ những năm 1920 còn trải qua nhiều thăng trầm khác. Những thăng trầm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, từ đây không xuất phát trực tiếp từ văn kiện chính thức của nhà nước, nhưng có nguồn gốc từ những chia rẽ, bắt đầu từ thời điểm công bố Bản Án 1978, và qua đó, là sự ra đời của Hội Đồng Chưởng Quản.

    Từ đây, những tín hữu Cao Đài nguyên thủy bắt đầu một cuộc tranh đấu mới, với phía bên kia là những người một thời từng là đồng môn, đồng đạo.

    Trong phần 3 của loạt 4 bài, ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do sẽ lần lượt ôn lại những thời điểm quan trọng trong quá trình 30 năm kể từ ngày ra đời của Bản Án. Các thời điểm này phản ánh những thay đổi trong cuộc tranh đấu của những tín hữu Cao Đài nguyên thuỷ. Và những thay đổi này, một cách tất yếu, bắt nguồn từ sự thay đổi trong chính sách quản lý tôn giáo của chính quyền.

     

    CỦA NHÀ DÒNG TRẢ LẠI CHO NHÀ DÒNG

     
    RFI phỏng vấn Linh mục Nguyễn Văn Khải về chuyến đi của phái đoàn Tòa Thánh ở đây.
     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 20/06/2008 14:54)
     
    CỦA CESAR TRẢ LẠI CHO CESAR CỦA NHÀ DÒNG TRẢ LẠI CHO NHÀ DÒNG
     
    HUẾ - Dòng Mến Thánh Giá Phủ Cam - Huế là một dòng nữ lâu đời ở Huế, đã tồn tại trên 200 năm (thành lập từ năm 1797). Hiện nay tọa lạc tại 152/8 Trần Phú, thành phố Huế. Khu đất của tu viện có trích lục địa bộ tổng diện tích là 7480m2 gồm 3 tờ trích lục.

    Năm 1920, do nhu cầu nâng cao trình độ kiến thức và tri thức cho thiếu niên, những mầm non tương lai của xã hội, nhà dòng đã thành lập ngôi trường mang tên trường tiểu học Têrêxa. Đã đào tạo được nhiều tài năng cho đất nước qua nhiều thế hệ, về phương diện Giáo hội cũng như Xã hội.

    Năm 1978, Ủy Ban Quân quản xã Thủy Phước nay là UBND phường Phước Vĩnh đứng ra mượn để làm nhà trẻ mẫu giáo. Sau đó, một số nữ tu là giáo viên vẫn được giữ lại làm cô giáo nhà trẻ, nhưng dần dần bị sa thải và nhà trẻ bị chiếm giữ.

    Nữ tu Maria Bùi Thị Lành, bề trên Dòng Mến Thánh Giá Phủ Cam - Huế đã trên 15 năm nay nhiều lần gửi đơn đi khắp nơi từ trung ương đến địa phương để yêu cầu trả lại ngôi trường nói trên, hao tốn nhiều công sức và tiền của. Đích thân nữ tu Bùi Thị Lành nhiều lần ra tận Hà Nội, đi lại tốn kém, sức khỏe mỏi mòn. Từ một Bề trên dòng năng nổ, tích cực. Không những có uy tín lớn đối với giáo phận mà còn có uy tín đối với chính quyền, rất được nể trọng. Nay nữ tu Bùi Thị Lành đã 73 tuổi, thuộc hàng “cổ lai hy”, mái đầu đã bạc trắng, không còn đủ sức khỏe để gánh vác công việc nên đã xin nghỉ hưu. Tuy nhiên, với tài năng và kinh nghiệm cũng như lòng đạo đức nữ tu Lành vẫn phải đảm đương cố vấn của nhà dòng. Nhu cầu cấp thiết của nhà dòng là phải lấy lại bằng được mảnh đất chỉ độ chừng 600m2 để làm nhà hưu dưỡng cho các nữ tu già yếu sau bao năm tháng dấn thân phục vụ cho Giáo hội và Xã hội. Vấn đề căn bản của việc đòi lại mảnh đất không chỉ là mảnh đất này mà là chân lý, lẽ công bằng tất yếu mượn là phải trả.

    Trong thời gian làm Bề Trên Dòng, nữ tu Bùi Thị Lành đã chịu nhiều áp lực từ phía chị em trong Hội Dòng. Đã nhiều lần chị em nữ tu có ý định tuyệt thực, làm reo để gây áp lực đối với chính quyền. Nhưng nữ tu Bùi Thị Lành là một người rất cương quyết và giàu nghị lực không muốn bạo động xảy ra mà chỉ muốn sự việc được giải quyết trong êm đẹp và ôn hòa nên đã khuyên bảo chị em hãy bình tĩnh chờ đợi. Và sự chờ đợi đó đã mòn mỏi trên 15 năm nay. Bây giờ sức đã cùng lực đã tận, nữ tu Maria Bùi Thị Lành chỉ mong ước trước lúc nhắm mắt xuôi tay, về với Chúa phải lấy lại bằng được ngôi trường để tròn trách nhiệm Bề Trên của mình. Nơi đó, biết bao công sức mồ hôi, nước mắt và cả máu của các nữ tu tiền nhân đã tạo dựng mà trách nhiệm của lớp hậu sinh kế thừa phải giữ gìn những di sản đó.

    Kèm theo bài viết này là hình ảnh bên phía trái từ trên xuống::

    1/Mảnh đất và ngôi trường bị chiếm dụng hiện đang là nhà trẻ mẫu giáo của phường Phước Vĩnh.

    2/Cảnh ngổn ngang bừa bãi trong sân trường dọc theo tường nhà của dòng.

    4/Nữ tu Maria Bùi Thị Lành với mái đầu bạc trắng hằng ngày vẫn miệt mài viết đơn gửi đi khắp nơi để đòi lại ngôi trường.

    3/Các nữ tu già lão hằng ngày vẫn cầu nguyện làm sao nhà dòng lấy lại được mảnh đất để xây dựng nhà hưu dưỡng.
     
    Trương Minh Phương
     

    MTGPhuCam

     

    VietCatholic News (Thứ Sáu 20/06/2008 15:31)
     
    Lời chứng tại chỗ về “Sự Lạ La Vang” lúc 09 giờ 40 phút ngày 13/6/2008

    HUẾ - Tôi là linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang, thuộc Tổng Giáo Phận Huế, hiện đang làm quản xứ giáo xứ Diên Sanh, cách La Vang tám cây số về hướng Nam. Tôi đã từng coi sóc Thánh Địa La Vang từ năm 1975 đến năm 1995.

    Tôi xin tường thuật “Sự Lạ La Vang” với tất cả sự thành thật của tôi trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Mẹ Maria La Vang.

    Lúc đó là 09 giờ 40 phút, sáng ngày 13 tháng 6 năm 2008, tại Thánh Địa La Vang, tôi đang ngồi ngay sau Linh Đài Đức Mẹ La Vang (sau Ba Cây Đa) để ghi tốc ký những gì Đức ông Pietro Parolin đang nói trong Thánh Lễ ở Linh Đài.

    Trong khi đang cúi đầu ghi câu “gió mát hài hoà…”, tôi nghe xôn xao rộn ràng quanh tôi và trước mặt tôi. Tôi nghe từ phía Linh Đài có tiếng nói: “Ai thả bong bóng lên trời vậy?”

    Tôi vội ngước mắt nhìn lên vì lúc đó tôi đang cúi đầu viết… Tôi sửng sốt vì thấy mọi người không còn nghe Đức ông Parolin giảng, mà ai ai cũng lấy tay che mắt để nhìn lên trời cao cho rõ.

    Tôi nhìn các linh mục đồng tế: các ngài cũng đang nhìn lên trời cao.

    Tôi nhìn các nam nữ tu sĩ đang có mặt ở bên hữu Linh Đài: họ cũng đang nhìn lên trời cao.

    Tôi nhìn các thành viên trong Hội Hát đang đứng bên tả Linh Đài: họ cũng đang nhìn lên trời cao.

    Nhìn xuống, tôi thấy toàn thể giáo dân hành hương cũng đang nhìn lên trời cao.

    Tôi nghe rõ những tiếng rộn ràng vang lên khắp nơi trong Thánh Địa La Vang: nào là: “Sự lạ! Sự lạ!”, nào là “Lạy Mẹ, Lạy Mẹ!”, nào là “Đẹp quá! đẹp quá!”

    Linh tính cho tôi biết rằng đang có một “sự lạ” xảy ra.

    Nhìn lên trời cao, tôi thấy mặt trời đang được bao quanh bằng một vòng tròn quá lạ và quá đẹp. Tôi vội đưa ngay máy chụp hình hướng lên thẳng mặt trời và chụp bốn lần.

    Tôi di chuyển đến gần những người đang nhìn lên mặt trời và chụp những bộ mặt sửng sốt và vui sướng của họ.

    Nhìn lên Linh Đài, nơi đang cử hành Thánh Lễ, tôi cũng thấy Đức Giám Mục chủ tế và các Đức ông đang nhìn lên trời cao…

    Trong vòng năm phút sau, mọi người được yêu cầu đừng xôn xao, và Thánh lễ được tiếp tục.

    Vì chăm chú vào Thánh Lễ, tôi không để ý đến hiện tượng nầy chấm dứt thế nào.

    Thánh Lễ xong, tôi vội tháp tùng Phái đoàn để ra gặp Chính Quyền Tỉnh Quảng Trị.

    Ngồi trong xe cùng với Đức Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Huế và Đức ông Vụ trưởng Bộ Truyền Giảng Phúc Âm cho các dân tộc, tôi cũng trao đổi với quý ngài về “sự lạ” nầy.

    Sau khi về lại giáo xứ tại Diên Sanh, tôi gặp những người có đi La Vang trong ngày 13 nầy, và biết được ai ai cũng hân hoan vì Đức Mẹ đã cho họ chứng kiến một biến cố lạ tại La Vang.

    Tôi điều tra kỹ để xem những ai không đi La Vang trong ngày hôm đó, hoặc lúc đó đang ở xa La Vang, chẳng hạn như ở Thừa Thiên Huế, ở những vùng tại Quảng Trị nhưng xa La Vang, trong lúc “sự lạ” xảy ra tại La Vang, thì được những câu trả lời giống nhau: họ không thấy sự gì lạ trên bầu trời dẫu lúc đó họ được những người thân ở La Vang gọi điện thoại di động đến để nói hãy ra xem bầu trời có dấu lạ, nhưng họ trả lời ngay la không thấy gì khác thường trên bầu trời lúc đó. Vi thế, tôi có thể kết luận rằng: “sự lạ” chỉ xảy ra trên bầu trời La Vang, và chỉ có những ai ở La Vang lúc đó mới thấy được “sự lạ” nầy.

    Lòng tôi tự nhiên suy nghĩ rằng: ngày 13 là ngày nhắc nhở đến sự lạ mặt trời xảy ra tại Fatima. Thế là trí tôi liên tưởng ngay đến “sự lạ Fatima” và “sự lạ La Vang”: hai sự lạ nầy có điểm giống nhau vì hai sự lạ nầy đều có liên quan đến mặt trời.

    Hiện nay, theo chủ quan của tôi, tôi nghĩ rằng tôi được Đức Mẹ La Vang cho tôi nghĩ đến một điều mà tôi cảm nghiệm đúng với lòng tôi mong ước….

    Nhưng điều quan trọng nhất hiện nay của tôi, cũng như của tất cả mọi người con của Chúa và của Mẹ Maria La Vang, là lo ăn năn đền tội, lo cải thiện đời sống, chuyên cần chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và đặt hết lòng tin tưởng vào tình yêu mẫu tử vô bờ vô bến của Đức Mẹ đối với tất cả mọi người nói chung, và đặc biệt nói riêng, đối với đồng bào Việt Nam yêu quý của chúng ta tại Quê Nhà cũng như đang sống ở Hải Ngoại, trên khắp năm châu bốn bể.

    Diên Sanh, ngày 17 tháng 6 năm 2008

    (một trong những người chứng kiến “Sự Lạ La Vang” tại chỗ, vào lúc 09 giờ 40 phút ngày thứ sáu, 13 tháng 6 năm 2006)
     
    LM Nguyễn Vinh Gioang
    June 20

    Dân biểu Mỹ họp báo về Nhân quyền VN trước chuyến thăm của TT Nguyễn Tấn Dũng

     
    Nhã Trân, phóng viên đài RFA
    2008-06-19

    Sáu ngày trước khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt chân đến thủ đô Washington, một số Dân biểu Mỹ và Cộng đồng người Việt đã tổ chức họp báo để nhắc nhở với hành pháp và dư luận Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

    nghe audio

    Trong thông cáo báo chí phổ biến đầu tuần này, Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Bush sẽ tiếp đón Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 24-6 tới đây. Thông báo cũng nói thêm là ngoài các lãnh vực kinh tế và xã hội, tổng thống Bush cũng sẽ lại nêu ra với Thủ tướng Việt Nam các vấn đề nhân quyền như quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp tại Việt Nam.

    Congressmen_080619_1_305Congressmen_080619_2_305

    Tại cuộc họp báo trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ sáng hôm qua 19-6, một nhóm dân biểu Mỹ cùng đại diện từ một số tổ chức theo dõi nhân quyền và một số hội đoàn người Việt hải ngoại cất tiếng nhắc nhở tổng thống Mỹ về những vi phạm các quyền căn bản của con người tại Việt Nam mà họ ghi nhận được.

    Thực trạng nhân quyền ở Việt Nam

    Sau diễn văn khai khai mạc của đại diện ban tổ chức buổi họp báo là nữ bác sĩ Nguyễn Thể Bình thuộc Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản, dân biểu Chris Smith của Đảng Cộng hòa Mỹ trình bày:
     
    "Chính quyền VN đã xóa bỏ các hứa hẹn, cam kết về nhân quyền, tự do  tuy các quyền của người dân đã được chính thức thừa nhận bởi luật pháp Việt Nam. Nhiều người bị bắt giữ chỉ vì những họat động liên quan đến tôn giáo, như linh mục Nguyễn Văn Lý.

    Hôm nay các nhà lập pháp, các đại diện các chính đảng Hoa Kỳ, và đại biểu nhiều tổ chức đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam họp mặt nơi này để  yêu cầu Tổng thống Bush lên tiếng một cách thẳng thắn, mạnh mẽ và cương quyết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc hội đàm tuần tới.
     
    Người dân Việt Nam có quyền được đối xử tốt hơn.  Họ phải được hưởng quyền tự do tôn giáo và các quyền khác."


    Các dân biểu Mỹ tham dự buổi họp cũng như các tổ chức nhân quyền của người Việt hải ngọai lên án rằng nhà cầm quyền Hà Nội trong năm qua đã gia tăng trấn áp các nhà họat động dân chủ  cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo.

    Với nhận định này, dân biểu Loretta Sanchez từ bang California nêu ý kiến rằng can thiệp của quốc tế là điều cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay:

    "Điều quan trọng là áp lực của bên ngoài, lên tiếng và đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tôn trọng nhân quyền.  Điều này giúp sức cho những người ở Việt Nam, đang đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ.  Thật không may là nhân quyền ở Việt Nam ngày càng ít được quan tâm.  Vì vậy vấn đề này sẽ tùy thuộc vào hành động của cộng đồng quốc tế, áp lực đòi hỏi Việt Nam cải thiện.

    Khi chính phủ Mỹ lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC và sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, chúng ta đã nghĩ rằng Việt Nam sẽ không cải sửa về vấn đề nhân quyền.  

    Việt Nam đàn áp bất cứ ai đang lên tiếng về vấn đề tự do thông tin, tự do ngôn luận, đồng thời sách nhiễu giới truyền thông, ví dụ trù dập nhà báo Nguyễn Hoàng Hải. Mỹ và quốc tế phải thấy điều đó.  Đó là tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam hiện nay.” 

    Kiến nghị lên Tổng thống Bush

    Cùng một quan điểm, dân biểu Frank Wolf  thuộc đảng Cộng Hòa từ bang Virginia mạnh mẽ phê phán rằng chính phủ Mỹ trong thời gian này có chiều hướng quan tâm nhiều về thương mại và kinh doanh với Việt Nam hơn, và không chú trọng đúng mức về nhân quyền.

    Cùng dự buổi họp báo là các dân biểu Zoe Lofgren, Frank Wolf và Ed Roy, bên cạnh đại diện của các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền như  Đảng Việt Tân và Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản.

    Nhân cuộc họp báo này, đông đảo tổ chức dân chủ, nhân quyền của người Việt hải ngoại gửi kiến nghị đến tổng thống Mỹ.  Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, trình bày:

    “Mười một hội đoàn đưa ra một bản lên tiếng gồm 5 điểm kêu gọi thế giới, bắt đầu với chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ để Việt Nam sớm có được những kiều điện tự do, dân chủ, nhân quyền.”

    Giám đốc Human Rights Watch, bà Sophie Richardson, cũng bày tỏ quan tâm về hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam, và đồng ý rằng tình hình cần được thay đổi.

    Đại diện Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ Leonard cho hay rằng tự do tôn giáo vẫn bị vi phạm vô cùng nghiêm trọng ở Việt Nam thời gian qua, vì vậy Tổng thống Mỹ cần lưu ý điều đó với lãnh đạo của Việt Nam. Và việc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC tức danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tôn giáo nên được xét đến.
     
    Dân biểu Chris Smith, người từng có gần 30 năm tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ của Việt Nam, nói rằng ông sẽ tiếp tục các nỗ lực tranh đấu cho vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam cũng như về tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em Việt Nam.
     
