| CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists | Help |
|
|
May 04 Ðại Cương về Thông Ðiệp Fides et Ratio của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô IIĐiểm nhấn :
"Nhà nước, theo quan niệm lành mạnh, cũng là một chủ thể, trên nguyên tắc giống như công dân và cũng phải chịu sự chi phối của pháp luật và các chuẩn mực ứng xử khác, chứ không thể đứng trên pháp luật và các chuẩn mực đó. Nhà nước cũng chỉ có năng lực sở hữu tài sản do pháp luật qui định, không thể tùy tiện, thoải mái muốn lấy của ai thì lấy, dù là nhân danh lợi ích công." (TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN , khoa luật ĐH Cần Thơ). Nguồn : Tuổi Trẻ
VietCatholic News (Chúa Nhật 04/05/2008 12:13)
Ðại Cương về Thông Ðiệp Fides et Ratio của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Gần đây Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh nhiều về vai trò của đức tin và lý trí trong những bài nói chuyện của Ngài. Để giúp các bạn trẻ có một cái nhìn tương đối đầy đủ về sự liên quan giữa đức tin và lý trí, chúng tôi mạn phép dịch bài tóm tắt Thông Điệp “Fides et Ratio - Đức Tin và Lý Trí” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của GS. Phillip B. Liescheski để chia sẻ với các các bạn. Tại sao Ðức Thánh Cha [Gioan Phaolô II] lại viết một thông điệp về đức tin và lý trí? Có phải vì đức tin và lý trí đối nghịch với nhau? Có phải vì chúng ta đang sống trong thời kỳ mất đức tin không? Nhưng tại sao ngài lại gồm cả lý trí? Ðức tin và lý trí có liên hệ gì với nhau? Ðức tin có cần lý trí không và ngược lại lý trí có cần đức tin không? Có phải lý trí bị lâm nguy trong thời đại khoa học kỹ thuật không? Đức Thánh Cha nói đến những vấn đề này và nhiều vấn đề khác trong Thông Ðiệp Đức Tin và Lý Trí. Ít ra đối với phần đông Kitô hữu (kể cả anh em Tin Lành), chúng ta có một căn bản chung là Thánh Kinh. Thực sự là có những sự bất đồng trong việc giải thích và quy điển Thánh Kinh giữa Công Giáo và Tin Lành, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng. Thánh Kinh có thể dùng làn nền tảng cho những cuộc đối thoại trí thức giữa Công Giáo và Tin Lành. Nhưng đối với những người vô thần và vô tri, thì nền tảng chung trở nên mờ ảo hơn. Vì họ phủ nhận sự hiện hữu hay vai trò quan trọng của Thiên Chúa, nên Lời Ngài càng không đáng tin cậy đối với họ. Chỉ có thể còn một nền tảng chung là lý trí. Như Thánh Phêrô viết: "Anh em hãy luôn sẵn sàng giải thích cho bất cứ ai hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng của anh em, nhưng hãy làm điều đó với sự khoan dung và kính cẩn" (1 Phr 3:15-16). Tiếc rằng một số người vô thần có thể cũng vô lý và giáo điều như một số Kitô hữu. Chúng ta nên nhớ, như Thông Ðiệp này đã nhận ra, rằng: "Nếu con người với trí thông minh không nhận ra Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo mọi sự, không phải vì họ thiếu phương tiện, nhưng vì ý chí tự do và tội lỗi của họ cản đường" (Fides et ratio 19). Tôi không phải một triết gia chuyên nghiệp, nên