    Các ý kiến đưa ra tại cuộc họp sẽ đuợc đạo đạt lên tổng thống George W. Bush trước khi ông tiếp thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng tại Nhà Trắng vào ngày 24 tháng 6 tới đây.

    (Nhã Trân tường trình từ Washington DC.)

    Họp báo tại Quốc Hội Mỹ về dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam

    Một nhóm dân biểu quan tâm đến dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam vừa tổ chức một cuộc họp báo tại trụ sở quốc hội Hoa Kỳ nhằm lên tiếng cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền, vấn đề tự do tôn giáo và nạn buôn người tại Việt Nam trước khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam hội kiến với Tổng thống Hoa Kỳ tại Tòa Bạch Ốc vào đầu tuần tới. Tấn Chương của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã dự cuộc họp báo và có bài tường trình sau đây.

    Theo thông báo của Tòa Bạch Ốc thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam sẽ hội kiến với Tổng thống Bush vào thứ ba tuần tới mà mục đích chính là nhằm tiếp tục tăng cường các mối quan hệ giữa hai nước, tuy nhiên các dân biểu tại cuộc họp báo mới đây ở trụ sở quốc hội Hoa Kỳ đã lên tiếng yêu cầu Tổng thống Bush phải đưa vấn đề nhân quyền của Việt Nam vào một trong những điểm cần chú tâm nhất trong nghị trình của cuộc hội kiến với thủ tướng Việt Nam.

    Dân biểu Christopher Smith của bang New Jersey, một trong các đại biểu chủ trì cuộc họp báo nói: “Đề nghị Tổng thống Bush trong cuộc gặp gỡ vào thứ ba tới đây với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nêu lên những quan tâm và thông hiểu sâu sắc của chúng ta về tình trạng vi phạm nhân quyền tiếp tục gia tăng tại Việt Nam; người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng nhiều quyền tự do hơn. Tổng thống Bush phải tạo áp lực đòi chính phủ Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng nhân quyền, các quyền cơ bản, và phải nỗ lực chấm dứt tệ nạn buôn người.”

    Dân biểu Lorreta Sanchez của Bang California đã lên tiếng chỉ trích rằng kể từ khi trở thành hội viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tự do và dân chủ tại Việt Nam đã không được cải thiện mà ngược lại đã trở nên xấu đi.
     
    Dân biểu Sanchez nói: “Thật đáng tiếc là tự do tại Việt Nam ngày càng bị hạn chế hơn, không giống như những gì mà chính phủ nước này đã hứa. Thành tích nhân quyền của Việt Nam đã xấu hơn một cách đáng kể trong thời gian qua. Tình trạng này có được lưu ý và sửa đổi hay không sẽ tùy thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực hành động của cộng đồng quốc tế và của chúng ta.”

    Một dự luật nhân quyền cho Việt Nam do dân biểu Chris Smith đưa ra đã được Hạ viện thông qua nhưng đã bị chặn lại tại Thượng viện hai lần. Dân biểu Ed Royce cho biết dự luật này sắp được đệ trình lên Thượng viện một lần nữa và ông thúc hối Thượng viện thông qua dự luật này.

    Dân biểu Royce nói: “Chúng ta cần phải giải thích cho Thượng viện hiểu rõ rằng đấu tranh đòi dân chủ tại Việt Nam không phải là phải là những hành động khủng bố, và dự luật nhân quyền đó cần phải được thông qua, và chúng tôi cũng yêu cầu Tổng thống Bush nêu lên vấn đề nhân quyền với Thủ tướng Việt Nam.”

    Trong khi đó dân biểu Frank Wolf mạnh mẽ chỉ trích rằng chính phủ của Tổng thống Bush chú trọng vào những quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều hơn là vấn đề dân chủ và nhân quyền.

    Dân biểu Wolf nói: “Lịch sử sẽ ghi nhận những gì mà chính phủ của Tổng thống Bush làm, lịch sử sẽ chứng kiến hành động của Tổng thống Bush và của Ngoại trưởng Condoleezza Rice vào tuần tới, lịch sử chứng kiến những gì mà đại sứ của Mỹ tại Việt Nam làm. Còn tính đến thời điểm này thì họ đã không làm được một cái gì cả! Chẳng được một cái gì cả! Điều mà họ quan tâm là 'làm ăn kinh tế, làm ăn và làm ăn.' Tôi nghĩ rằng chính phủ của ông Bush phải chịu trách nhiệm về việc này, bằng không thì chúng ta phải có một sự thay đổi hoàn toàn.”

    Sự thay đổi mà dân biểu Ed Royce ám chỉ có lẽ sẽ xuất hiện trước cuối năm nay khi nước Mỹ tổ chức cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11, thế nhưng dư luận đang đặt câu hỏi là trong tình huống này liệu Tổng thống Bush có sẵn lòng đưa vấn đề nhân quyền Việt Nam vào một trong những điểm quan trọng của nghị trình cuộc hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tuần tới hay không.

    Tấn Chương - tường tình từ trụ sở quốc hội ở thủ đô Washington.

    VOA


     

     

    June 17

    Thông cáo chính thức về chuyến viếng thăm của Phái Đoàn Tòa Thánh tại Việt Nam

    VATICAN. Hôm 17-6-2008, Phòng Báo chí Tòa Thánh đã công bố thông cáo chính thức về chuyến đi của phái đoàn Tòa Thánh tại Việt Nam. Nguyên văn như sau:

    ”Phái đoàn Tòa Thánh, gồm có Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng ngoại giao, Đức ông Luis Mariano Montemayor, Tham tán Sứ Thần tại Phủ quốc vụ khanh, và Đức ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, Chủ Sự tại Bộ truyền giáo, đã đi Việt Nam trong những ngày từ 9 đến 15-6 và đã về đến Roma hôm qua (16-6-2008).

    Như thông lệ, chương trình dự kiến một loạt các cuộc gặp gỡ với chính quyền, ở cấp trung ương cũng như địa phương, và với cộng đoàn Công Giáo. Trước tiên, Phái đoàn đã họp với Đức Cha Phó Chủ Tịch và Tổng thư ký HĐGM, và sau đó với chính Đức Cha Chủ Tịch, Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, GM Đà Lạt, trong cuộc viếng thăm giáo phận của ngài, và với các GM thuộc giáo tỉnh Hà Nội.

    ”Các phiên họp làm việc với Ban Tôn giáo của chính phủ do ông Nguyễn Thế Doanh làm trưởng ban, đã tạo cơ hội thảo luận, trong bầu không khí thẳng thắn và thân mật, về nhiều khía cạnh của đời sống và hoạt động của Giáo Hội tại Việt Nam, đặc biệt là việc bổ nhiệm các GM, việc trao trả từ từ cho Giáo Hội sử dụng các tài sản đã bị quốc hữu hóa trước đây, sự đóng góp của các tín hữu vào việc thăng tiến con người, sự phổ biến một nền văn hóa liên đới với những tầng lớp yếu thế nhất trong dân chúng, và việc giáo dục luân lý cho các thế hệ trẻ.

    Phái đoàn Tòa Thánh đã được Phó Thủ trướng và ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm tiếp kiến, và đã trao đổi với ông về thời sự quốc tế. Đặc biệt về ghế thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ mà Việt Nam sẽ đảm nhận lần đầu tiên từ tháng 7 tới đây, chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng mà Việt Nam đang đảm trách trong cộng đồng các quốc gia và trong khuôn khổ miền, cũng như viễn tượng cộng tác với Tòa Thánh để mưu hòa bình và sự phát triển, tinh thần cũng như vật chất, của thế giới. Vấn đề bình thường hóa quan hệ song phương cũng được nêu lên. Để tiến tới điều này, hai bên dự kiến rằng Nhóm Làm Việc, với nhiệm vụ xác định thời gian và thể thức, sẽ khởi sự công việc sớm nhất trong thời gian tới đây. Các vấn đề nói trên cũng là đối tượng cuộc nói chuyện với ông Nguyễn Huy Quang, Phó Chủ tịch Ủy ban ngoại giao thuộc Ủy ban trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

    ”Phái đoàn Tòa Thánh đã gặp Chủ Tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Ông Nguyễn Thế Thảo, và các vị Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị. Với Ông Nguyễn Thế Thảo Phái đoàn đã nhắc đến những biến cố có sự can dự của các tín hữu thuộc Tổng giáo phận Hà Nội hồi cuối năm ngoái và đầu năm 2008. Về vấn đề này, cũng giống như trong các dịp khác, Phái đoàn nghĩ nên tiếp tục làm cho bầu không khí được thanh quang, tránh những biện pháp có thể đưa tới các hậu quả trái ngược, và tiếp tục đối thoại qua các thẩm quyền liên hệ, để tìm những giải pháp thích hợp, để ý tới những đòi hỏi của công bằng, bác ái và công ích. Ông Thế Thảo, tương đương với Đô Trưởng Hà Nội, đã nhiệt liệt mong ước rằng cộng đồng Công Giáo tích cực tham gia vào việc chuẩn bị mừng kỷ niệm ngàn năm Thành Phố Hà Nội, sẽ diễn ra vào năm 2010. Với chính quyền tỉnh Quảng Trị, Phái đoàn Tòa Thánh cám ơn vì đã quyết định trả lại cho Giáo Hội sử dụng khu đất quanh Trung Tâm Thánh Mẫu Lavang, và ý chí, cùng với tổng giáo phận Hà Nội, cứu xét giải quyết các vấn đề còn tồn đọng để thực sự thi hành quyết định nói trên.

    Sau cùng, Phái đoàn Tòa Thánh đã viếng thăm các Giáo phận Đà Lạt và Huế, trong bầu không khí đức tin sinh động và hiệp thông sâu xa của Giáo Hội thường có trong các cuộc gặp gỡ ấy, và Đoàn đã cử hành Thánh Lễ với các Đức Giám Mục Đà Lạt, Mỹ Tho, Nha Trang và Huế, đón nhận sự biểu lộ lòng yêu mến sâu xa và lòng trung thành với ĐTC. Điều đặc biệt cảm động là cuộc viếng thăm và Thánh Lễ tại Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang. Phái Đoàn đã để lại Trung Tâm một Mặt Nhật nghệ thuật do ĐTC Biển Đức 16 tặng, và cùng với tất cả mọi người tham dự đến từ tổng giáo phận Huế và các giáo phận của Việt Nam và cả từ nước ngoài, Phái Đoàn cầu nguyện để địa điểm rất được các tín hữu Công Giáo Việt Nam quí chuộng và được cả những người không Công Giáo tôn kính, ngày càng trở thành một trung tâm hiệp nhất và hòa giải cho mọi người dân của Việt Nam quí yêu, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hoặc chính trị. (SD 17-6-2008)

    G. Trần Đức Anh OP chuyển ý
    Radio Vatican

    HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN SUN HALO

     
    Tại Thánh địa La Vang, theo như tin trong nước đưa tin, chính vào lúc Đức Ông Parolin trao tặng Hào Quang Mình Thánh Chúa do ĐTC Bênêđictô XVI tặng cho  Thánh địa La Vang, đã xảy ra một hiện tượng thiên nhiên đẹp mắt, mà một số người có niềm tin xem đó như là "phép lạ" cho Giáo Hội Công Giáo VN. Đức Ông trưởng phái doàn thì ghi nhận :" Tôi tin rằng Mẹ đang hiện diện với chúng ta".
     
    Tuy nhiên, những bức hình cho  thấy được đó là hiện tượng SUN HALO (hào quang mặt trời) cũng đã từng xuất hiện đây đó. Nét giống nhau là chữ Hào Quang này đều dùng cho hiện tượng thiên nhiên Mặt trời và Hào Quang Mình Thánh Chúa. Và đó là một hiện tượng thiên nhiên hiếm có như là quà tặng Thiên Chúa ban cho Giáo Hội VN, cho Linh địa La Vang và cho con dân nước Việt. Hy vọng đó là một dấu chỉ cho một ngày mai tươi sáng cho con người và đất nước Việt nam.
     
    Dưới đây là một số hình ảnh về hiện tượng này ở La Vang và những nơi khác :
     
     
    ĐC Hồng đón nhận Hào quang Mình Thánh Chúa
     
     
    Sun Halo ở La Vang
     
     
    Chiêm ngắm hiện tượng thiên nhiên kỳ thú.
    photo : Vietcatholic
     
     
    Và dưới đây là hiện tượng thiên nhiên SUN HALO ở nơi khác :
     
     
    UTAH
     
     
     
     
    Nguồn : NASA
     
     
     
     
      
     
    June 16

    Từ tình cảnh giáo xứ Kẻ Mui… đến chuyện đạo lý xã hội thời nay

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 16/06/2008 12:58)
     
    Từ tình cảnh giáo xứ Kẻ Mui… đến chuyện đạo lý xã hội thời nay

    Chuyện làm nhà lấn lối đi chung hay lấn sang hàng xóm chẳng phải chuyện lạ trong xã hội VN vì nó thường diễn ra. Tuy nhiên đối với đất nhà thờ, chùa chiền việc này lại là hiếm thấy và nếu có cũng chỉ ở mức độ vi phạm hàng rào, nhờ tập tục đã có bao đời nay dân gian thường kiêng dè những nơi thờ phượng chẳng mấy ai dám đụng đến. Vì thế trước những gì đang diễn ra tại giáo xứ Kẻ Mui có thể xem là điều hơi “khác thường”, những hộ ngoại giáo ấy chắc chắn không dám ngang nhiên làm việc này nếu không có sự hậu thuẫn của chính quyền địa phương, vì mấy căn cứ sau:

    • Nhà dân “mọc” lên trong khuôn viên nhà thờ việc => tội lấn chiếm đã quá rõ!
    • Làm nhà ở chứ nào phải dựng chuồng gà? qua hằng ngày ai mà chẳng thấy nên đâu thể giấu giếm.
    • Thời gian thi công có nhanh nhất cũng mất cả tháng làm sao qua mặt chính quyền? nhà ở hợp pháp của dân cần sửa chữa mà không xin phép, hôm trước khởi sự là hôm sau cán bộ công an phường xã kéo đến bắt đập ngay.


    Ai đã từng ở VN đều biết, cùng với chuyện quản lý chặt chẽ về hộ khẩu để kiểm soát về con người, các thủ tục về nhà cửa cũng hết sức nhiêu khê. Làm nhà “lậu” như trên mà êm xuôi trót lọt xem ra cũng khó hơn chuyện “dắt lạc đà chui qua lỗ kim”.

    Điểm đáng lưu ý thêm là đối với các “vấn nạn” về tài sản không riêng gì ở giáo xứ này mà của cả giáo hội, đã xảy ra trên cả nước trong khoảng hai thập niên 70-80 khi chính quyền cộng sản xâm chiếm trọn miền Nam. Thời ấy họ tỏ ra rất kiêu căng và háo thắng, mọi chủ trương của họ cho thấy rõ điều này:

    • Vô sản hóa đã làm điêu đứng dân chúng về kinh tế
    • Duy vật hóa tác hại đến đạo đức xã hội
    • Vô thần hóa khiến giáo hội cũng thành nạn nhân.
    Khi ấy, giá trị đất đai nhà cửa ngay tại các đô thị lớn như Sàigòn, Hà Nội không có giá trị ngất ngưởng như hiện nay. Nhiều người còn sẵn sàng “hiến” (mà thực ra là bị ép các sĩ quan từ cấp tá trở lên trong diện H.O) hoặc “bán” lại cho nhà nước với giá rẻ mạt cho xong thủ tục để sớm được đi định cư nước ngoài, người khác lại lo tìm đường vượt biên bỏ lại nhà cửa. Như vậy, đối với những vùng quê nghèo như Hà Tĩnh trên, đất rộng người thưa nhà cửa có giá trị là bao để đến nỗi phải đi xâm phạm đất nhà thờ?

    Suy ra từ trường hợp của giáo xứ Kẻ Mui, chúng ta càng hiểu rõ hơn động cơ chính của những vụ cưỡng chiếm tài sản giáo hội bấy lâu, không hẳn vì nhu cầu hay giá trị của tài sản, mà chủ trương muốn xóa bỏ tôn giáo mới chính là mục đích. Những lý lẽ nhà nước hay viện dẫn để chạy tội “vì hoàn cảnh khó khăn hay nhận thức dân chúng còn thấp” hoàn toàn không có chỗ đứng trong những kiểu xâm chiếm lạ đời như vậy, mà chỉ có những ý đồ đen tối nơi họ.

    Đến chuyện đạo lý xã hội thời nay

    Vì đâu mà nhiều giá trị tinh thần cao quí trong xã hội VN ngày nay bị tổn thương nghiêm trọng? Vì đâu mà những nơi tôn nghiêm như nhà thờ, chùa chiền mà người ta cũng chẳng còn biết kiêng sợ ?

    Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ trương lối sống duy vật do cộng sản tuyên truyền suốt nửa thế kỷ qua chắc chắn đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm linh đối với dân chúng.

    Khi chủ nghĩa này sụp đổ, “lý tưởng” cũng chẳng còn (dù chỉ là ảo tưởng nhưng có vẫn hơn không) cái giá phải trả về mặt đạo đức, tâm lý xã hội là điều tất yếu. Đã thế đảng CSVN lại không muốn cho dân chúng nhận ra những sự sai lầm và lỗi thời của chủ nghĩa cộng sản ấy, nên vẫn phải ca tụng nó và thế là cả xã hội sống trong một bầu không khí tràn ngập sự giả dối.

    Sở dĩ họ đã làm thế trước hết là để bảo vệ sự quyền lợi cai trị của chính họ, sau nữa vì sợ làm đau lòng hàng triệu gia đình có người thân đã ngã xuống trong cuộc chiến đẫm máu hơn một phần tư thế kỷ do họ chủ xướng và được các “đàn anh” LX, TQ giao phó là bảo vệ tiền đồn của phe XHCN ở vùng Đông Nam Á, nhưng với dân chúng họ lại mượn danh nghĩa dân tộc để giải phóng đất nước.

    Nước Đức đã không cần làm thế nhưng nay họ cũng đã thống nhất đất nước gần 20 năm chỉ sau VN hơn chục năm, Bắc-Nam Hàn ngày thống nhất chắc cũng chẳng còn xa vời, thế thì VN tại sao không? Không chiến tranh, loạn lạc chắc chắn kinh tế cả hai miền đã không bị kiệt quệ nặng nề, không có cảnh ly tán Bắc Nam, trong ngoài nước, đạo đức xã hội không bị suy đồi nhiều như hiện nay.

    Nhưng sống giữa thời đại thông tin bùng nổ sự che giấu ấy là không thể, dân chúng vẫn biết đâu là sự thật, chẳng qua vì vì sợ chính quyền đàn áp chưa có nhiều người dám đứng ra chống đối mà phải chấp nhận sống trong im lặng. Ban đầu là chịu đựng nhưng lâu dần cũng thành thói quen, người trẻ trông thấy người lớn nói một đằng làm một nẻo, lần đầu có thể làm họ ngạc nhiên nhưng lâu dần cũng lại thành quen. Cứ như thế, đạo lý và trật tữ xã hội mỗi ngày bị xã hội gậm nhấm một ít, cạn kiệt lúc nào chẳng ai rõ?

    Những năm gần đây, báo chí dư luận đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo về thực trạng suy thoái đạo dức xã hội ngoài tham nhũng còn rất nhiều chuyện khác, mua quan bán chức, thi cử gian lận, vụ “Vàng Anh”, xì ke ma túy gái điếm, thấy trò bạo hành nhau, trẻ em bị hành hạ v.v… nhưng tuyệt đối chẳng có tờ báo nào dám đụng đến nguyên nhân cội rễ của vấn đề là sự giả dối về chính trị đã dẫn đến giả dối về kinh tế, giáo dục v.v… đang bao trùm cả nước.

    Nhìn lại xã hội xưa

    Thời Pháp thuộc, mang tiếng là đất nước bị đô hộ nghèo nàn và lạc hậu, tThế nhưng các hình ảnh tư liệu cũ lại cho thấy VN đã từng có một xã hội sống có tôn ti trật tự và tử tế hơn thời “độc lập - tự do” bây giờ gấp vạn lần, nhiều bằng chứng bây giờ vẫn đang còn hiện hữu đó.

    Thời ấy nhà dòng, nhà thờ, chùa chiền được “mọc” lên khắp nơi để truyền đạo lý cho dân chúng. Rất nhiều nhà thương (ngày xưa gọi nhà “thương” còn thời nay gọi là bệnh viện nên bác sĩ, y tá họ cũng rất “sòng phẳng”, tiền nhiều thì chăm sóc tốt không tiền thì chỉ có chờ chết) viện cô nhi, dưỡng lão, trại phong cùi, các cơ sở từ thiện được xây dựng trên cả nước để giúp đỡ những người bất hạnh, nghèo khổ. Ngoài ra, giáo hội còn được phép mở trường từ tiểu học lên đến bậc đại học để dạy dỗ các thế hệ trẻ không chỉ văn hoá mà còn về đạo đức, nhân cách.

    Người Pháp rút khỏi VN đã hơn nửa thế kỷ không biết có thêm mấy ngôi thánh đường nguy nga cỡ Nhà thờ Đức Bà SG, Nhà thờ lớn Hà Nội, Nam Định và bao nhiêu trung tâm từ thiện tôn giáo như Nhà An dưỡng – Từ Thiện Thị Nghè được xây dựng? Mà những việc này nói lên điều gì, nếu chẳng phải đạo lý được nhà nước, xã hội xem trọng?

    Về trình độ văn hóa và quản lý đất nước, ngày xưa việc học hành còn khó khăn nhưng có dịp xem những giấy tờ như khai sanh, bằng khoán cũ mới thấy, chữ nghĩa của một anh công chức “quèn” như mấy ‘thầy ký’ cũng hơn cán bộ bây giờ nhiều, trình độ Pháp ngữ của họ chẳng những giỏi mà chữ viết ai nấy đều rất đẹp. Còn bây giờ trình độ cán bộ ra sao? Tìm được “ông” cán bộ cấp quận ở Sàigòn biết ngoại ngữ tương đối khá khá, đọc được sách báo nước ngoài cũng đã thấy khó như “mò kim đáy biển” vậy.

    Gần đây trước việc ngập lụt cả thành phố Sàigòn trong lúc các cơ quan lúng túng không biết sao giải quyết, trám được chỗ này lại ngập chỗ khác. Có người đã tìm ra nguyên nhân có liên quan đến ý đồ qui hoạch Sàigòn xưa rất đúng về địa lý, đó là vùng Nam Sàigòn vì là vùng trũng khi xây dựng thành phố vài thế kỷ trước các kiến trúc sư Pháp đã tránh dùng nơi này để làm lối thoát nước cho cả thành phố. Ấy vậy mà các “bố” cán bộ mình thấy gần Quận I có giá cao nghe lời một tập đoàn Đài Loan bỏ tiền lấp đầm hồ xây dựng khu đô thị mới Nam Sàigòn Phú Mỹ Hưng sang trọng hiện nay, còn dân chúng nội thành cũ chịu ngập lụt.

    Với cả một hệ thống lãnh đạo đã nghèo về trình độ văn hoá như vậy, lại không biết trọng dụng nhân tài xem “hồng hơn chuyên” thẻ đỏ đảng cao hơn chuyên môn, thì việc dẫn đưa đất nước đến bờ vực phá sản là chuyện tất yếu.

    Kết luận: Bảo thực dân Pháp là “bóc lột” nhưng nhìn lại khối di sản người Pháp đã làm và để lại cho đến thời nay khiến những ai quan tâm đến đất nước phải “ganh tỵ” và cảm thấy xấu hổ với họ. Ngay đến chữ quốc ngữ chúng ta đang dùng là nhờ công lao rất lớn của cố đạo người Pháp Alexandre de Rohde như mọi người đều biết.

    Về mặt tôn giáo, từ ngaỳ chiếm trọn cả hai miền Bắc Nam nay đã hơn 30 năm, họ chẳng những đã không làm được gì cho tôn giáo phát triển mà còn tìm mọi cách chia rẽ đạo và có thời còn đi cướp đoạt tài sản đang có của giáo hội. Ngay với ngôi mộ cha cố Alexandre de Rohde ở cuối đường Trương Minh Giảng (nay là Lê văn Sỹ) Q.Tân Bình cũng bị họ đã đào tung mồ mả lên khoảng năm 1977

    Việc xóa bỏ ngôi mộ cổ đang trong tình trạng còn khá nguyên vẹn này, dân chúng trong nuớc thậm chí ngay tại Sàigòn cũng chẳng mấy ai hay biết và báo chí từ đó đến nay chưa một lần đề cập đến, nhưng mai này khi chế độ cộng sản không còn cai trị, chắc chắn việc làm trên sẽ bị lên án không chỉ lý do tôn giáo mà còn vì giá trị lịch sử của nó. Dẫu sao thì việc làm này cũng không xóa nổi tên tuổi Ngài, vùng địa danh ấy đến nay vẫn còn được mọi người gọi bằng “Lăng Cha Cả” quen thuộc ngày trước.

    Trên báo điện tử VietnamNet (16/6/2008) có bài “Đại danh lam chùa Dạm đã thành phế tích?” trong đó có đoạn: Năm 1947, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, dân làng Nam Sơn (Quế Võ, Bắc Ninh) đã phải đốt chùa không cho giặc chiếm, các lão làng bây giờ vẫn còn nhớ: “Ngôi chùa cháy trong mấy ngày mới hết. Đêm chùa cháy có một trận phong ba nổi lên cuốn bụi khói mịt mù, dân làng kinh hãi bảo nhau sau này nhất quyết phải dựng trả lại chùa để không đắc tội với thần linh. Cụ bà Nguyễn Thị Thập buồn rầu kể tiếp: “Thế mà, cách đây chừng một tháng, trời trở gió, mái chùa dột. Thấy tượng mẫu bị ướt sũng, dân làng lên than khóc như mưa. Dân nghèo chưa xây được chùa tử tế để mẫu ướt, đau lòng lắm!”.

    Những chuyện phá mồ mả, hoại chùa chiền vô tội vạ như vậy diễn ra khắp nơi và cũng giống như những tài sản của giáo hội bị xâm phạm trước giờ, chẳng mấy ai biết cho mãi đến gần đây.

    (Một giáo dân Sàigòn)
     
    Alfonso Hoàng Gia Bảo
     

    Vatican và Việt Nam "còn tiếp tục trao đổi"

     
    Phái đoàn cao cấp của Vatican kết thúc chuyến thăm Việt Nam trong khi Tổng Giám mục Hà Nội nói vụ tòa Khâm sứ đã “khai thông sự sợ hãi” trong giáo dân.

    Tin từ Thông tấn xã Công giáo nói phái đoàn do Thứ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh, Đức ông Pietro Parolin dẫn đầu đã thăm Đại Chủng viện Thánh Giuse, Sài Gòn hôm Chủ Nhật 15/06 trước khi rời Việt Nam sau một tuần làm việc.

    Hiện chưa có thông tin gì trên trang VietCatholic News về kết quả chuyến đi, nhất là chuyện Giáo hội đòi lại một số bất động sản hiện do nhà nước quản lý.

    Tuy nhiên, có vẻ như điều đạt được trong chuyến đi chỉ là việc xác định chính thức hơn khả năng Giáo hội tăng cường hoạt động của các chủng viện và đào tạo các linh mục.

    Tất cả diễn ra trong không khí Vatican "còn phải tiếp tục trao đổi với Chính phủ Việt Nam về nhiều điều", như lời Đức ông Parolin nói tại TPHCM hôm qua.

    Đức ông Parolin yêu cầu giáo dân tiếp tục cầu nguyện cho những điều đó.

    Báo Nhân Dân của đảng Cộng sản Việt Nam tiết lộ là hai bên "cần sớm xác định thời gian cụ thể phiên làm việc đầu tiên của tổ chuyên gia hỗn hợp", nhưng không nói rõ cơ chế này vận hành thế nào, gồm những ai.

    Tờ báo cũng nói đến việc "đẩy nhanh tiến độ xây dựng lộ trình phát triển quan hệ song phương" mà chưa đề cập đến quan hệ ngoại giao chính thức.

    Trong thời gian đi thăm Canada, Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt nói hôm 13/06 ở Quebec rằng trong khi diễn ra vụ đòi tòa Khâm sứ cũ ở Hà Nội “nhiều nơi đã bày tỏ sự hậu thuẫn đối với ngài”.

    Tôn giáo vươn dậy

    Sự xuất hiện của các nhóm giáo dân đến từ nhiều vùng quanh Hà Nội và các tỉnh miền Bắc để cầu nguyện đòi tòa nhà từ cuối 2007 sang đầu năm 2008 đã gây sự chú ý của dư luận.

    Nay, theo Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt thì khi đó “có nơi, ở miền Bắc cũng như ngay cả ở miền Nam, đã gọi điện thoại cho ngài nói rằng sẵn sàng gửi người đến Hà Nội nếu ngài cần hỗ trợ.”

    Điều quan trọng hơn cả, theo như Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt là “biến cố tòa Khâm sứ cũng đã khai thông sự bế tắc, sợ hãi đã có từ lâu,”

    “Người giáo dân Việt Nam đã dám nói lên tiếng nói của họ và chính quyền cũng nhận thấy đã đến lúc cần phải lắng nghe ý

     
    nguyện của dân.”

    Theo Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đây không phải là chuyện đòi đất mà là “công bằng và sự thật” và rằng “cầu nguyện trong ôn hòa” là cách nói của Giáo hội chứ không phải là cách nói của đảng phái chính trị hay thế lực nào.

    Trả lời BBC trước hôm phái đoàn Tòa Thánh lên thăm Đà Lạt 11/06, Giám mục Đà Lạt Nguyễn Văn Nhơn cho hay:

    "Thời gian qua, Giáo hội trao đổi với chính quyền về một vài cơ sở mà Giáo hội thấy cũng cần có để thi hành chức năng của mình. Giáo hoàng Học viện là nơi trước kia là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Giáo hội vẫn rất thiết tha."

    Ngài nhấn mạnh: "Nếu Giáo hội có cần cơ sở này hay miếng đất kia, thì cũng chỉ nhắm đến phục vụ mục đích chung."

    Giám mục Nguyễn Văn Nhơn nói về tự do tôn giáo ở Việt Nam rằng còn tùy vào góc độ mỗi bên:

    “Từ phía nhà nước, tự do giữ đạo đã là tự do. Về phía Giáo hội, tự do tôn giáo không chỉ là tự do giữ đạo, mà có cả sự tự do nói chân lý của mình."

    Chuyến thăm lần thứ 15 của phái đoàn Tòa Thánh có mục tiêu thúc đẩy quan hệ hai nước, tiến tới bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

     BBC

     

    Mục sư Tin Lành cùng gia đình đang tị nạn ở Cambodia bị bắt cóc

     

    Mục sư Tin Lành cùng gia đình đang tị nạn ở Cambodia bị bắt cóc

    Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA

    2008-06-15

    Một mục sư Tin Lành cùng gia đình tị nạn tại Cambodia, đã bị những người la mặt bắt đưa đi biệt tích cách đây mấy hôm.

    Nghe audio

    Người bị bắt đưa đi biệt tích là mục sư A Đung, thuộc giáo hội Tin Lành Mennonite, nguyên quán tại xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Ông là Tổng quản nhiệm giáo hạt Sa Thầy.  Ông đang cùng với 600 người Thượng và gia đình tị nạn chính trị ở Xứ Chùa Tháp.  Ông cùng gia đình vừa rời khỏi trại tị nạn của Liên Hiệp Quốc hồi tuần truớc để tạm trú ở bên ngoài, thì ngay hôm sau bị bắt cóc giữa ban ngày, trong Thủ Đô Phnom Penh.

    Tín đồ Tin Lành gặp khó khăn khi hành đạo

     
    Trước đây tại Việt Nam mục sư A Đung thường tham gia các khóa huấn luyện về mục vụ, tâm linh do Giáo Hội Tin Lành Mennonite tổ chức tại Sài Gòn.  Trở về nguyên quán tại Kontum, mục sư bị cơ quan an ninh sở tại đe dọa sách nhiễu thường xuyên.

    TinLanh_TinLanhVN

    Sinh họat cầu nguyện của Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam, nhóm họp hồi tháng 3-2008 ở Pleiku.

    Tháng 9 năm 2006, sau khi hoàn tất khóa học tại Phnom Penh và trở về quê quán, mục sư A Đung bị công an huyện Sa Thầy bắt giam suốt 10 ngày. Ông bị phạt hành chánh số tiền 500 ngàn đồng, bị quản chế tại gia 5 năm và bị cấm tham gia các hoạt động tôn giáo, mục vụ tại bất cứ hội thánh nào tại vùng Tây Nguyên hay ở địa phương.
    Hàng tuần, mục sư A Đung phải đến trình diện cơ quan công an tại Sa Thầy.
     
    Đến tháng 8 năm 2007, mục sư A Đung cùng gia đình qua được Campuchia xin tị nạn chính trị và được Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tiếp nhận và đưa vào trại  tị nạn ở Phnom Penh.
     
    Hiện nay, hàng tuần đều có một số người Thượng bị trục xuất về Việt Nam, mục sư A Đung cũng nhận được lệnh phải quay về nước, nên quyết định rời khỏi trại để tiếp tục hành trình tìm tự do tại Bangkok, Thái Lan.
     
    Một trong những người tiếp xúc với mục sư A Đung, trước khi ông bị bắt, là Thầy Chấp Sự truyền đạo Phạm Quốc Vĩnh, thuộc Hội Thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam, hoạt động tại Phnom Penh, kể lại phóng viên Ban Việt Ngữ chúng tôi:
     

    " Mục sư A Đung chỉ liên hệ điện thoại với tôi khi biết tôi và Truyền đạo A Mốc là một người bạn của tôi cũng ở Kontum. Mục sư A Đung có nhờ tôi giúp tìm một nơi ở nhưng tôi từ chối là vì lý do thực sự là tôi không thể giúp được. Tôi thực sự cũng hết sức là bàng hoàng, bởi vì sau khi thầy A Đung có cho tôi số điện thoại riêng của thầy và dặn tôi thường xuyên liên lạc với thầy. Khi tôi không thấy thầy nhắn tin đến máy của tôi nữa, tôi lập tức sử dụng điện thoại công cộng để gọi liên lạc từ đó đến giờ không được."
     
    Thầy truyền đạo Phạm Quốc Vĩnh cũng cho biết thêm những điều ông hiểu về hoạt động của Mục sư A Đung nơi quê nhà:
     
    " Tôi cũng chưa rõ lý do vì sao, cái sự việc thầy A Đung như thế nào, nhưng mà tôi được biết là thầy A Đung lên đây tị nạn. Theo tôi được hiểu thì cũng có một số việc đụng chạm đến chính quyền địa phương tại dưới, cho nên thầy A Đung lên Kampuchia."
     
    Qua tin tức ghi nhận từ Kampuchia thì Mục sư A Đung bị một số người vây bắt, đẩy lên xe, rồi biến mất sau đó.

    Vụ bắt cóc có người chứng kiến


     

    Ông Nguyễn Nam, một người Việt sinh sống tại Kampuchia, thường giúp đỡ các đồng hương khi họ mới đặt chân tới xứ này, thuật  lại với Đài Á Châu Tự Do những chi tiết mà ông  biết rõ:
     
    "Tôi biết đây là một tin tức chính xác. Ảnh bị bắt vào 5 giờ 30 chiều và có một chiếc xe đó là màu cà phê sữa, và cùng đi với 5 người đã đến và đã bắt tất cả những người trong gia đình đó khi họ mới mướn nhà, ngủ được một đêm. Họ đã bị bắt tất cả là trong đó có 4 người: A Đung và một chị đó là Siêu Hát Nhiên và một đứa cháu gái ,con của chị, và một người thanh niên khoảng 20 tuổi. Nhiều người Việt Nam và người Kampuchia mướn phòng ở đó rất là đông và họ đã chứng kiến tất cả những sự việc xảy ra ở đó như vậy đó."
     
    Vẫn theo ông Nam thì chuyện dư luận cho rằng có mật vụ cộng sản qua Kampuchia bắt người và trà trộn trong phái bộ Liên Hiệp Quốc ở Phnom Penh là điều có thật:
     
    "Theo tôi nghĩ đó cũng là một vấn đề chính xác tôi biết được từ nhiều năm nay. Có những người trong anh em chúng ta mà họ cũng đã biết tôi rất là rành. Mấy ngày nay nói đúng ra thì tôi cũng bị có vấn đề phiền phức. Tôi cũng muốn nhắc lại với anh là từ khi Lê Trí Tuệ đã xảy ra cũng là tại căn nhà của tôi, và Trương Quốc Tuấn, nói về Trương Quốc Tuấn sự thật ra không có tôi trong vấn đề để bảo vệ anh trong một tình huống khó khăn thì chắc giờ này Trương Quốc Tuấn đã về Việt Nam chớ không đi Mỹ đâu. "
     
    Một người Kampuchia ở cạnh phòng trú của Mục sư A Đung nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do chúng tôi là ông thấy 4 người Việt mặc thường phục đến bắt gia đình người Thượng rồi trói tay dẫn cả 4 ngựời lên xe đem đi mất.
     
    Kế đó, bà Tố Anh, một tín hữu Tin Lành Mennonite, định cư tại Phnom Penh, nói rằng việc mục sư A Đung bị bắt có thể tránh được, trong phút chốc:
     
    "Đầu tiên em không có biết ổng là người ở trong trại, trong Cao Uỷ. Nếu mà em biết đựơc là người ở trong Cao Uỷ thì chắc có lẽ là em cho y hay được là không bị bắt đâu. Khi đầu tiên đến bắt là chỉ bắt có người em trai trong nhà mà thôi, còn hai vợ chồng y thì đi uống cà phê với mục sư Khang, thì trong lúc đó có người lại báo thì đâu biết là người tị nạn. Nếu mà có người tị nạn thì chắc có lẽ là không có bị bắt đâu, chỉ bị bắt có người em trai thôi.

    Bả lại mướn nhà cũng ở gần em đây, nhưng mà tại vì em không biết được bả là người tị nạn, chớ nếu mà biết là người tị nạn thì vợ chồng em dứt khoát là phải cứu bả chớ không bị bắt đâu. Em thấy người Việt Nam mình bị bắt thành ra rất là tiếc, nhưng mà không biết làm sao cứu người ta được. Em rất là hối hận vì không biết để tìm mọi cách để cứu người ta vì lúc đó vẫn còn cứu được, trong hai chục phút đó."

     
    Được biết, một số người Việt tị nạn tại khu vực thủ đô Phnom Penh, sau khi nhìn thấy tận mắt cảnh bắt bớ mục sư A Đung và cả gia đình ông, ngay ngoài đường phố đông người, đã tức khắc báo tin cho văn phòng Phủ Cao uỷ Tị nạn Liên Hiệp Quốc, nhưng một nhân viên nơi đây trả lời rằng phái bộ này không có trách nhiệm bảo vệ bất cứ một ai ở bên ngoài khu vực trại tị nạn.
     
    Sống trong hoàn cảnh hoang mang, lo lắng, không biết số phận mình sẽ ra sao nên nhiều người Việt tị nạn đã lẩn trốn ra ẩn náu ở miền quê hẻo lánh trên đất Chùa Tháp.

     

    cuộc viếng thăm của Phái Đoàn Toà Thánh tại La Vang

     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 13/06/2008 13:15)
     
    LA VANG - Hôm nay, ngày thứ sáu, 13 tháng 6 năm 2008, Phái đoàn Toà Thánh đến Thánh Địa La Vang. Phái đoàn gồm Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại giao của Toà Thánh, Đức ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, Vụ trưởng Bộ Truyền giảng Phúac Âm cho các dân tộc, Đức ông Luis Mariano Montamayor, tham biện Toà Sứ thần tại Phủ Quốc Vụ Khanh.

    Đức Giám Mục Phụ Tá TGP Huế, Đức Cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, cùng đi theo Phái đoàn. Đúng 08g30, đội kèn của Nhà Thờ Chính Toà Phủ Cam cử hành bài Hành Khúc Giáo Hoàng trong khi được tin Phái đoàn sắp đến Thánh Địa La Vang. Cọng đoàn hành hương hân hoan vui mừng đón tiếp Phái Đoàn đến.

    Melavang1Melavang2

    Đúng 08g45, Thánh Lễ kính Đức Mẹ La Vang được cử hành tại Linh Đài Đức Mẹ La Vang vừa mới được trùng tu. Đức Giám Mục Phụ Tá TGP Huế chủ tế. Cùng đồng tế, có Ba Đức ông trong Phái Đoàn Toà Thánh, Đức Đan Viện phụ Thiên An, cùng 70 linh mục. Con số tu sĩ và giáo dân tham dự ước độ 5.000 người.

    Trước Thánh Lễ, linh mục Hạt trưởng Hạt Quảng Trị đọc lời của Tổng Giáo Phận Huế chào mừng Phái Đoàn Toà Thánh tại Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang như sau.

    Trọng kính Đức Ông PIETRO PAROLIN, Thứ Trưởng Ngoại Giao của Toà Thánh,
    Kính thưa Đức Ông Barnabê NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Vụ trưởng Bộ Truyền Giảng Phúc Âm cho các dân tộc,
    Kính thưa Đức Ông LUIS MARIANO MONTAMAYOR, Tham Biện Toà Sứ Thần tại Phủ Quốc Vụ Khanh.

    Hôm nay, Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang được vinh dự đón tiếp Phái Đoàn Toà Thánh, dưới sự bảo trợ của Hiền Mẫu La Vang. Đại diện cho mọi thành phần dân Chúa, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân đang hiện diện, chúng con xin bày tỏ lòng yêu mến và biết ơn sâu xa của chúng con vì sự ưu ái của Phái đoàn đối với Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang. Chúng con cũng xin Quý Đức Ông kính dâng lên Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh và Đức Hồng Y Tổng Trưởng Bộ Truyền Giảng Phúc Âm cho các dân Tộc, lòng yêu mến nồng nàn và sự tuân phục hiếu thảo của chúng con.

    Kính thưa quí Đức Ông,
    Thánh địa La Vang nằm trong xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tổng Giáo Phận Huế và cách thành phố Huế khoảng 60 km về phía Bắc. Đúng 210 năm về trước, La Vang là một thôn nhỏ bé nằm sâu trong rừng thiêng nước độc. Vào tháng 8 năm 1798, Vua Cảnh Thịnh, Nhà Tây Sơn, ra sắc chỉ cấm Đạo Công giáo. Để tránh những cuộc tàn sát đẫm máu, một số giáo dân vùng Quảng Trị chạy trốn vào rừng La Vang nầy. Họ tập trung cầu nguyện và lần hạt, kêu xin Đức Mẹ cứu giúp, che chở. Một ngày kia, trong lúc họ đang đọc kinh cầu nguyện, Đức Mẹ hiện ra rực rỡ tươi đẹp vô cùng.

    Đức Mẹ phán với họ: "Các con hãy tin tưởng, hãy cam lòng chịu khổ. Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ này về sau, những ai chạy đến cầu khẩn với Mẹ tại chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện". Từ 210 năm nay, nhiều người, lương cũng như giáo, hằng ngày hành hương về La Vang và đã nhận được nhiều ơn huệ phần hồn cũng như phần xác. Hiện giờ hằng năm, có bốn cuộc hành hương theo truyền thống tại La Vang, và cứ ba năm một lần, có Đại Hội Hành Hương toàn quốc kéo dài ba ngày, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8, vào dịp lễ Mẹ Lên Trời Hồn Xác.

    Năm 1998, kỷ niệm 200 Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, số khách hành hương lên đến 250000 người. Trong tháng 8 năm 2005, dịp Đại Hội Hành Hương lần thứ 27, số người hành hương đã đạt đến gần 50.0000 người.

    Còn vấn đề đất của Trung tâm, trước đây, La Vang đã có hơn 23 hecta. Nhưng từ 1975, La Vang chỉ được sử dụng gần một phần ba, khoảng hơn 6 hecta. Ngày 14 tháng 1 năm 2007, Đức Cha Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Đức Tổng Giám Mục Tổng Giáo phận Huế đã có văn thư gởi cho Chính Quyền Trung Ương đề nghị giải quyết đất của Trung tâm La Vang để Giáo Hội Việt Nam có thể đáp ứng tốt hơn, những nhu cầu mới.

    Ngày 10 tháng 8 năm 2008, trong một buổi họp giữa phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Huế và Chính Quyền Tỉnh Quảng Trị, Ông Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Chính nói lên quyết tâm của Chính Quyền muốn giải quyết dứt điểm vấn đề đất La Vang và hứa sẽ trao lại gần toàn bộ đất La Vang, khoảng 21 hecta, cho Giáo Hội Việt Nam, trừ hơn 2 hecta sau con suối. Trên phần đất sau con suối nầy, Chính Quyền và Trung Tâm La Vang cam kết sẽ không xây dựng bất cứ cơ sở nào hết, chỉ trồng cây làm khu sinh thái, và khi cần thiết, La Vang có thể tạm thời sử dụng mặt bằng.

    Cho đến hôm nay, vẫn còn là một cam kết trên nguyên tắc và bằng miệng. Cần phải chờ đợi hoàn tất thủ tục đo đạc, cắm móc và giải toả mặt bằng trước khi có một văn bản chính thức và hợp pháp. Hiện nay việc làm thủ tục đang được tiến hành, chúng con hy vọng vấn đề sẽ được giải quyết trước ngày khai mạc Đại Hội Hành Hương 13 tháng 8 sắp tới.

    Đền Thánh La Vang đã được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nâng lên bậc Tiểu Vương Cung Thánh Đường do Tông thư Magno Nos ngày 22 tháng 08 năm 1961. Đền Thánh nầy đã bị phá huỷ hoàn toàn trong cuộc chiến 1972.

    Ngày mồng 01 tháng 05 năm 1980, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã thiết lập Thánh Địa La Vang làm Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc, lặp lại quyết định ngày 13 tháng 04 năm 1961 trước đây của Hộị Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam.

    Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường nhắc đến Đức Mẹ La Vang trong những dịp đặc biệt, như dịp phong thánh các Chân Phước Tử Đạo Việt Nam tại Roma (ngày 19 tháng 06 năm 1988), dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới năm 1993 tại Denver, dịp tiếp kiến Phái đoàn Giám Mục Việt Nam về Roma ngày 14-12-1996, viếng mộ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô.

    La Vang cũng được vinh dự đón tiếp nhiều Phái đoàn của Toà Thánh đến kính viếng như Phái đoàn của Đức Hồng Y Roger Etchegaray, phái đoàn của Đức Hồng Y Crescenzio Sepe và hôm nay, Phái đoàn của Đức Ông Pietro Parolin.

    Kính thưa quí Đức Ông, đó là một vài điểm chính yếu, chúng con xin vắn tắt đệ trình lên Phái đoàn để tường. Một lần nữa, chúng con xin chân thành cám ơn Phái đoàn đã đến kính viếng Linh Địa La Vang.

    Xin Thánh Mẫu La Vang ban tràn đầy ân phúc xuống trên quí Đức Ông. Chúng con xin kính dâng lên Quí Đức Ông một kỷ vật nhỏ để nhớ về La Vang. Chúng con xin trân trọng kính chào.

    Sau bài chào mừng, Thánh Lễ bắt đầu. Trong bài giảng Thánh lễ hôm nay, Đức ông Pietro Parolin, trưởng Phái Đoàn Toà Thánh, nói lên những điều như sau bằng tiếng Italia, và Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương dịch ra tiếng Việt. Chúng tôi tóm lược được những điều sau đây.

    Lạy Mẹ La Vang, chúng con cảm tạ Mẹ đã cho phép chúng con đến đây, trong Thánh Địa của Mẹ, để cầu nguyện với Mẹ, Mẹ Hoà Bình, Mẹ của Đất Nước Việt Nam, Mẹ của mọi tín hữu. Chúng con đến đây để cầu nguyện với Mẹ, hiệp cùng với những tín hữu hiện nay đang có mặt ở đây, và cùng với những người sau nầy sẽ đến đây cầu nguyện với Mẹ.

    Chúng tôi, Phái Đoàn Toà Thánh được Đức Thánh Cha gởi đến đây. Xin chào mừng tất cả Quý Đức Cha, Các Cha, quý Tu sĩ và giáo dân có mặt tại đây.

    Anh chị em thân mến, tất cả chúng ta đều thuộc một gia đình, Gia Đình Giáo Hội. Ở đây, không một người nào lẽ loi vì ở đây có Mẹ. Tất cả mọi người đều cần có Mẹ. Lạy Mẹ, chúng con là con của Mẹ, chúng con đến đây trong tình yêu thương và tin tưởng. Đây là trung tâm, nơi quy tụ tất cả mọi người của Đất Nước Việt nam và từ khắp nơi, để hiệp nhất với những người tuy không cùng một tín ngưỡng, nhưng cũng là một dân tộc, cũng là đồng bào với nhau. Xin Mẹ cho tất cả mọi người được đầy hồng ân, hạnh phúc. Xin ban cho mọi người trên Đất Nước nầy được đời sống tâm linh, đời sống đạo đức xã hội.

    Sau 15 lần viếng thăm Việt Nam, đây là lần đầu tiên chính thức của Phái Đoàn Toà Thánh đến thăm Thánh Địa La Vang. Chúng tôi chân thành cám ơn Chính Quyền Quảng Trị. Những gì chúng tôi yêu cầu đều được Chính Quyền đáp ứng thoả đáng. Sự hiện diện của Phái Đoàn chúng tôi hôm nay tại đây chứng tỏ sự ưu ái của Đức Thánh Cha đối với nơi nầy.

    Thánh Địa La Vang nầy đã được sự quan tâm cua Giáo Quyền và của các Đức Thánh Cha là điều rõ ràng, ai cũng biết. Tôi chỉ xin nhắc lại lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói năm 1988 trong dịp lễ Phong Các Thánh Tử đạo Việt Nam: Ngài ưu ái cầu mong nơi đây sớm được tái thiết để trở nên nguồn an bình cho mọi người.

    Chúng tôi cảm tạ vì chương trình tái thiết nầy luôn được sự đóng góp, cộng tác giữa những người có trách nhiệm và tin tưởng.

    Dĩ nhiên, sự hiện diện của Phái Đoàn Toà Thánh hôm nay tại nơi đây là đại diện cho Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Đức Thánh Cha hứa sẽ gởi Thông Điệp và Phép lành Toà Thánh đến cho Đại hội La vang năm nay (cộng đoàn hành hương vỗ tay vang trời thật lâu). Sự hiện diện của Phái Đoàn Toà Thánh luôn luôn là sự hiện diện của Đức Thánh Cha vì chính Ngài gởi chúng tôi đến đây và gởi lời chào mừng đến từng mỗi người (cộng đoàn hành hương lại vỗ tay vang đội).

    Như một lưu niệm cụ thể, Đức Thánh Cha gởi đến đây Chiếc Hào Quang để nói lên sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể, Con Đức Cháu Trời, và sự hiện diện của Đức Mẹ Maria nơi Thánh địa nầy. Vậy xin Mẹ làm cho mỗi người chúng con tin tưởng thế nào Mẹ cũng sẽ ban ơn cho chúng con.

    Trong những lần hiện ra tại đây, Mẹ dạy chúng con đến đây cầu nguyện thì thế nào cũng được Mẹ nhậm lời, như lời Mẹ phán: từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu Mẹ tại chốn nầy, Mẹ sẽ ban ơn cho họ. Thật như lời thánh Bênađô quả quyết: không ai chạy đến với Mẹ mà phải ra về tay không. Và như chúng ta có thể thấy, Mẹ ban cho chúng ta hôm nay có gió mát hài hoà…

    Bỗng hàng ngàn người hành hương tại Thánh Địa La vang xôn xao cực độ khi vừa nghe Đức ông Pietro Parolin nói “Mẹ ban cho có gió mát hài hoà…” vì họ đang chứng kiến một cảnh lạ trên trời: ngay trên bầu trời La Vang, bên dưới là Ba Cây Đa, nơi Đức Mẹ hiện ra, nơi đang diễn ra Thánh Lễ, mặt trời dịu lại một cách bất ngờ, và xuất hiện một vòng tròn tuyệt đẹp vây quanh mặt trời. Cảnh tượng quá bất ngờ và quá đẹp nầy làm cho hàng ngàn người sửng sốt. Nhiều người quá ung sướng hô lên: “Sự lạ, sự lạ”. Hàng ngàn cặp mắt cùng hướng lên mặt trời đang nằm giữa vòng tròn quá đẹp.