theo một nghĩa nào đó, tôi không đủ khả năng nói bài này. Nhưng theo một nghĩa khác, triết học ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, nên chúng ta cần nhận chân được chiều hướng hiện tại của nó. Triết lý là nền tảng của các hệ thống chính trị, Mácxít chẳng hạn. Tất cả chúng ta là những tư tưởng gia đang cố công thu thập kiến thức. Tin đồn đương nhiên là một thí dụ xấu của nhu cầu này.Tất cả chúng ta đều muốn biết sự thật. Có người muốn đánh lừa người khác, nhưng rất ít người muốn bị đánh lừa. Thông điệp này nói về những vấn đề có ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Hy vọng rằng có một giây phút nào đó chúng ta suy tư về mục đích của đời mình. Phải chăng chúng ta chỉ là một quái vật ngẫu nhiên sinh ra trong vũ trụ cần một mục đích, hay là chúng ta được dựng nên với một mục đích? Thông Ðiệp này mở đầu bằng những câu hỏi như "Tôi là ai? Tôi từ đâu đến và tôi đang đi về đâu? Tại sao có sự dữ? Sau cuộc đời này còn có gì?" Những câu trả lời (hay không có câu trả lời) cho những vấn nạn căn bản này về ý nghĩa cuộc đời "quyết định hướng đi mà con người tìm kiếm cho đời sống mình" (Ibid.). Mặc dù sống trong thời đại khoa học, chúng ta vẫn có thể còn rất nhiều phi lý. Chúng ta nghe nói nhà trường đã thất bại trong việc giáo dục thế hệ tương lai như thế nào. Cũng như vì truyền hình, truyền thanh, báo chí tuyên bố rằng họ có những câu trả lời, nên chúng ta không cần phải suy nghĩ. Chúng ta đơn thuần chấp nhận những xu hướng phổ thông mà không thắc mắc gì cả. Theo thiển ý của tôi, khoa học và kỹ thuật đã làm cho chúng ta trở thành những người suy nghĩ cụ thể. Chúng ta càng ngày càng quan tâm đến thế giới vật chất và nhận thức giác quan của chúng ta về nó. Thuế má và thuốc ngừa bệnh có thể giải quyết những vấn nạn xã hội. Ðã lâu rồi, khi học đại số trừu tượng, tôi đã than với vị giáo sư là tôi không thấy thoải mái về đề tài này. Trong lớp tôi học được, nhưng tôi cảm thấy bị lạc, hay ít ra, tôi nghĩ là mình thiếu một điều gì quan trọng. Câu trả lời của vị giáo sư là: "Ờ, nó trừu tượng mà!" Khi đó tôi mới nhận ra rằng mình cũng là một người suy nghĩ cụ thể. Dù chúng ta cho rằng mình đang sống trong "thời đại của lý trí", vậy mà lý trí tân thời vẫn có những trở ngại lớn lao. Trở ngại đầu tiên mà Đức Thánh Cha đề cập đến là "Hoài Nghi". Vì chỉ suy nghĩ cách cụ thể nên chúng ta rất dễ bỏ qua những tư tưởng trừu tượng. Theo thuyết Hoài Nghi thì chỉ có những kiến thức thu lượm được do quan sát những gì là vật chất là quan trọng. Chúng ta chỉ biết nhờ ngũ quan. Những kiến thức liên quan đến những tư tưởng trừu tượng, như tình yêu, thẩm mỹ và Thiên Chúa là những ý nghĩ ngu xuẩn hay kỳ quặc. Những quan niệm trừu tượng như tự do và công lý cũng bị xuyên tạc hoặc phải đi đôi với những gì cụ thể. Thuyết Hoài Nghi cho rằng lý trí chỉ giới hạn bởi những gì giác quan cảm nhận. Tư tưởng nào vượt ra ngoài những gì là vật chất đều không quan trọng. Trở ngại thứ nhì với lý trí tân thời là sự tự trị và độc lập