    “Sự lạ” nầy kéo dài đến năm phút. Nhiều người đã chụp ảnh được hiện tượng nầy. Tôi thấy khuôn mặt nhiều người rất cảm động. Và tôi cũng thấy một số người rút điện thoại di động ra, báo tin cho người thân ở xa biết ở Thánh Địa La Vang đang có một hiện tượng lạ. Chính tôi cũng ghi được một số hình ảnh về hiện tượng nầy.

    Thánh lễ được tiếp tục trong niềm hân hoan của mọi người, và kết thúc lúc 10g15. Sau Thánh Lễ, ba Đức ông trong Phái Đoàn Toà Thánh được các tín hữu hành hương vây quanh chào đón với tất cả sự nồng nhiệt vui mừng, làm cho các Đức ông cảm động, lưu luyến.

    Đúng 10g45, Phái Đòan Toà Thánh ra thăm Chính Quyền Quảng Trị tại Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Trị ở Thị xã Đồng Hà. Đức Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Huế đi theo Phái Đoàn. Và tháp tùng Phái Đoàn, có linh mục Hạt trưởng Hạt Quảng Trị.

    Tại buổi viếng thăm nầy, Đức ông Trưởng Phái Đoàn Toà Thánh có đặt vấn đề về Đất La Vang. Đức Giám Mục Phụ Tá TGP Huế cũng góp ý về vấn đề nầy. Và chúng tôi được biết thêm một lần nữa, qua lời của ông Nguyễn Đức Chính, Phó Chủ Tịch UBND Tỉnh Quảng Trị, quyết tâm của Chính Quyền Quảng Trị giải quyết vấn đề La Vang trong êm đẹp và thông cảm.
    LM Nguyễn Vinh Gioang
     

    Phái đoàn Toà Thánh thăm Đại Chủng viện Thánh Giuse Saigòn

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 16/06/2008 01:13)
     
    SAIGÒN - Sáng Chủ Nhật, ngày 15-6-2008, Phái đoàn Toà Thánh gồm Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại giao của Toà Thánh, Đức ông Barnaba Nguyễn Văn Phương, Vụ trưởng Bộ Truyền giảng Phúc Âm cho các dân tộc, Đức ông Luis Mariano Montamayor, Tham biện Toà Sứ thần tại Phủ Quốc Vụ Khanh, đã đến thăm Đại Chủng viện Thánh Giuse, Thành Phố Saigòn. Trong chương trình chính thức, Phái đoàn Toà Thánh chỉ đi thăm 2 Giáo phận Đà Lạt và Huế. Sau khi thăm Giáo phận Huế, ngày thứ bảy, 14-6-2008, Phái đoàn Tòa Thánh đến Saigòn với mục đích để lấy máy bay trở về Rôma vào trưa Chủ Nhật, 15-6. Tranh thủ thời gian hạn hẹp, Phái đoàn đã đến thăm, dâng lễ với các chủng sinh vào lúc 6g00, sau đó ăn sáng và rồi ra phi trường trở về Rôma. Trong thánh lễ, có sự hiện diện của ông Tổng Lãnh Sự Pháp tại Saigòn. Vì Phái đoàn Toà Thánh không có thời gian, nên ông Tổng Lãnh Sự đã đến tham dự Thánh lễ để có dịp gặp và chào thăm Phái đoàn.

    Trừ các bài thánh ca và phần Phụng vụ Lời Chúa với các bài đọc bằng tiếng Việt, Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latinh. Trong bài giảng, Đức ông Parolin đã chia sẻ về các bài Sách Thánh Chúa Nhật 11 Thường Niên A với 2 điều nhắn nhủ với các chủng sinh: lòng yêu mến Chúa Giêsu và lòng yêu mến Giáo Hội.
     
    dcvsaigon1dcvsaigon3 

    Trước hết, khởi đi từ bài Tin Mừng (Mt 9,36-10,8) nói về Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương trước đám đông như đoàn chiên không người chăn, như đồng lúa chín mà không có thợ gặt, nên Ngài đã kêu gọi các môn đệ hãy cầu xin Thiên Chúa sai thợ gặt đến, Đức ông Parolin đã mời gọi các chủng sinh hướng về tình yêu của Chúa Giêsu như khởi điểm của ơn gọi tông đồ linh mục. Tình yêu thương cứu độ đó được Thánh Phaolô nhấn mạnh trong bài đọc 2, trích thư Rm 5,6-11: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. Vì thế, người chủng sinh, linh mục phải là người yêu mến Chúa Giêsu và có được những tâm tình yêu mến như Chúa Giêsu.

    Tiếp đến là lòng yêu mến Giáo Hội. Lòng yêu mến Giáo Hội được minh hoạ từ Thánh lễ mà Phái đoàn Toà Thánh đang cùng các chủng sinh cử hành bằng tiếng Latinh và tiếng Việt. Từ âm vang của tiếng Latinh, Đức ông Parolin đã nhắc các chủng sinh về lòng yêu mến và hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu. Trong tâm tình hiệp thông này, một lần nữa, Đức ông Parolin đã chuyển lời chào thăm của Đức Thánh Cha đến Giáo hội Việt Nam. Đồng thời, từ âm vang của tiếng Việt, các chủng sinh được mời gọi yêu mến Giáo hội Việt Nam là Giáo Hội địa phương, đang được cắm rễ trong văn hoá Việt Nam, trong ngôn ngữ Việt Nam.

    Từ 2 suy tư và nhắn nhủ trên, Đức ông Parolin đã chia sẻ tâm tình của ngài khi nhìn các chủng sinh như là tương lai của Giáo Hội. Ngài đã nhắc lại một điểm chủ yếu được nhấn mạnh, khi Phái đoàn Toà Thánh trao đổi với Chính phủ Việt Nam: đó là “cùng hướng đến một tương lai tốt đẹp cho Đất nước Việt Nam và Giáo hội Việt Nam”. Trong cái nhìn đó, các chủng sinh được mời gọi hãy tích cực chuẩn bị trong giai đoạn đào tạo tại chủng viện, để có thể trở thành những linh mục thánh thiện cho ngày mai.

    Cuối Thánh lễ, trước khi ban phép lành, Đức ông Parolin đã cám ơn Cha Giám đốc, các Cha giáo sư và tất cả các chủng sinh. Và ngài mời gọi tất cả hãy cầu nguyện đặc biệt cho những điều mà Phái đoàn Toà Thánh đang còn phải tiếp tục trao đổi với Chính phủ Việt Nam.

    Sau Thánh lễ, Phái đoàn Toà Thánh đã chụp hình chung và ăn sáng với gia đình Đại Chủng viện. Trong bầu khí thân tình tại nhà cơm, Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng, Giám đốc Đại Chủng viện, đã đại diện đọc diễn văn chào mừng Phái đoàn Toà Thánh.

    153 Chủng sinh với Phái đoàn Toà Thánh

    Trước hết, Cha Giám đốc đã giới thiệu vắn tắt về sinh hoạt của Đại Chủng viện hiện nay với 153 chủng sinh: 34 chủng sinh thuộc năm 1 Triết học, 43 chủng sinh thuộc năm 1 Thần học và 76 chủng sinh thuộc năm 3 Thần học.

    Vào ngày 28-6-2008 sắp tới, trong số 76 chủng sinh thuộc năm 3 Thần học, 14 chủng sinh thuộc Tổng Giáo phận Saigòn và 6 chủng sinh thuộc Giáo phận Đà Lạt sẽ được phong chức phó tế.

    Kể từ năm học 2007-2008, chính quyền đã chấp thuận cho mở một Cơ sở II của Đại Chủng viện Thánh Giuse tại Xuân Lộc, vì thế, Đại Chủng viện Thánh Giuse tại Saigòn chỉ nhận chủng sinh mới nhập học từ 3 Giáo phận: Phú Cường, Mỹ Tho và Saigòn; còn các chủng sinh từ 4 Giáo Phận - Phan Thiết, Đà Lạt, Xuân Lộc và Bà Rịa - sẽ được gửi đến học tại Xuân Lộc. Và cũng từ năm học 2007-2008, chính quyền đã chấp thuận cho chiêu sinh mỗi năm, thay vì chiêu sinh 2 năm một lần như trước đây.

    Sau phần giới thiệu vắn tắt, Cha Giám đốc đã nói đến việc từ nhiều năm qua, giáo dân Việt Nam luôn chú ý theo dõi và cầu nguyện cho những chuyến viếng thăm của Phái đoàn Toà Thánh. Đặc biệt trong chuyến viếng thăm lần này, Đại Chủng viện cầu nguyện cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Toà Thánh sớm được thực hiện.

    Cuối cùng, ngài cám ơn Phái đoàn Toà Thánh về cuộc viếng thăm mà Phái đoàn đã dành cho gia đình Đại Chủng viện. Dù thời gian rất vắn vỏi, nhưng sự hiện diện của Phái đoàn Tòa Thánh đã là nói lên tình yêu thương dành cho các chủng sinh và sự quan tâm của Toà Thánh cho việc đào tạo linh mục.

    Trước khi ra về, Đức ông Parolin đã xin Cha Giám đốc cho ngài một món quà: đó là xin các chủng sinh hát lại bài hát kết thúc Thánh lễ vừa rồi. Dù không hiểu lời bài hát, nhưng dòng nhạc cũng như những tâm tình mà các chủng sinh đã biểu lộ qua bài hát đã để lại cho ngài một ấn tượng đặc biệt. Lời bài hát được gợi hứng từ Thánh vịnh 126 với hình ảnh vất vả, đầy nước mắt của người ra đi gieo giống, nhưng rồi thay vào đó sẽ là niềm vui hớn hở vào ngày thu hoạch vụ mùa:

    Đẹp thay, ôi đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi.
    Đẹp thay, ôi đẹp thay những bước chân rảo khắp nẻo đường.
    Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng.
    Ai gieo trong nước mắt, sẽ về giữa tiếng cười.
    Ôi đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới,
    Loan tình thương, tình thương Chúa Trời,
    Loan niềm vui, niềm vui cứu đời,
    Cho mọi người và mọi nơi
    ”.

    Được biết, trên đường về khách sạn để lấy hành lý ra phi trường, Phái đoàn dành ít phút ghé thăm Nhà thờ Chánh toà Sài Gòn.
     
    UB Truyền thông/HĐGMVN
     

    Đức TGM Ngô Quang Kiệt kể chuyện liên quan tới Tòa Khâm Sứ Hà Nội

     
    VietCatholic News (Chúa Nhật 15/06/2008 15:17)
     
    QUEBEC, Canada - Hôm thứ Sáu 13/6/2008 trong dịp đến Canada tham dự Đại Hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 49 tại Quebec và do lời mời của linh muc Giám đốc Đền thánh Giuse ở Montreal, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã đến dâng thánh lễ tại đây và nhân dịp này ngài cũng đã ghé thăm cộng đoàn Montreal.
     
    80614lang1

    Được biết tin này từ trước, một nhóm hơn 20 anh chị em thuộc cộng đoàn Vermont ở gần biên giới Canada đã rủ nhau lên đường đi Montreal để được gặp Đức Tổng Giám Mục.

    Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt là một tên tuổi được nhiều người biết đến. Với cộng đoàn Vermont ngài còn có mối liên hệ đặc biệt ngay từ khi ngài được bổ nhiệm về giáo phận Lạng Sơn năm 1999. Giáo dân trong cộng đoàn hẳn chưa ai quên hình ảnh qủa chuông con con được treo lủng lẳng trên cây nhãn vì không có tháp chuông. Xem xong cuốn video “Một thoáng Lạng Sơn” có người bảo chắc trên thế giới không có giáo phận nào nghèo hơn giáo phận Lạng Sơn.

    Để hỗ trợ cho một giáo phận đang vô cùng thiếu thốn cả về nhân lẫn vật lực, giáo dân của Cộng đoàn đã nhanh chóng tán đồng ý kiến rằng mỗi năm vào dịp lễ Giáng Sinh Cộng đoàn sẽ quyên góp gửi về giúp cho giáo phận Lạng Sơn. Công việc đã được xúc tiến ngay từ dịp lễ Giáng Sinh năm 1999 và vẫn còn tiếp tục. Tuy số tiền trợ giúp của cộng đoàn chẳng to tát gì nhưng “một miếng khi đói bằng một gói khi no” và việc trợ giúp cũng nói lên tinh thần hiệp thông giữa những người con của Giáo hội.

    Trở lại với vị chủ chăn. Có thể nói Cộng đoàn đã đồng hành với Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt trong từng bước đi của ngài từ khi ngài còn ở Lạng Sơn cũng như khi ngài được bổ nhiệm về làm Tổng Giám mục ở Hà Nội. Tất cả tin tức liên quan đến hoạt động của ngài đều được đưa vào tờ nội san của Cộng đoàn để mọi người theo dõi và vì vậy Cộng đoàn đã có sự gắn bó mật thiết với ngài.

    Không những luôn hướng về ngài mà mỗi khi có ai trong Cộng đoàn về Việt Nam và có dịp đi ra miền Bắc đều không bỏ lỡ cơ hội đến thăm Đức Tổng Giám Mục. Năm ngoái ông bà Nguyễn Khắc L đến thăm Đức TGM. Dù bề bộn công việc ngài cũng dành thì giờ gặp ông bà. Khi nhìn tấm ảnh chụp Đức TGM đón tiếp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong dịp ông Dũng đến thăm Tòa TGM nhân vụ tòa Khâm sứ, ông L nói chính ông bà cũng đã được Đức TGM tiếp tại căn phòng đó. Năm nay một thành viên khác của Cộng đoàn nhân dịp về Việt Nam cũng đã ghé tòa TGM và cũng đã được gặp Đức TGM. Bà nói bà đã được tận mắt nhìn thấy bản “Tối hậu thư” lịch sử do bà Phó chủ tịch Ngô Thị Minh Hằng ký tên được dán ngay tại phòng tiếp tân khi bà đến xin gặp Đức TGM.

    Nay nhân dịp Đức TGM đến Montreal, một cơ may hiếm có, nhóm hơn 20 anh chị em chúng tôi đại diện cộng đoàn đã lên đường đến gặp vị chủ chăn rất gần gũi với Cộng đoàn.

    Khởi hành từ những thành phố khác nhau trong tiểu bang Vermont chúng tôi đến Montreal khi Đức TGM còn đang trên đường đến từ Toronto. Vào lúc 3giờ 30 chúng tôi được Đức TGM tiếp trong một phòng họp nhỏ ở trong khu vực Đền thánh. Tại đây dù mới trải qua một cuộc hành trình 6 giờ đồng hồ, Đức TGM tỏ ra không chút mệt mỏi, ngài vẫn tươi cười và niềm nở với mọi người.

    Mở đầu buổi gặp gỡ, chúng tôi cúi đầu nhận phép lành từ Đức TGM. Tiếp đó người đại diện của nhóm sau khi chào mừng Đức TGM đã ngỏ ý rằng chuyến đi Montreal lần này không ngoài mục đích bày tỏ lòng yêu mến Đức TGM, muốn nói lên sự gắn bó của Cộng đoàn đối với Đức TGM cũng như với Giáo hội quê nhà. Từ một Cộng đoàn nhỏ bé ở một nơi xa xôi trên lãnh thổ nước Mỹ, giáo dân của Cộng đoàn Vermont vui mừng trước những thành qủa mà ngài đã đạt được, cảm thấy không vui khi ngài bị hiểu lầm, phải nghe những lời ong tiếng ve và cũng không khỏi băn khoăn, lo lắng trong thời gian ngài phải đối diện với những khó khăn, bất trắc nhất là trong biến cố tòa Khâm sứ vừa qua. Về phần ngài, Đức TGM cho biết ngài mong ước hành hương đến Đền thánh Giuse từ lâu, nay mới thực hiện được và ngài cũng rất vui mừng khi thấy có những giáo dân từ một cộng đoàn nhỏ đến với ngài.

    Trong buổi gặp gỡ kéo dài khoảng 30 phút, cha con đã đã có dịp ôn lại từ những ngày đầu khi ngài mới về Lạng Sơn. Hồi đó giáo dân ai cũng biết Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt về nhận giáo phận Lạng sơn với hai bàn tay trắng. Đức TGM nhắc lại năm 2000 khi ngài sang Rôma Đức HY Mẫn đã giới thiệu ngài là một giám mục ba không: không tòa Giám mục, không nhà thờ chính tòa và không hang giáo sỹ. Cả giáo phận vỏn vẹn chỉ có một linh mục đã 96 tuổi và một nữ tu 100 tuổi. Đức Giám mục phải tự đảm nhiệm mọi công việc của giáo phận, từ việc lớn đến việc nhỏ. Nay Lạng sơn đã có ngôi nhà thờ khang trang, có tòa giám mục đàng hoàng, đã đào tạo được 8 linh mục, hiện đã có 52 nữ tu và có 8 chủng sinh đang học tại Đại chủng viện. Khi về Hà Nội ngài cũng đã làm được một số việc và theo ngài có những việc sẽ có kết qủa tốt nhưng chưa thể thấy ngay được. Ở cuối buổi gặp gỡ, Đức TGM đã chụp hình với với nhóm trước khi ngài rời phòng họp để đến gặp cha Gíam đốc Đền thánh và cũng để chuẩn bị cử hành thánh lễ vào lúc 4 giờ 30.