giả tạo. Sự tự trị giả tạo này của lý trí gọi là "Chủ Nghĩa Duy Lý". Chủ Nghĩa Duy Lý cho rằng kiến thức của con người không cần đến đức tin. Tất cả mọi kiến thức mà chúng ta cần đều có thể tự kiểm chứng được bằng giác quan và kinh nghiệm cá nhân của mình. Chúng ta không cần phải tin gì cả vì chúng ta có thể tự chứng minh được. Lý trí thay thế đức tin. Tiếc rằng sự tự tin này thiếu thành thật. Vì bị giới hạn bởi thời gian và tài nguyên, ngay cả các khoa học gia cũng phải nhìn nhận một ít ý thức về đức tin, có thể đó không phải là siêu nhiên. Theo Thông Ðiệp này, "con người - người tìm chân lý - cũng là người sống theo đức tin" (Fides et ratio, 31). Bây giờ đối với tất cả nhân loại, có hai cách để biết: đức tin và lý trý. Ðức tin là biết qua sự tin tưởng. Lý trí là biết qua suy nghĩ, quan sát hay kinh nghiệm cá nhân. Chúng ta cần cả hai cách để biết. Sự hiểu biết nhờ lý trí mà thôi thì quá giới hạn. Cả hai cần phải cùng nhau phát triển. Thí dụ, tôi chưa bao giờ đến Paris. (Tôi hầu như đến đó, nhưng chuyến bay của tôi bị quay trở lại). Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp về thành phố này. Lúc này trong đời tôi, tôi chỉ tin rằng thành phố này có thật. Tôi phải tin rằng có Paris qua niềm tin; tuy nhiên, niềm tin tự nhiên này không phải là một "bước mù quáng". Tôi có đủ lý do để tin rằng Paris thật sự là một thành phố. Có một điểm hội tụ của các chứng cớ: tôi nghe bạn bè đã ở đó nói về thành phố ấy. Tôi đọc nhiều sách, báo cáo và các bài báo liên quan đến Paris. Có thể bạn tôi nói dối, và các bài báo có thể sai, nhưng vẫn khó mà chấp nhận rằng tất cả đều sai. Các khoa học gia phải lệ thuộc vào niềm tin tự nhiên. Họ phải tin tưởng nhau. Mỗi khoa học gia không có thì giờ và tài nguyên để tự mình kiểm chứng tất cả mọi thí nghiệm và đo lường. Họ phải tin vào những bài viết về khoa học. Vậy niềm tin là kiến thức được nuôi dưỡng bằng sự liên hệ cá nhân, và chúng ta cần có niềm tin. Trong khoa học niềm tin này được nuôi dưỡng bằng "cộng đồng khoa học". Niềm tin này không phải là một "bước mù quáng" nhưng được hỗ trợ bằng lý trí. Những bài viết trên các sách báo khoa học được duyệt xét cẩn thận bởi các khoa học gia khác. Nếu một khoa học gia nào có bằng chứng là thiếu lương thiện, thì niềm tin này bị tan vỡ, và công việc của người đó bị mất tín nhiệm. Người đó phải giải nghệ. Vậy đức tin cũng thúc đẩy chúng ta theo đuổi lý trí. Theo Thông Ðiệp này, "Chính đức tin hướng dẫn lý trí vượt qua mọi cô lập và sẵn sàng mạo hiểm để nó có thể đạt được những gì là chân, thiện, mỹ. Ðức tin như thế trở nên biện hộ vững chắc và hợp lý cho lý trí" (Fides et ratio, 56). Tất cả khoa học vật lý trên căn bản cho rằng chúng ta có thể tìm hiểu được vũ trụ vật chất. Vũ trụ tự nó đáng được nghiên cứu và không đơn giản để khám phá. (Khoa học nghiên cứu về vũ trụ để biết vũ trụ là gì, trong khi kỹ thuật và kỹ sư nghiên cứu vũ trụ để chế ngự nó). Không có điều căn bản này, là một niềm tin chưa chứng minh được, rất ít người muốn bỏ giờ ra nghiên cứu vũ trụ và những điều cơ bản của vật chất. Hãy trực diện điều này: nghề nghiệp của các kế toán gia và y tá thì vững chắc hơn nghề nghiệp của các khoa học gia. Thông điệp này nhìn nhận rằng, "Chính và cũng một Thiên Chúa là Ðấng đảm bảo điều dễ hiểu và hợp lý của trật tự tự nhiên của vạn vật mà các nhà khoa học dựa vào một cách đầy tin tưởng, và là Ðấng tỏ mình ra là Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Feides et ratio, 34). Ở đây, Đức Thánh Cha dẫn chứng về Galilêô trong chú thích số 29: "Thánh Kinh và thế giới tự nhiên đều tiến hành cách bình đẳng từ Lời Thiên Chúa, Thánh Kinh được Chúa Thánh Thần viết, thế giới tự nhiên thừa hành cách trung tín lề luật của Thiên Chúa". Trong năm cuối cùng của chương trình Tiến Sĩ của tôi, những thí nghiệm của tôi vẫn chưa đem lại kêt quả mỹ mãn. Những thí nghiệm này đáng lẽ phải đem lại kết quả tốt, nhưng có một việc gì lạ lùng xảy ra. Tôi thất vọng và hầu như tuyệt vọng. Tôi than thở với giáo sư giám hộ của tôi. Ông trả lời: "Hỡi kẻ yếu tin!" Dầu tôi đang theo đuổi một văn bằng cao cấp về khoa học ở một đại học đời, tôi vần cần lòng tin để giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn. Như kết quả của đức tin siêu nhiên vào một Ðấng Tạo Hóa thông minh, là Ðấng không muốn lừa dối ai, khoa học hiện đại phát sinh từ Kitô Giáo thời trung cổ. Người Trung Hoa và Hy Lạp cổ xưa là những người rất thông minh. Người Trung Hoa khám phá ra thuốc súng, hỏa tiễn đầu tiên và la bàn. Người Hy Lạp phát minh ra máy hơi nước và hình học. Nhưng vì các tôn giáo có tính cách phiếm thần, họ không tin vào sự dễ hiểu của vũ trụ. Người Hy Lạp tin rằng thiên nhiên là thần thánh nên không thể hiều thấu được. Những người này có óc thông minh, nhưng không có hứng thú để theo đuổi khoa học. Theo Stanley Jaki thì khoa học trong những nền văn hóa này còn 'phôi thai". Tức cười là "thuyết Darwin, " thuyết tiến hóa vô thần, cho rằng vũ trụ là một quái thai của sự ngẫu nhiên. Nếu vũ trụ là một sự tình cờ, thì nó có đáng cho chúng ta nghiên cứu không? Một sự ngẫu nhiên thì không có mục đích gì. Và thường những gì xảy ra tình cờ thì cũng lộn xộn. Nếu trên căn bản vũ trụ lộn xộn, thì nó không thể hiểu thấu được. Quyết đoán này của Darwin có thể đem đến cho những ai muốn nghiên cứu khoa học những nghi ngờ. Thuyết Darwin không chỉ đả phá Kitô giáo mà còn đả phá cả những khích lệ cơ bản cho việc theo đuổi khoa học. Nhưng đức tin siêu nhiên thì sao? Ðức Tin siêu nhiên là nền tảng cho Kitô giáo. Nó liên quan đến lý trí tự nhiên thế nào? Theo Thông Ðiệp, "Mặc dầu đức tin, một món quà Thiên Chúa ban, không dựa trên lý trí, chắc chắn không được ban phát với lý trí. Đồng thời rõ ràng là lý trí cần phải được củng cố bằng đức tin để khám phá ra những chân trời ngoài phạm vi của nó" (Fides et ratio, 67). Lý trí có thể mở trí khôn cụ thể của chúng ta ra để rồi ý chí chúng ta dễ đón nhận ân sủng của đức tin siêu nhiên. Thí dụ câu hỏi căn bản "Tại sao có còn hơn không?" (Fides et ratio, 76) có thể làm cho chúng ta nhận ra rằng có một cái gì thiếu sót nếu chỉ dùng cảm quan. Lý trí cũng giúp đức tin không sa vào mê tín dị đoan. Lý trí có thể phê phán đức tin của chúng ta. Thông Ðiệp này nói rằng: "Thật là một ảo tưởng khi nghĩ là một đức tin, được liên kết với những lý lẽ yếu ớt, có thể là đức tin sâu sa hơn; ngược lại, đức tin đó dễ bị sa lầy vào hoang đường và mê tín" (Fides et ratio, 48). Một lạc giáo liên quan đến đức tin là thuyết "Duy Tín", cho rằng đức tin siêu nhiên thì quá trổi vượt trên lý lẽ tự nhiên đến nỗi lý trí không có ích gì cho đức tin. Tiếc thay Thuyết Duy Tín làm cho đức tin trở nên một sự tin tưởng cá nhân hay một "bước mù quáng". Như Thánh Phêrô đã khuyến khích rằng lý trí có thể giúp chúng ta giải thích đức tin một cách hay hơn cho những người không có cùng một niềm tin như chúng ta. Ngược lại, đức tin siêu nhiên có thể cung cấp cho lý trí một sức sinh động và mới mẻ. Một lần nữa, theo Thông điệp: "Cũng thế, lý trí mà không liên kết với một đức tin trưởng thành thì không được thúc đẩy nhìn đến sự mới mẻ và căn bản của sự vật" (Fides et ratio, 48). Ðức tin có thể giải thoát lý trí khỏi sự lệ thuộc hoàn toàn vào cảm quan. Như trong khoa học, đức tin có thể thúc đẩy chúng ta theo đuổi các lý lẽ xa hơn nữa để thu lượm được nhiều kiến thức. Theo kết luận của Thông Ðiệp: "Hội Thánh vẫn tin tưởng một cách sâu xa rằng đức tin và lý trí ‘hỗ tương nhau’; chúng ảnh hưởng lẫn nhau khi chúng trao đổi những phê phán làm cho nhau thêm tinh tuyền, và khuyến khích nhau trong việc theo đuổi tìm kiếm để hiểu biết sâu xa hơn” (Fides et ratio, 100). Mặc dù tôi đã nói chính về đức tin và lý trí, vì đề tài của Thông Ðiệp là "Ðức Tin và Lý Trí", Thông Ðiệp này thực ra cũng quan tâm đến liên quan giữa triết học và thần học. Cả hai đều cần sự tự trị hợp lý, nhưng chúng có hiệu quả hơn nếu chúng tác động lẫn nhau. Triết học là một khối kiến thức được xắp xếp có thứ tự để giải thích một điều gì. Tương tự như lý trí, nó bắt đầu từ cảm quan. Trái lại, thần học cũng là một khối kiến thức nhằm mục đích giải thích một điều gì, nhưng nó bắt đầu từ Lời Chúa mặc khải. Nó liên quan đến cả đức tin lẫn lý trí. Vì hai môn học đó bắt nguồn từ hai khởi điểm khác nhau, nên chúng cũng khác nhau. Nhưng chúng ta có thể dùng cả hai để hiểu thêm về Thiên Chúa. Dựa vào thế giới tự nhiên dễ hiểu, triết học có thể dùng lý luận để chứng minh rằng có Thiên Chúa như là một Nguyên Lý Tuyệt Ðối. Nhưng triết học không thể biết gì về Chúa Ba Ngôi. Chỉ nhờ mặc khải và thần học mà chúng ta mới hiểu biết hơn về Thiên Chúa là Chúa Ba Ngôi. Trước khi kết luận, Đức Thánh Cha đã vạch ra một số dòng tư tưởng triết học hiện đại mà trên căn bản có tính cách sai lạc. Trước hết, "Thuyết Chiết Trung", như tên của nó ám chỉ, là một phương thức vay mượn tư tưởng từ nhiều triết lý khác nhau mà không quan tâm đến sự thích hợp hay mạch lạc nội tại của chúng. Nó là "một mớ tư tưởng hỗn tạp". Thứ nhì, "Thuyết Duy Sử" cho rằng không có chân lý nào