    Thánh lễ do Đức TGM chủ tế cùng đồng tế có cha Giám đốc Đền thánh Giuse, các linh mục từ Việt Nam đến Canada dự Đại hội Thánh Thể và một số linh mục Việt Nam ở vùng Montreal, đã được cử hành tại ngôi thánh đường nhỏ ở tầng dưới (Crypt church). Ngôi thánh đường này vốn có trên 1,000 chỗ ngồi đã được giáo dân Việt Nam tại Montreal và khách hành hương ngày hôm đó đến dự lễ ngồi gần kín. Mở đầu thánh lễ, linh mục Giám đốc Đền thánh ngỏ lời chào mừng Đức TGM. Tiếp đó Đức TGM bày tỏ lòng tri ân đối với cha Giám đốc đã gửi thư mời ngài đến viếng thăm và dâng lễ tại Đền thánh. Ngài cũng gửi lời chào đến tất cả mọi người hiện diện và ngài xin mọi người hiệp ý cầu nguyện cho giáo phận Hà Nội, cho Giáo hội Việt Nam và ngài cũng xin cầu nguyện cho nhau nữa. Thánh lễ được cử hành hầu hết bằng tiếng Pháp. Bài giảng của ngài bằng tiếng Việt đã được linh mục Gioan Baotixita Đinh Thanh Sơn, quản nhiệm giáo xứ Các thánh Tử đạo Việt Nam ở Montreal, dịch ra tiếng Pháp.

    Trong bài giảng, Đức TGM đề cập nhiều đến những gương mẫu cần học hỏi từ Thánh Giuse. Ngài nói khi đến Candada ngài nhận thấy đất nước này dùng hai thứ ngôn ngữ trong giao dịch hang ngày, tiếng Anh và tiếng Pháp. Theo ngài có một thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ thông cảm nhau mà thánh Giuse sử dụng là thứ ngôn ngữ của trái tim. Ngài khuyên mọi người nên noi gương thánh Giuse để nói cũng như nghe bằng ngôn ngữ trái tim. Tuy nhiên ngài cũng nói ngày nay thời đại thông tin bung nổ người ta nói qúa nhiều cho nên chấp nhận những điều mình không thích không phải là dễ dàng gì. Ngay cả chấp nhận ý Chúa cũng khó khăn vì ý Chúa không giống như ý của ta. Vâng, cần phải cầu nguyện với thánh Giuse và noi gương thánh nhân để mở rộng cõi lòng ra khi nói cũng như khi nghe thì mới dễ thông cảm với người khác và làm cho người khác dễ cảm thong với mình. Khi mà người ta đến với nhau bằng con tim, nói với nhau bằng sự chân thật thì sẽ không còn có lừa dối, không còn có tranh giành hơn thua mà chỉ có sự hiểu biết, yêu thương và tha thứ.

    Ngay sau thánh lễ, khi hãy còn mặc phẩm phục Đức TGM đã được đông đảo giáo dân đến bao quanh ngài để chào thăm, để được hôn nhẫn và chụp hình với ngài.

    Rời khỏi Đền thánh Giuse chúng tôi tìm đến hội trường giáo xứ Các Thánh Tử đạo Việt Nam để dự bữa tiệc vào lúc 7 giờ do Cộng đoàn Montreal tổ chức khoản đãi Đức TGM và phái đoàn Việt Nam nhân dịp đến tham dự Đại hội Thánh Thể tại Quebec. Được biết đến tham dự kỳ Đại Hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 49 này phái đoàn Việt Nam có hơn 20 giáo sĩ, và tu sĩ và giáo dân do Đức cha Trần Đình Tứ, Giám mục địa phận Phú Cường làm trưởng phái đoàn nhưng ngài đang bận việc ở Toronto nên không hiện diện. Tại buổi tiệc chúng tôi cũng được gặp và trò chuyện với cha Gioan Baotixita Đinh Thanh Sơn, qủan xứ và cha Đa minh Nguyễn Văn Hảo. Cha Sơn đã một thời gian qua lại dâng thánh lễ cho cộng đoàn chúng tôi trong những dịp lễ lớn còn cha Hảo thì vẫn tiếp tục qua lại giúp đỡ trong lúc Cộng đoàn chưa có một linh mục Việt Nam.

    Bữa tiệc thật là chu đáo từ cách tổ chức, vấn đề ẩm thực, có ca hát, xổ số lấy giải thưởng … đã tạo được một bầu khí vui tươi và thân tình. Được Ban tổ chức gợi ý về việc giáo dân Cộng đoàn Montreal muốn được nghe Đức TGM nói chuyện, Đức TGM đã bước lên sân khấu và khi ngài vừa đề cập đến vấn đề tòa Khâm sứ đang còn là một vấn đề khá nóng bỏng thì tiếng vỗ tay kéo dài vang dội khắp hội trường.

    Diễn tiến vụ tòa Khâm sứ (đã được truyền thông tường thuật khá đầy đủ) được ngài kể lại vài chi tiết nghe vui vui mà cũng rất cảm động. Ngài kể các cụ gìa đến cầu nguyện và ở lại luôn trong khu vực tòa Khâm sứ trong thời gian Hà Nội trở lạnh (xuống tới 5 độ C) đã được khuyên nên về nhà nếu không sẽ bị bệnh và còn có thể nguy hại đến tính mệnh nhưng các cụ bảo “Chết bên Mẹ con sợ gì”. Và khi có sự quan ngại cho sức khỏe của các sinh viên vì họ phải lo cho các cụ gìa mà cả đêm không ngủ thì những sinh viên này nói “Tối nào cũng ăn sâm nên khỏe lắm, không sao cả” (ý nói ăn khoai lang).

    Đức TGM cũng đề cập đến những khía cạnh quan trọng trong biến cố tòa Khâm sứ vừa qua. Đó là truyền thông, sự hiệp thông và sự khai thông.

    Ngài nói tin tức liên quan đến tòa Khâm sứ đã loan truyền rất nhanh và rộng rãi bằng nhiều ngôn ngữ làm cho nhiều người biết đến. Bằng chứng là trong dịp đổi máy bay ở Singapor vì có nhiều thời gian ngài ghé thăm Đức TGM Singapor và Đức TGM Singapor cũng như những người ngài gặp đều hỏi ngài về vụ tòa Khâm sứ. Một bằng chứng khác của sự nhanh nhạy trong lãnh vực truyền thông là ngay khi thấy được phản ứng của giáo dân Hà Nội sau “Tối hậu thư” của nhà cầm quyền thì đại sứ của Việt Nam tại Ý đã đến thảo luận với Tòa thánh Vatican.

    Theo ngài thì tinh thần hiệp thông đã được thể hiện rất rõ trong vụ tòa Khâm sứ. Hiệp thông với Chúa, hiệp thông với giáo hội. Ngài nói đã có nhiều người chạy đến với Chúa hơn trong vụ tòa Khâm sứ. Ngài nói ngài cũng biết khắp nơi ở hải ngoại đã thắp nến cầu nguyện trong lúc Giáo hội quê nhà gặp khó khăn. Ngài còn tiết lộ rất nhìều nơi đã bày tỏ sự hậu thuẫn đối với ngài, có nơi (ở miền Bắc cũng như ngay cả ở miền Nam) đã gọi điện thoại cho ngài nói rằng sẵn sàng gửi người đến Hà Nội nếu ngài cần hỗ trợ.

    Mặt khác theo ngài, biến cố tòa Khâm sứ cũng đã khai thông sự bế tắc, sợ hãi đã có từ lâu. Người giáo dân Việt Nam đã dám nói lên tiếng nói của họ và chính quyền cũng nhận thấy đã đến lúc cần phải lắng nghe ý nguyện của dân. Ngài nhấn mạnh vấn đề không phải là một mảnh đất mà là công bằng và sự thật. Ngài tỏ ý vui mừng vì giáo dân Hà Nội đã trưởng thành để biết lúc nào phải nói và họ đã biết cách nói. Cách nói đó là đi theo tinh thần phúc âm, hợp với đường lối của giáo hội. Cách nói đó là cầu nguyện trong ôn hòa, không phải của bất cứ đảng phái chính trị hay thế lực nào.

    Buổi tiệc chấm dứt trong niềm hân hoan của mọi người. Chúng tôi lên đường trở về Mỹ và về tới nhà trong đêm khuya, kết thúc một chuyến đi tốt đẹp, trái hẳn với điều mà nhiều người thường tin nhảm, không dám đi xa trong ngày Thứ Sáu 13.

    Vermont 15/6/2008

    Lại Thế Lãng
     

    June 13

    Các nữ tu Nữ Tử Bác Ái ở Saigòn vẫn tiếp tục dòi lại Trường Măng Non bị chiếm làm vũ trường!

     
    Các nữ tu Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn lại tiếp tục xuống đường cầu nguyện phản đối UBND thành phố Saigòn
     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 13/06/2008 08:24)
     
    SAIGÒN - Hôm qua (ngày 12.6.2008), hay tin Công ty quản lý nhà Thành phố đến vũ trường ở số 32 bis Nguyễn thị Diệu, vốn là trường dậy trẻ của các Dòng Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn (Daughters of the Charity of Saint Vincent De Paul), để bàn giao cơ sở cho Ủy Ban nhân dân quận 3, các nữ tu kéo nhau đến đây để cản trở việc làm này. Các nữ tu cho rằng, việc bàn giao này cho thấy Thành phố muốn trả cơ sở về lại cho Ủy ban nhân dân và phòng giáo dục quận 3. Họ muốn các thầy cô đập vũ trường để xây trường học lại chăng, khi mà trước đây các thầy cô không muốn duy trì trường mẫu giáo Măng Non?
     
    80613vinhson180613vinhson2

    Ngay từ sáng sớm, các nữ tu và một số giáo dân tiếp tục đến vũ trường cầu nguyện để ngăn cản sự bàn giao này. Ông Phó ban Tôn giáo Thành phố, vài Công an và một số cán bộ cũng có mặt tại hiện trường. Các Nữ tử Bác Ái nói rằng họ tiếp tục ở lại cầu nguyện tại nơi vốn là tài sản thuộc sở hữu của họ.

    Như đã trình bày từ mấy tháng qua, cơ sở 32 bis Nguyễn Thị Diệu, quận 3, Thành phố Saigon, nguyên là trường dạy trẻ của Dòng Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn. Năm 1975, nhà cầm quyền Việt Nam đã mượn sở này làm trường Mẫu giáo Măng Non, thuộc quyền quản lý của Phòng giáo dục và Ủy Ban nhân dân Quận 3. Thế nhưng năm 1997, Ủy Ban nhân dân Thành phố đã liệt ngôi trường trên vào diện nhà vắng chủ rồi cho đập phá trường học, sau đó xây lên một vũ trường với tên gọi VIP-CLUB.

    Từ năm 2005, các nữ tu đã liên tiếp đệ đơn khiếu nại yêu cầu chính quyền trả lại cơ sở này để họ tiếp tục làm công tác giáo dục và làm các việc từ thiện xã hội.. Từ mấy năm qua, Chính quyền thành phố vẫn im lặng. Thay vì giải quyết khiếu nại của các nữ tu họ lại cho Ban Quản lý đường sắt thuê trong vài năm.

    Ngày 15/15/2007 và ngày 27/3/2008, hàng trăm nữ tu đã đến cơ sở 32 bis Nguyễn Thị Diệu cầu nguyện để phản đối việc Ban quản lý đường sắt đập phá vũ trường.Theo đó Chính Quyền muốn lấy lý do là cơ sở đang được Ban Quản lý đường sắt sử dụng vào mục đích công ích để bác đơn đòi lại cơ sở 32 bis của các Nữ tử Bác ái.

    Sự kiện các nữ tu cầu nguyện ngoài trời nắng nóng suốt ngày... đã là cho những người thành tâm trong và ngoài nước phẫn nộ. Họ viết thư phản đối và yêu cầu trả cơ sở cho các nữ tu chuyên làm công tác từ thiện xã hội. Sau biến cố này, Ban quản lý đường sắt đã thôi không muốn thuê cơ sở này nữa. Vũ trường đã bị bắt quả tang vì hoạt động phản văn hóa nên đã bị đóng cửa từ cuối năm 2005. Họ tiếp tục để trống cơ sở và im lặng vì không muốn trả một mặt bằng tuy không lớn nhưng thuộc khu đất vàng nằm trung tâm thành phố Saigon cho các nữ tu.
     
    Minh Luật
     
     
    VietCatholic News (Thứ Năm 12/06/2008 17:44)
     
    SAIGÒN - Quyết định 750/QĐ-UB đã khai tử Dòng Nữ Tử Bác Ái. Vì Ông Vũ Hùng Việt, Phó chủ tịch UBNDTP lập luận rằng: cơ sở 32 bis Nguyễn Thị Diệu thuộc diện “nhà vắng chủ” vì các bà sơ không biết còn sống hay đã chết, hiện sống trong nước hay ngòai nước: Hơn nữa, Sở Xây dựng đã sử dụng mọi phương tiện thông tin đại chúng để điều tra nhưng vẫn không tìm thấy tông tích. Vì vậy theo đề nghị của Giám đốc Sở Xây dựng, nay quyết định xác lập Vườn Trẻ Măng Non 32 bis Nguyễn Thị Diệu của các sơ thành tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và giao cho Công ty Quản lý kinh doanh nhà Thành phố để kinh doanh nhằm tăng thu ngân sách.

    Quyết định mà có “Bác” chỉ thị và “sếp” dẫn đường thì mọi thủ tục, phép tắc cứ như tốc độ tên lửa. Cả một lực lượng đông cỡ trung đòan được huy động để cho trường mẫu giáo Măng Non về nơi chín suối. Các thầy cô đầu ngành của Phòng Giáo Dục Q3 hô hoán lên rằng cái cơ sở 39 tuổi này hư hỏng nặng, nguy hiểm cho tính mạng trẻ thơ. Và họ tính kế bán cho ai đó tái thiết. Chẳng qua họ muốn kinh doanh chứ không buồn dạy dỗ con nít. Trẻ em nhảy dây sao bằng người lớn nhảy đầm:

    Khai tử một trường học rồi cho đăng quang một vũ trường hoành tráng, họ hiên ngang, rình rang khánh thành, tiếp đón sếp này, VIP nọ. Các nhân vật quan trọng trầm trồ khen ngợi cấu trúc “rất VIP” của vũ trường; hệ thống báo động, tường đôi, lối thoát cho tiếp viên... Chắng thấy ai thắc mắc tại sao Ông OSKO thuê 32 bis làm văn phòng cho công ty mà chẳng thấy bàn giấy mà chỉ thấy quầy rượu, dancing, karaokê... và cái bảng VIP – CLUB to đùng ở mặt tiền.

    Cứ theo thông lệ, hàng tháng, hàng quý, đại diện Công ty Quản lý kinh doanh nhà thành phố, thanh tra phải đến kiểm tra cơ sở cho thuê. Riêng cái “văn phòng” này không hề thấy ai tới “thanh cha thanh mẹ” gì cả, chỉ thấy “thanh kiu”: Chưa bao giờ các bác thanh tra hay các chú ở Kinh doanh Nhà Thành Phố thấy nó là vũ trường, lúc nào cũng “đinh ninh” nó là văn phòng. Hay thế: Mãi 8 năm sau, các bà sơ Nữ tử Bác ái đệ đơn đòi lại cơ sở, các sếp mới chợt thấy à thì ra OSKO cấu kết với Hoàng Gia kinh doanh vũ trường.

    Các nữ tu đang đòi lại cơ sở này rất quyết liệt. Họ tố cáo Chính quyền mượn trường dạy học mà lại kinh doanh vũ trường. Nhà nước ta xưa nay vẫn dùng chính sách im re cho chìm xuồng theo thời gian năm tháng nhưng trong vụ này không trả lời đơn không được. Các nữ tu Nữ Tử Bác Ái cứ hết đơn này đến đơn khác. Các bà có tiếng về các công việc từ thiện trên thế giới nên cũng có ảnh hưởng quốc tế khiến chính quyền e ngại. Nhưng oải nhất là các bà mặc áo nhà tu đông đảo kéo đến chốn ăn chơi đòi lại nhà. Bàn dân thiên hạ thấy rõ như ban ngày bộ mặt của những kẻ xin đểu trường học trẻ thơ để làm sàn nhảy.

    Nhà nước muốn vũ trường tắt tiếng nhạc cho êm chuyện nhung những kẻ đang kinh doanh ăn chơi ngon trớn chẳng dễ gì chịu thôi kiếm tiền. Các sếp nhớn phải lên phương án buộc “kẻ thuê nhà” OSKO-Hoàng Gia khuất phục. Oái oăm thay, Quận 3, nơi đã giúp đỡ đàn anh ẵm đất 32 bis, giờ đây phải ra tay quét dọn đàn anh trước hết. Phải 5 lần 7 lượt mới đột nhập bắt quả tang các tệ nạn vũ trường nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thành ủy TP HCM, nguyên chủ tịch UBND quận 3 lúc bấy giờ. Thanh tra chuyên ngành cũng được huy động để bắt các họat động sai trái của vũ trường. Vất vả hao tâm tổn trí là thế, nhưng chỉ để đạt tới mục tiêu vũ trường ngưng hoạt động thôi, không ai phải tù tội gì đâu nhé: Cái hay của chính quyền ta là ở đó.

    Vũ trường ngưng hoạt động nhưng không thấy giao lại cho các sơ. Người được thuê tiếp theo là Ban Quản Lý đường sắt. Không bao giờ thua cuộc, cả trăm nữ tu kéo nhau đến cầu nguyện cả ngày cho công lý được tôn trọng, cho trẻ có trường học, cho dân nghèo có chỗ nương thân. Biên bản lại được ký. Chính quyền lại rút êm để dân khỏi cười vào sự bao che kiếm chác đã quá lộ liễu ê chề sống sượng. Ngậm miệng ăn tiền vẫn là sách xưa nay các ngài áp dụng. Chiếm trường học của trẻ em làm vũ trường mà là “dân chủ công bằng văn minh” sao ? Có rượu bia rồi, giành kẹo của con nít làm chi các bác ơi:
     
    Nguyễn Quy Luật
    June 11

    Phái đoàn Tòa Thánh đã gặp các viên chức chính quyền Hà Nội nhưng vụ TKS hầu như vẫn không có gì cụ thể!