vượt thời gian cả. Một điều đúng ở giai đoạn lịch sử này có thể sai ở giai đoạn lịch sử khác. Nó liên quan mật thiết với Thuyết Ðổi Mới. Kế đến là thuyết "Duy Khoa Học", tương tự như thuyết Duy Lý và thuyết Duy Nghiệm, cho rằng chuúg ta chỉ có thể thu thập được những kiến thức chắc chắn qua những phương pháp khoa học. Nó cho người ta cảm giác rằng những gì kỹ thuật có thể làm được thì theo luân lý cũng được phép làm. "Thuyết Duy Thực", là thuyết rất phổ thông ở Anh Quốc và Hoa Kỳ, là một thái độ tư tưởng trong đó quyết định được dựa trên kết quả và sự thực dụng. Tất cà những cân nhắc có tính cách lý thuyết đều bị bác bỏ. Bất cứ hành động nào đem lại kết quả mong muốn đều là hành động tốt. Sau hết tất cả những triết thuyết trên đưa đến "Thuyết Hư Vô". Ðó là việc chối bỏ nhân phẩm và số phận đời đời của con người. Hư vô là một kết luận hợp lý cuối cùng và chân thật rằng không có Thiên Chúa chúng ta không là gì cả. Ðó là sự tuyệt vọng của thuyết vô thần. Những triết thuyết này có khuynh hướng chối từ sự cần thiết Thiên Chúa và tuyên xưng một sự tự lập giả tạo. Như Thông Ðiệp ghi nhận: "Vì thế giới được tạo dựng không thể tự túc, mọi ảo ảnh về tự lập trong đó chối từ sự lệ thuộc cần thiết vào Thiên Chúa của mọi tạo vật - kể cả loài người - đều đưa đến những hoàn cảnh bi đát làm tan vỡ việc tìm kiếm hợp lý sự hòa hợp và ý nghĩa của đời sống con người" (Fides et ratio, 80). Tóm lại, vì hoàn cảnh con người của chúng ta, chúng ta cần cả đức tin lẫn lý trí để phát huy kiến thức. Cả hai phải đi song đôi với nhau. Vì tôi không phải là một triết gia mà cũng không phải là một thần học gia, nên xin ngừng ở đây. Xin đọc Thông Ðiệp này. Cám ơn quý vị vì thì giờ và sự kiên nhẫn quý vị dành cho tôi. (Nguồn: Phillip B. Liescheski, ngày 14/5/1999, do Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ) Phaolô Phạm Xuân Khôi April 05 Về việc hoà giải khoa học và tôn giáoWalter Lippmann
Về việc hoà giải khoa học và tôn giáo
Cao Hùng Lynh dịch
Nhiều lý lẽ đã được viện dẫn để giải thích tại sao người ta không còn đi nhà thờ nhiều như trước đây. Chắc chắn lý do quan trọng nhất là họ không tin rằng sẽ gặp Chúa khi đến nhà thờ. Nếu có niềm tin đó, họ sẽ đi. Nếu họ thực sự tin rằng họ được quan phòng bởi một đấng Tối cao, người có nhiều quyền lực hơn tất cả các vị vua trên trần thế này cộng lại, nếu họ thực sự tin rằng không chỉ các hành vi, mà cả những suy tư thầm kín của họ, đều bị nhìn thấy, đồng thời sẽ được ghi nhận bởi đấng sáng tạo và vị phán quan tối thượng của vũ trụ, thì sẽ không có lời than phiền gì về số lượng tín đồ tham dự thánh lễ tại nhà thờ. Khi đó, kẻ ít niềm tin nhất sẽ ngồi ở hàng ghế đầu, và người thuyết giáo sẽ không phải dùng đến những mưu chước khá là tuyệt vọng để thu hút cử tọa. Nếu mọi người tin rằng các tín điều được tuyên xưng là hoàn toàn xác thực, thì người đi lễ hiện đại sẽ không còn đến nhà thờ, như họ thường làm hiện nay, để nghe thuyết giáo và thánh nhạc. Nếu như vậy, họ sẽ luôn luôn tôn thờ Thượng đế.