     
    VietCatholic News (Thứ Tư 11/06/2008 08:54)
     
    HÀ NỘI - Phái đoàn Tòa Thánh thăm viếng Việt Nam do Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh Vatican, dẫn đầu, hiện đang có mặt tại Việt Nam. Trong hai ngày 9 - 10/6/2008 tại Hà Nội, Đức ông Pietro Parolin và đoàn đại biểu Tòa Thánh đã có các cuộc gặp với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, làm việc với Ban Tôn giáo Chính phủ, Hội đồng Giám mục Việt Nam và UBND Thành phố Hà Nội.

    Từ năm 1989 đến nay, các phái đoàn của Tòa Thánh đã có 15 chuyến thăm Việt Nam để thảo luận các vấn đề hợp tác giữa hai bên. Đây là chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam lần thứ ba của Đức ông Pietro Parolin. Trước đó, tháng 3/2007, Đức ông đã dẫn đầu phái đoàn Vatican đến Hà Nội và làm việc với lãnh đạo nhiều cơ quan, trong đó có Ban Tôn giáo Chính phủ.

    Phái đoàn Tòa Thánh đã gặp gỡ với Phó thủ tướng và đặc trách Ngoại giao là ông Phạm Gia Khiêm và một số các viên chức chính quyền đặc trách về tôn giáo vụ. Tuy sau cuộc họp không có tuyên cáo chung về thành quả của cuộc họp, dầu vậy nguồn tin riêng của chúng tôi cho biết rằng: Hai bên đã đưa ra một số những vấn đề quan tâm chung liên quan tới tình hình tôn giáo, đặc biệt những khó khăn mà Giáo hội Công giáo còn đang phải đối diện, những quan tâm của Tòa Thánh về giáo dục, nhân quyền, công tác nhân đạo, xã hội, tình trạng giáo sĩ còn đang bị tù, việc bổ nhiệm giám mục, và sự kiện liên quan tới Tòa Khâm Sứ Hà Nội. Trong cuộc trao đổi ý kiến, hai bên đều cho rằng rằng cần tiếp tục thêm những bước đi tích cực hầu tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao song phương đầy đủ, chính thức giữa Vatican và Việt Nam.

    Cũng nên nhắc lại rằng trong chuyến thăm Cộng hòa Italia cuối tháng 1/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới thăm Tòa Thánh và có cuộc hội kiến với Giáo Hoàng Benedict XVI. Tại đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI cũng đã nói qua về viễn ảnh việc thiết lập quan hệ ngoại giao và việc Đức Giáo hoàng sang thăm Việt Nam.

    Về vấn đề này, Thứ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh, Đức ông Pietro Parolin cho biết hai bên đều đang hướng tới mục tiêu thiết lập bang giao. Lộ trình tiến tới mục tiêu này, được Đức ông Paroli bầy tỏ như sau: "Chúng tôi đã thống nhất thiết lập các nhóm làm việc để bàn về vấn đề này và khi được thành lập, họ sẽ có lịch trình cụ thể".

    Thứ trưởng Ngoại giao Toà thánh đức ông Parolin cũng cho biết thêm là "trong các buổi làm việc với phía Việt Nam tại Hà Nội, hai bên đã lắng nghe quan điểm của nhau". Đức ông Pietro Parolin nói: "Chúng tôi đã giành cả ngày để đối thoại với Ban Tôn giáo Chính phủ. Tôi cho rằng chính cuộc đối thoại này đã là một kết quả và tin rằng hai bên sẽ tìm được giải pháp thông qua việc trao đổi quan đểm trung thực và xây dựng".

    Về việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua, Thứ trưởng Tòa Thánh Paroli nhận định việc tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các sinh hoạt tôn giáo là "sự thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng".

    Trong phiên làm việc với phái đoàn Vatican tại Hà nội ngày 10/6, đại diện phía Việt Nam, Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ Nguyễn Thế Doanh khẳng định rằng: “Việt Nam đã xác định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của người dân, như một hiện tượng xã hội khách quan tồn tại trong cộng đồng dân cư, coi đồng bào có đạo là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.

    Ông Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết: “Năm 2007, đã có 300 giáo xứ được thành lập thêm, nâng tổng số giáo xứ trên cả nước lên con số 3000. Cùng với đó, 6 đại chủng viện cũng được thành lập để đào tạo giáo chức cho các giáo xứ”.

    Ông Nguyễn Thế Doanh cũng ghi nhận như sau: “sự đóng góp của đồng bào Công giáo trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, nhất là thông qua nhiều hoạt động từ thiện xã hội, coi đây là hoạt động thể hiện giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo. Riêng năm 2007, đã có 11 tỷ đồng được các giáo xứ quyên góp để giúp đỡ các đối tượng khó khăn trong xã hội.”

    Đức ông Pietro Parolin cũng đã có cuộc gặp với ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vào trưa ngày 10/6/2008. Hai bên có nói đến và ghi nhận những tiến triển trong mối cải thiện quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam, nêu lên một số những thành tích tích cực mà người Công giáo Việt Nam đã đóng góp vào xã hội và xây dựng đất nước Việt Nam. Đặc biệt Đức ông trưởng phái đoàn vui mừng vì giáo dân Hà Nội đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Thủ đô trở thành thành phố phát triển.

    Phái đoàn Vatican cũng bày tỏ mong muốn phát huy vai trò của người Công giáo Việt Nam, cách riệng người Công giáo Hà Nội trong các hoạt động nhân văn, giáo dục và từ thiện, góp phần xây dựng con người và xã hội, dấn thân vào sứ mạng phát triển đạo đức và đào tạo trí thức, hầu làm bớt đi những tệ đoan xã hội hầu nâng cao phẩm giá con người mà Giáo hội hằng quan tâm. Đức ông Paroli nhận định rằng "tại Việt Nam sức trẻ của người dân là lợi thế tiềm năng phát triển".

    Trong cuộc gặp chung, Đức ông Pietro Parolin và Chủ tịch thành phố Nguyễn Thế Thảo cũng chia sẻ quan điểm làm thế nào hầu giải quyết những vướng mắc, băn khoăn liên quan đến vụ Tòa Khâm Sứ ở tại số 42 phố Nhà Chung, Hà nội.

    Khoảng trung tuần tháng 12, trước tình trạng Nhà Nước định biến Tòa Khâm Sứ thành khu thương mại và xây khách sạn, Đức TGM Hà Nội là Ngô Quang Kiệt đã xin giáo dân cầu nguyện và làm đơn yêu cầu chính phủ trả lại cho Giáo hội để sử dụng vào nhu cầu chính đáng. Tiếp theo, từ ngày 18.12. 2007 tới ngày 1.2.2008 tại Toà Khâm Sứ đã liên tiếp diễn ra những cuộc thắp nến cầu nguyện của Giáo dân Hà nội đòi chính quyển trả lại khu đất này cho Giáo hội. Sự đòi hỏi chính đáng của Giáo hội không những đã được người Công giáo Việt Nam hưởng ứng mà ngay du luận quốc tế cũng hết lòng ủng hộ.

    Tưởng cũng cần nhắc lại rằng, trong vụ giáo dân cầu nguyện đòi lại Tòa Khâm sứ, khi đến giờ phút căng thẳng và gây cấn, vào ngày 30.1.2008, sau khi có những cuộc trao đổi giữa Bộ ngoại giao và Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Italia với Tòa Thánh, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone thuộc Phú Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã viết thư cho Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt trong đó khuyên tìm một giải pháp đối thoại và Tòa Thánh đã nhận được lời hứa một giải pháp tốt đẹp từ phía chính quyền Việt nam.

    Ngày 1.2.2008, Đức TGM Hà Nội trong thư chung gửi giáo dân Hà Nội, ngài viết như sau: "Nhờ lời cầu nguyện tha thiết của anh chị em, công việc đã có kết qủa. Sau những căng thẳng, đã có đối thoại giữa Tòa Tổng Giám mục và Hội đồng Giám mục Việt nam với các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà Nước để đi đến một giải pháp tốt đẹp".

    Trong cuộc họp bàn ngày 10.6.2008, Phái đoàn Tòa Thánh cũng nêu ra những quan điểm của mình về vụ việc đất Tòa Khâm Sứ ở số 42 phố Nhà Chung, Hà nội. Chủ tịch thành phố Hà nội là ông Nguyễn thế Thảo đã khẳng định lại rằng: "Chính quyền thành phố Hà nội sẽ cố gắng giải quyết vấn đề này đựa trên cơ sở đối thoại và đúng theo pháp luật". Và hai bên thống nhất hợp tác tiếp tục giải quyết thông qua đối thoại.

    Một cách cụ thể mà nói thì chính quyền Thành phố Hà nội và Quận Hòan Kiếm vẫn theo bản cũ "kéo dài thời gian và khất lần"!

    Kể từ khi có những lời hứa của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng vào tháng 12, 2008, lời hứa của Quận Hoàn Kiếm trong một số lần gặp với Đức TGM Hà Nội, lời hứa của Bộ ngoại giao Việt Nam với Tòa Thánh vào cuối tháng Giêng 2008... như vậy từ đó đến nay đã nửa năm trời, trước đây nói là đợi đến khi phái đoàn Tòa Thánh sang sẽ giải quyết, nhưng cho đến nay khi Phái đoàn Tòa Thánh sang gặp mặt mà mà chính quyền Việt Nam từ trên xuống dưới vẫn chỉ tiếp tục ca bài "tiếp tục thông qua đối thoại". Thật là những lời hứa xuông và bội tín!

    Thêm vào đó trong cuộc họp này, ông Chủ tịch thành phố Nguyễn Thế Thảo còn tuyên bố "bài bản thuộc lòng từ xưa" là "chính quyền thành phố nhất quán thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tự do tín ngưỡng tôn giáo"! Nhât là câu tủ ngớ ngẩn sau đây: "Mọi công dân có quyền lựa chọn theo hoặc không theo tôn giáo nào. Mọi tôn giáo được tạo điều kiện hoạt động theo tôn chỉ, mục đích trong khuôn khổ luật pháp. Tất cả các chức sắc, bà con giáo dân sống bình đẳng như mọi công dân khác, tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng thành phố phát triển ".

    Pháo đoàn Tòa Thánh tới Việt Nam lần này, ngoài việc đối thoại với các cơ quan Chính phủ, phái đoàn cũng nhằm mục đích thăm và gặp gỡ giáo dân, các chức sắc công giáo ở tại nhiều địa phương. Theo chương trình, sau hai ngày làm việc tại Hà Nội, ngày 11/6, đoàn rời Hà Nội đi Đà lạt thăm Đức cha Nguyễn văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nơi đây cũng có Viện Đại Học Đà Lạt mà Giáo Hội Việt Nam đã làm đơn xin nhận lại sử dụng. Tiếp đó thăm Trung tân Hành Hương Thánh Mẫu La Vang mà chính quyền tỉnh tỉnh Quảng Trị mới trả lại cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, thăm giáo phận Huế, và cuối cùng là giáophận Saigòn và giáo phận Phú Cường ở Bình Dương.
     
    Đồng Nhân

    Vatican có 'sứ vụ khó khăn' ở Việt Nam

     
    Phát biểu tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Vatican nói chuyến đi đến Việt Nam là “khó khăn” nên cần “cương quyết và nhẫn nại”.

    Theo VietCatholic News, Đức ông Pietro Parolin, trưởng phái đoàn cao cấp của Tòa Thánh đã phát biểu trong cuộc gặp với hàng giáo phẩm Hà Nội trong ngày đầu của chuyến thăm một tuần đến Việt Nam.

    Ngày thứ Hai 09/06 được dành toàn bộ cho việc tiếp xúc của Đức ông Parolin, người đến Việt Nam lần thứ ba, với các giám mục, linh mục và giáo dân Việt Nam.

    Một sơ thuộc dòng Mến Thánh Giá ở Hà Nội dự lễ đón phái đoàn Vatican cho BBC biết rằng không khí đón tiếp rất tốt đẹp.

    Các sơ đã hát hai bài bằng tiếng Ý đón Đức ông Pietro Parolin trong không khí được mô tả là vui mừng đón "người thay mặt Đức Thánh Cha đến thăm đàn con".

    Không thấy các báo tiếng Việt trong nước đăng tin về chuyến thăm.

    Chuyến đi nhiều điểm dừng

    Theo lịch trình làm việc đã thỏa thuận trước với chính phủ Việt Nam, phái đoàn cao cấp Vatican có cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, các quan chức chính phủ về tôn giáo ở Hà Nội và các địa phương.

    Đoàn cũng có lịch thăm Đà Lạt, TPHCM, Huế và thánh địa La Vang và cả một cơ sở làm gốm ở Bình Dương trước khi rời Việt Nam vào Chủ Nhật này.

    Đức ông Parolin được trích lời mô tả “sứ vụ ngoại giao của phái đoàn là khó khăn và để làm được việc thì cần hai điều là cương quyết và nhẫn nại.”

    Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ở Đà Lạt cho BBC biết rằng ông hy vọng việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao là điều cả Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam "đều mong ước vì có lợi cho cả hai bên".

    Một nhiệm vụ chính của chuyến đi là bàn bạc về tình hình nội bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội mới, đặc biệt là các yêu cầu đòi bất động sản Giáo hội nói vốn là của họ.

    Giám mục Nhơn nói trao đổi về cơ sở Giáo Hoàng Học Viện (hiện do nhà nước giữ) cũng có thể là một vấn đề cần bàn tới vì đây là việc "Giáo hội vẫn rất thiết tha".

    Rộng hơn là việc đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam và xác lập tư cách của cộng đồng gần 7 triệu người Công giáo trong hệ thống xã hội Việt Nam.

    Trong bản tin của VietCatholic News, Đức ông Parolin được trích lời nói đã chuyển lời cầu chúc của Đức Giáo hoàng đến Giáo hội và giáo dân Việt Nam.

    Tòa Thánh muốn thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với các nước châu Á như Trung Quốc và Việt Nam vốn bị cắt đứt từ khi các đảng cộng sản lên nắm quyền.

    BBC

    June 10

    Phái đoàn Tòa Thánh tới Hà Nội và gặp gỡ với thành phần lãnh đạo Công giáo tại TGM Hà Nội

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 09/06/2008 18:56)
     
    HÀ NỘI - Hôm nay 09.06.2006, Phái đoàn Ngoại giao Toà Thánh đã đến Hà Nội để đàm phán với chính phủ Việt Nam về các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Phái đoàn gồm có Đức ông Pietro Parolin, Trưởng Phái đoàn, Đức ông Maria Montemayor và Đức ông Barnaba Nguyễn Văn Phương.

    Phái đoàn tới sân bay Nội Bài lúc 10 h 15 giờ Hà Nội. Đón Phái đoàn có Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục Thanh Hoá, Phó Chủ tịch HĐGM, Đức cha Giuse Võ Đức Minh, Giám mục Phó Nha Trang, Phó Tổng Thư ký HHDGM, Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn và Cha Lôrenxô Chu Quang Minh, Giám đốc Chủng viện Hà Nội.

    Phái đoàn được chính phủ Việt Nam tiếp đón và sắp xếp chỗ ăn nghỉ tại khách sạn Melia ở phố Lý Thường Kiệt, cách Toà Tổng Giám Mục gần 1 km.

    Khoảng 15 h 30 Phái đoàn đã từ khách sạn tới thăm Toà Tổng Giám Mục Hà Nội. Tiếp Phái đoàn tại Toà Tổng Giám Mục có quý Đức cha thuộc Giáo tỉnh Hà Nội, cha Giacôbê Nguyễn Văn Lý, Chính xứ Hàm Long, Quản hạt Hà Nội, cha Antôn Trần Duy Lương, cha Gioan Lê Trọng Cung, Chánh Văn phòng Toà Tổng Giám Mục và đông đảo quý linh mục, tu sĩ, giáo dân trong Tổng Giáo phận Hà Nội.
    Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGM, đã giới thiệu các thành viên trong Phái đoàn với cộng đồng dân Chúa hiện diện.

    Ngài cũng cho biết Đức cha Giuse Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGM và Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Thư ký HĐGM, đang công du ngoại quốc, cho nên ngài thay mặt Giáo hội Việt Nam ngỏ lời chào mừng Phái đoàn.

    Đức Cha Chủ tịch cho biết chuyến viếng thăm này của Phái đoàn được thực hiện trong bối cảnh có nhiều khó khăn trong các vấn đề tôn giáo và tìm điểm chung tiến tới ngoại giao giữa Toà Thánh và Việt Nam. Nhưng trong tư cách là con cái Giáo Hội, mọi người sẽ luôn sống trong hy vọng. Ngài cũng kính chúc chuyến viếng thăm và làm việc của Phái đoàn Toà Thánh đạt kết quả tốt đẹp.

    Các em thiếu nhi Giáo xứ Chính Toà Hà Nội đã biểu diễn hai tiết mục văn nghệ ngắn gọn, vui tươi và sinh động để chào mừng Phái đoàn.

    Đức ông Pietro Parolin, Trưởng Phái đoàn đã ngỏ lời chào mừng quý đức cha, quý cha, quý tu sĩ và giáo dân hiện diện. Ngài nói: “Tôi và Đức ông Montemayor đến Việt lần thứ ba, nhưng Đức ông Phương thì đến lần thứ 15 rồi! Mỗi lần đến Việt Nam tôi đều có những tâm tình mới và đều bắt gặp một cái gì mới mẻ. Lần đầu năm 2004 tim tôi đập mạnh, còn lần này, vì đã quen nên cho nên tôi cảm thấy rất vui (…) Chúng tôi mang đến cho anh chị em lời chào thăm và lời cầu chúc của Đức Thánh Cha và chúng tôi cũng sẽ mang về cho Đức Thánh Cha sự trẻ trung, những nụ cười tươi và tình yêu thương của anh chị em”.