Sự tin theo một tôn giáo sẽ mất tác dụng khi nó chỉ dựa vào sự tán thành có tính cách thụ động, hoặc vào những lập luận rối rắm, hoặc vào sự cổ võ cuồng nhiệt, hoặc vào những mưu tính, dù không xấu xa, nhằm biến mọi thứ trở nên mơ hồ và mang nhiều tính khoa trương. Con người không thể đùa giỡn với niềm tin. Hoặc là anh ta có nó trong tận xương tủy; hoặc là khi gặp khốn khó, sẽ không có niềm tin nào nâng đỡ anh ta. I. Dân tộc Mỹ, không giống với các dân tộc khác, được hợp thành từ những cá nhân đã bị mất quê hương. Họ băng qua biển cả để định cư khắp nơi trên một lục địa mới. Những người Mỹ nào vẫn đang cư ngụ trong ngôi nhà của tổ phụ hầu như đều cảm thấy như thể mình đang sống trong một viện bảo tàng. Có rất ít người Mỹ sống yên một nơi từ bé đến lớn, và ngay cả khi họ vẫn ở tại nơi chốn mà họ đã chào đời, thì các vết tích xưa cũ cũng đã bị cuốn phăng để dành chỗ cho sự phát triển. Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta có nhiều tính cách Mỹ hơn là có nhiều tình yêu dành cho nước Mỹ. Cần phải có thời gian để yêu cái trạm xăng mới đang tọa lạc ở nơi mà trước đây những bụi kim ngân dại đã mọc. Hơn nữa, đại đa số người Mỹ đều là những kẻ thành đạt. Họ đã rời bỏ giai cấp xuất thân của họ, và có lẽ từ đó cũng đã nâng cha mẹ họ lên một vị thế cao hơn, để có thể cùng nhau ngồi bên những chiếc ống dẫn hơi nước mà nghe những điệu nhạc ngân nga phát ra từ chiếc máy radio. Nhưng càng lúc càng có nhiều người trong số họ đã từ bỏ, chẳng những giai cấp xuất thân, mà còn cả nền văn hoá của họ nữa; sau đó, họ rời bỏ người thân, và thế là tính liên tục của đời sống bị gián đoạn. Niềm tin chỉ lớn mạnh khi nó được chuyển giao từ cha mẹ sang con cái giữa một môi trường luôn luôn xác nhận - bởi vì không điều gì hoàn toàn biến đổi một cách triệt để - sự tồn tại của một sự lâu bền nào đó trong trật tự xã hội. Rõ ràng là trong cuộc di cư có tính chất vật lý và tâm lý này, một vài trong số các vị thần hộ mạng của gia đình đã được đóng gói cẩn thận để mang theo chung với hành lý, rồi sau đó được mở ra để đặt lên các bệ thờ mới tại quê hương mới. Nhưng những thứ được mang theo đó chẳng khác nào cái cây đã bị bứng khỏi mặt đất. Gốc rễ của nó vẫn còn nằm sâu trong lòng đất mà từ đó nó đâm chồi. Vỉa hè của một thành phố lúc nào cũng là nơi chốn khắc nghiệt để gieo mầm tôn giáo. Trong suốt chiều dài lịch sử, như Spengler đã nói rõ, thành thị luôn luôn làm nảy sinh dị giáo và các nghi lễ thờ phụng mới lạ, đồng thời dung dưỡng cho tình trạng vô tín ngưỡng. Bây giờ, khi nói về nền văn minh hiện đại, điều chúng ta muốn nói là một nền văn minh bị ngự trị bởi các giá trị văn hoá của các trung tâm đô thị lớn. Nền văn minh của chính chúng ta tại nước Mỹ này có lẽ là nền văn minh đã bị đô thị hoá một cách đáng kể nhất trong số tất cả các trung tâm đô thị; bởi vì ngay cả giới nông gia, mặc dầu sinh sống ở nông thôn, vẫn đang có khuynh hướng trở thành các cư dân ngoại ô hơn là người tỉnh lẻ. Tôi nhận thức được dân số những vùng ngoại vi của các thành phố lớn đã đóng một vai trò có nhiều ảnh hưởng như thế nào. Tuy nhiên, các thành phố lớn mới là nơi định đoạt nhịp độ lớn mạnh của nền văn minh chúng ta; đồng thời chiều hướng của các phát minh cơ giới cộng với chính sách kinh tế sẽ tạo ra một hấp lực không thể cưỡng lại, khiến cho nông thôn ngày càng tiến dần về phía