    Ngài cũng cho biết sứ vụ ngoại giao của Phái đoàn là khó khăn và để làm được việc thì cần hai điều là cương quyết và nhẫn nại. Nhẫn nại cũng là một hình thức của bác ái, vì vậy ngài xin các anh chị em cầu nguyện cho phái đoàn. Ngài cũng hứa sẽ tiếp tục cầu nguyện cho Giáo hội Việt Nam. Sau cùng ngài cám Cám ơn sự tiếp đón nồng hậu với nhiều mầu sắc của Tổng Giáo phận Hà Nội.

    Phái đoàn cùng quý đức cha trong Giáo tỉnh đã lên thăm Đức Hồng Y Giuse Maria Phạm Đình Tụng. Các ngài đã nâng cốc chúc sức khoẻ Đức Hồng Y. Đức Ông Trưởng Phái đoàn và Đức ông Phương đã hỏi chuyện Đức Hồng Y, Đức Hồng Y trả lời bằng tiếng Pháp rằng ngài cám ơn và ngài rất hạnh phúc khi được gặp Phái đoàn.

    Sau cùng, khoảng 16 h, Phái đoàn đã gặp quý đức cha trong Giáo tỉnh Hà Nội tại phòng khánh tiết của Toà Tổng Giám mục Hà Nội. Tối nay khoảng 19 h 30 các ngài sẽ gặp quý linh mục của 6 giáo phận Miền Bắc đang tham gia khoá thường huấn tại Đại Chủng viện Hà Nội và Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội.

    Được biết trong những ngày tới, chương trình làm việc của Phái đoàn dự kiến như sau: Thứ ba: Buổi sáng và buổi chiều làm việc với Phái đoàn Việt Nam. Thứ tư: Buổi sáng thăm Ban Đối ngoại Trung ương và đi Đà Lạt, buổi chiều thăm UBND tỉnh Lâm Đồng và Toà Giám mục Đà Lạt. Thứ năm: Buổi sáng đi TP Hồ Chí Minh và từ TP HCM đi Huế, buổi chiều thăm UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế và thăm Toà TGM Huế. Thứ sáu: Buổi sáng đi Quảng Trị hành hương Đức Mẹ La Vang, buổi trưa chào thăm UBND tỉnh Quảng Trị, buổi chiều thăm Huế. Thứ bẩy: Buổi sáng rời Huế đi TP Hồ Chí Minh, buổi chiều đi thăm làng nghề làm gốm ở Bình Dương. Chủ nhật: Buổi sáng làm lễ ở Đại Chủng viện Sài Gòn rồi lên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất. Dự kiến Phái đoàn rời Việt Nam lúc 11 h 30’.

    Chương trình trên đây do Phái đoàn và Chính phủ Việt Nam sắp đặt. Chính quyền các địa phương lo liệu phương tiện đi lại và chỗ nghỉ tại khách sạn cho Phái đoàn. Ngoài ra, Ban Tôn giáo Chính phủ và UBND các tỉnh Lâm Đồng, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị cũng có chương trình chiêu đãi Phái đoàn nhân cuộc viếng thăm

    Phóng sự từ Hà Nội ngày 9/6/2008
    LM Phêrô Nguyễn Văn Khải, DCCT
     
    Phái đoàn Tòa Thánh tham dự buổi Khai mạc Khóa Thường Huấn các linh mục Liên giáo phận tại Hà Nội
     
    VietCatholic News (Thứ Hai 09/06/2008 23:11)
     
    HÀ NỘI - Tối ngày 9.6.2008, lúc 20g, Phái đoàn Toà Thánh đã đến phòng hội của Đại Chủng viện Hà Nội, nằm trong khuôn viên Toà TGM Hà Nội, tham dự buổi khai mạc đợt II của Khoá thường huấn linh mục.

    Cha Lorenxô Chu Quang Minh, Giám đốc ĐCV Hà Nội cho biết: Năm nay, khoá thường huấn năm nay được chia làm hai đợt và được tổ chức chung cho 6 giáo phận Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng, Phát Diệm, Thanh Hoá.
    Đợt I từ ngày 02.06 đến ngày 06.06 đã diễn ra tại Toà Giám mục Phát Diệm, có khoảng hơn 150 linh mục tham dự. Đợt II, diễn ra tại Toà Tổng Giám mục Hà Nội, có khoảng 123 linh mục đăng ký tham dự.

    Đức cha Giuse Nguyễn Văn Thiên, Giám mục Hải Phòng, thay mặt quý đức cha và quý cha chào mừng Phái đoàn. Ngài giới thiệu quý đức ông trong Phái đoàn với quý cha. Ngài cũng giới thiệu Ban Giáo sư của Khoá thường huấn, gồm có cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp OP, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, Giám mục Hải Phòng, Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ và cha Vinh Sơn Đinh Văn Nghĩa S.J.

    Cha Lorenxô Chu Quang Minh, Giám đốc ĐCV Hà Nội, chào mừng Phái đoàn và giới thiệu sơ lược về Đại chủng viện Hà nội. Ngài cho biết ĐCV Hà Nội hiện nay có hai cơ sở. Cơ sở II trong khuôn viên Toà Tổng Giám mục Hà Nội dành cho chủng sinh thần học. Cơ sở I ở Cổ Nhuế cách Toà Tổng Giám mục khoảng 12 km, dành cho chủng sinh triết học.

    Chủng viện đào tạo linh mục cho 8 giáo phận Miền Bắc. Hằng năm tuyển sinh khoảng 50 chủng sinh. Chương trình đào tạo kéo dài 8 năm, bao gồm 1 năm linh đạo, 2 năm triết học, 1 năm thực tế mục vụ và 4 năm thần học.

    Cha Giám đốc cũng cho biết Đức TGM Hà Nội hiện nay không chỉ coi trọng việc đào tạo trong chủng viện, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo tiền chủng viện và đào tạo liên tục sau khi tốt nghiệp chủng viện. Chính theo ý hướng này mà năm nay có khoá thường huấn dành cho linh mục 6 giáo phận Miền Bắc.

    Cha Giám đốc cũng nhân dịp này bày tỏ lòng biết ơn sự trợ giúp hiệu quả của Bộ Truyền giảng Tin mừng cho các dân tộc đối với ĐCV Hà Nội. Sự hiện diện của Phái đoàn tại ĐCV mang lại niềm vui và sự khích lệ cho Ban Giám đốc trong trách vụ đào tạo linh mục.

    Ngỏ lời với quý cha, Đức ông Pietro Parolin cho biết ngài sang Việt Nam lần thứ ba và Đức ông Phương sang lần thứ 15, nhưng đây là lần đầu tiên phái đoàn có cơ may gặp gỡ đông đảo các linh mục của các giáo phận.

    Ngài cho biết sự hiện diện của Phái đoàn Toà Thánh hiện diện ở Việt Nam có hai vai trò chủ yếu. Một là góp phần gia tăng sự hiệp nhất khắng khít vốn có giữa Toà Thánh và Giáo Hội Việt Nam. Hai là liên hệ với Chính phủ Việt Nam. Vai trò thứ nhất có tính cách thuần tuý tôn giáo. Vai trò thứ hai có tính cách chính trị. Tính cách chính trị này không theo nghĩa thông thường mà cốt yếu là để Giáo Hội được tự do hơn trong hoạt động tông đồ, thực thi sứ mạng của mình.

    Đức ông Parolin cũng cho biết thêm rằng Phái đoàn sẽ cố gắng thực thi vai trò trên đây, vì lợi ích của Giáo Hội và của Việt Nam. Trích dẫn Gaudium et Spes, ngài khẳng định: “Giáo Hội và Nhà Nước là hai thực thể độc lập, nhưng cần thiết phải cộng tác với nhau thế nào để phục vụ cho Giáo Hội và Đất Nước nhiều hơn”.

    Chuyến viếng thăm và làm việc này, Phái đoàn Toà Thánh sẽ bàn thảo với nhà nước ba nội dung: Thứ nhất là việc bổ nhiệm các giám mục. Thứ hai là vấn đề tài sản-vấn đề nóng bỏng. Thứ ba là vấn đề tự do tôn giáo nói chung.

    Liên quan đến vấn đề thường huấn, Đức ông Trưởng Phái đoàn nhận xét: GHVN là một giáo hội năng động dù gặp nhiều khó khăn. Ước mong giáo hội ở các nơi khác đến Việt Nam để thấy điều này. Tuy nhiên, hiện tại GHVN cũng đang phải đối diện với những thách đố là hiện tượng tục hoá, trào lưu hưởng thụ vật chất, thói tự mãn không cần Thiên Chúa. Đấy là những vấn đề cần vượt qua để hướng về tương lai. Các anh em linh mục đến đây để được đào tạo và để khi trở về địa phương, anh em đào tạo lại giáo dân của mình, giúp họ vượt qua những thách đố trên đây.

    Khoảng 20 h 45 Phái đoàn sang thăm Dòng MTG Hà Nội. Sáng nay 10.06.2008, khoảng 6 h Phái đoàn đã đến dâng thánh lễ với quý cha tham gia thường huấn. Đức Ông Pietro Parolin đã nhấn mạnh sự cần thiết các linh mục phải gắn kết với Chúa Giêsu là thầy dạy và đặt mình dưới dự đào tạo thường xuyên của Ngài. Đức Ông cũng xin quý cha cầu nguyện cho cuộc gặp Phái đoàn Chính phủ sáng nay.

    Sau thánh lễ, Phái đoàn chụp ảnh chung với quý đức cha và quý cha tham gia thường huấn. Khoảng 7 h, Phái đoàn ăn sáng cùng quý cha rồi lên xe rời Toà TGM đi làm việc với Phái đoàn Chính phủ Việt Nam. Hai bên sẽ làm việc trong buổi sáng hai giờ và buổi chiều 2 giờ. Sáng mai Phái đoàn lên đường đi Đà Lạt.
     
    LM Phêrô Nguyễn Văn Khải, DCCT
     
     
    Xem hình phái đoàn Vatican ở Hà Nội ở đây.
    June 09

    Một số cử chỉ đẹp... sẽ có thể làm nên mùa Xuân không?

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 09/06/2008 12:44)
     
    HÀ NỘI -- Sống ở đời, chắc không một người nào lại không muốn người khác đối đãi tốt, cư xử đẹp, nói năng duyên dáng tế nhị với mình. Nói chung ai cũng muốn người khác có cử chỉ đẹp với mình. Cử chỉ đẹp chính là nét nhân bản tối thiểu của con người.

    Cử chỉ đẹp giúp thăng hoa đời sống con người, làm cho con người dễ thông cảm hơn, dễ tin tưởng nhau hơn, dễ xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn, sống hòa bình nâng đỡ nhau nhiều hơn, thậm chí thương cảm nhau nữa là đàng khác.

    Ngược lại, con người ta xử sự với nhau bằng những cử chỉ không đẹp, sẽ gây ra sự ù lì chậm tiến đời sống con người, làm cho con người khó thông cảm hơn, khó tin nhau hơn thậm chí là nghi kỵ nhau, khó đến với nhau hơn, khó hiểu nhau hơn, sống trong mối bất hòa, đạp đổ nhau thậm chí là gây ra sự hằn thù ganh ghét không thèm nhìn mặt nhau nữa.

    Ai cũng thích cử chỉ đẹp. Ai cũng thích cuộc sống thăng hoa. Ai cũng thích hòa bình. Ai cũng thích người khác yêu mến mình. Ấy vậy mà nhiều lúc nó “hiếm muộn” làm sao! Hiếm muộn ư? Hẳn phải có nguyên nhân. Thiết nghĩ, nguyên nhân của việc “cử chỉ đẹp hiếm muộn” là do con người ta ích kỷ, hoặc tư lợi, hoặc vì cái danh nào đó. Hóa ra có nhiều nơi, nhiều chỗ có nhiều người thà ích kỷ, thà sở đắc tư lợi, thà có được cái uy danh hơn là làm cử chỉ đẹp, hơn là làm cái đức để tiếng thơm cho đời, hơn là để được người khác kính nể thương mến! Hóa ra họ thà bị người khác nguyền rủa, ghét bỏ, đố kỵ, không tin còn hơn là làm cử chỉ đẹp!

    Thật trớ trêu thay, con người ta lại sống có tương quan chứ đâu phải sống ích kỷ đơn độc một mình! Nếu sống một mình thì làm sao cũng được, nghĩ sao cũng xong, tùy ý mình muốn. Nhưng người ta lại sống cùng nhau, với nhau thành cộng đồng, thành xã hội nên đòi phải có sự “xem trưóc nhìn sau”, phải “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, làm càn thì thật chẳng phù hợp với tính cộng đồng. Có nghĩa là đòi con người ta phải có những cử chỉ tế nhị, những cử chỉ đẹp với nhau. Nói một cách mạnh hơn, cử chỉ đẹp sẽ dẫn người ta đến sự hòa giải, sự tôn trọng, sự an bình thậm chí dẫn người ta đến hạnh phúc.

    Qua các phương tiện truyền thông, các thông tin từ nhiều phía, chúng ta được biết chính quyền tỉnh Quảng Trị đã trả lại Thánh Địa La Vang cho Hội Thánh Công Giáo Việt Nam (nên nhớ: tài sản của một Giáo họ, một Giáo xứ, một Dòng tu, một Chủng viện đều là tài sản của Hội Thánh Công Giáo; và được dùng để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người trong bất cứ thời nào, xã hội nào hầu làm cho con người thăng hoa hơn cho đến mức đạt tới Thiên Chúa là cùng đích của con người). Chính quyền Tỉnh Quảng Trị đã làm một cử chỉ đẹp đáng khâm phục. Chính quyền ở Sài Gòn cũng làm cử chỉ đẹp tương tự bằng việc trả lại những căn nhà mà chúng ta thấy hiện nay là Trung Tâm Mục Vụ Giáo lý của Giáo Phận Sài Gòn. Chính quyền Tỉnh Thái Bình vừa qua cũng làm hàng loạt cử chỉ đẹp đáng kinh ngạc: trả lại nhà thờ Diêm Điền, thị trấn Diêm Điền; trả lại cơ sở Dòng Saint Paul thuộc thành phố Thái Bình; trả lại Nhà ba tầng của Dòng Đa Minh ở xứ Cát Đàm thuộc thành phố Thái Bình; trả lại đất thuộc Giáo họ Giáo Thiện xứ Bồ Ngọc, Huyện Quỳnh Phụ; trả lại đất xứ Châu Nhai huyện Tiền Hải, Họ Duyên Lãng xứ Duyên Lãng huyện Hưng Hà. Tỉnh Hưng Yên cũng làm cử chỉ đẹp: trả lại nhà thờ xứ Tiên Chu. Còn những cơ sở của hội thánh ở các địa phương khác mà chính quyền địa phương đã trả lại cho Hội Thánh mà chúng ta chưa được biết đến, hẳn cũng là những cử chỉ đẹp đáng đề cao.

    Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn còn những cử chỉ chưa đẹp như việc tự ý dỡ nhà Dòng Chúa Cứu Thế ở Nha Trang, việc đã gây biết bao những khó khăn phiền toái cho giáo dân ở Thái Hà Hà Nội, việc phá nhà Dòng Saint Paul ở Vĩnh Long,… Những cử chỉ chưa đẹp này đã gây nhiều bức xúc trong dư luận. Mọi người vẫn đang nôn nóng chờ chính quyền Hà Nội thể hiện cử chỉ đẹp của mình bằng việc trả lại Tòa Khâm Sứ cho Hội Thánh, chờ chính quyền quận Đống Đa trả lại khu đất và cơ sở xứ Thái Hà của Dòng Chúa Cứu Thế cho Hội Thánh, chờ chính quyền Khánh Hòa trả lại cơ sở Dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang cho Hội Thánh, chờ chính quyền Đà Lạt trả lại cơ sở tu viện Dòng Chúa Cứu Thế hiện nay đang bị trưng dụng làm Viện nghiên cứu sinh học (Tu Viện mà lại làm Viện nghiên cứu sinh học, khó coi và khó nghe quá đỗi!), chờ chính quyền Vĩnh Long trả lại cơ sở đất đai của Dòng Saint Paul cho Hội Thánh,…,… Việc trả lại ấy nếu diễn ra sẽ tạo nên những cử chỉ đẹp biết là chừng nào!

    Ước mong chính quyền các cấp sớm thực hiện các cử chỉ đẹp bằng việc hoàn trả lại, bàn giao lại các cơ sở của Hội Thánh đã bị trưng dụng vào các mục đích không đúng, cho Hội Thánh Công Giáo Việt Nam, để Hội Thánh có lại được những cơ sở ấy hầu có thể nhanh chóng thực hiện sứ mạng phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người Việt Nam, phục vụ công dân Việt Nam, phục vụ quê hương Việt Nam tốt hơn. Cử chỉ đẹp cứ mãi còn dang dở thì sự xa lánh nhau vẫn còn đó, nghi kỵ nhau vẫn còn đó, bất hòa vẫn còn đó, bất an vẫn còn đó, sự thăng hoa con người vẫn bị cản trở,… Nếu cho tôi chọn, tôi sẽ chọn cử chỉ đẹp.

    Hãy chắp cánh cho những ước mơ thật cao đẹp và hãy thêu dệt nên những cử chỉ đẹp để con người thêm thăng hoa hơn và cuộc sống thêm tươi đẹp hơn.
     
    Thiên Anh Dương