thành thị. Các truyền thống sâu xa và bền vững của tôn giáo thường tùy thuộc vào nông thôn. Bởi vì đó là nơi người ta kiếm miếng ăn hàng ngày bằng cách tòng phục các thế lực siêu nhiên, những thế lực mà con người chỉ có thể phần nào chế ngự được các hành vi của chúng. Trong việc cày cấy, gieo trồng, anh ta không còn biết làm gì hơn, ngoại trừ chờ đợi mưa thuận gió hoà. Rõ ràng anh ta là một phần của sự xếp đặt nào đó và phải trung thuận với các yếu tố vượt quá khả năng và sự hiểu biết của mình. Thành thị, do đó, là một chất cường toan làm ruỗng mòn lòng trung thuận này. Nó hoàn toàn khác với một vườn nho thuở nào, nơi mà người ta luôn luôn gieo trồng những gì mà cha ông họ đã gieo trồng. Trong một đô thị hiện đại, không dễ duy trì “tình cảm quyến luyến với cội nguồn và kéo dài sự ổn định của cuộc sống nảy sinh từ tình cảm quyến luyến ấy.” Sẽ rất thiếu tự nhiên khi hình thành tình cảm quyến luyến với một căn hộ có thời hạn cho thuê trong vòng hai năm, và với chiếc bàn giả gỗ đặt trên tầng ba mươi hai của một cao ốc văn phòng. Trong một môi trường như thế, lòng trung thuận trở nên phi lý, và là một cái gì đó khôi hài; người sùng đạo, khi đó, trông giống như một người quê mùa hoặc một kẻ ngốc ngếch lạc hậu. Tuy nhiên, nếu thiếu lòng mộ đạo, nếu thiếu tình cảm quyến luyến dành cho gia đình và quê hương, nếu thiếu sự gắn bó với một khung cảnh ít đổi thay, thì không thể nào có niềm tin vào sự xếp đặt bên ngoài cuộc sống. Quyền năng tuyệt đối của Thượng đế luôn luôn là một điều gì đó có ý nghĩa đối với những người hàng ngày phụ thuộc vào chu kỳ thời tiết và năng lực huyền nhiệm của thiên nhiên. Nhưng người thành thị thường đặt niềm tin của họ vào các cuộc thử thách để giữ cho nó đừng nguội lạnh, nhận thức một cách kiêu mạn về chất thải độc hại nào mà tiền nhân của họ từng hứng chịu, và về việc họ đã tin tưởng một cách ngu dốt rằng Thượng đế, người đã tạo ra Adam lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng Mười năm 4004 trước Tây lịch, có quan tâm đến các hành vi của con cái Adam. II. Người bình thường là một kẻ thực dụng vô thức: anh ta tin, bởi vì anh ta cảm thấy rằng những niềm tin của anh ta làm thay đổi đường đi của các biến cố. Anh ta không thờ phượng một vị thần linh chỉ biết suy niệm về vũ trụ, hoặc vị thượng đế sáng tạo ra vũ trụ ấy, và sau đó sẽ không cảm thấy được an nghỉ, trong khi vận mệnh của vũ trụ cứ tự phơi bày một cách không thương tiếc. Đối với người chất phác, tôn giáo không phải là một hoạt động bất vụ lợi, mà là một vấn đề rất thực dụng. Nó liên quan đến tình trạng an bình của họ trong thế giới đang sống này và trong một thế giới bình đẳng sau đó. Họ muốn biết ý nguyện của Thượng đế, bởi vì họ phải biết điều đó một khi họ họ thố lộ sự thật với đấng sáng tạo. Những ai tự cho là mình biết được ý nguyện của Thượng đế đều phải chứng tỏ rằng họ biết điều đó. Đây là chức năng của những phép lạ. Đó là chứng cớ xác thực cho việc vị tôn sư của tôn giáo có một phận sự thực thụ. “Dân chúng thấy dấu lạ (về bánh mì và cá) Đức Jesus làm, thì nói, hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian.” Khi Chúa Jesus làm cho người chết tại cổng thành Nain trỗi dậy, “mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người.” Các nhà thần học Thiên Chúa giáo có uy tín nhất đã dạy rằng phép lạ “không phải được làm ra để chứng tỏ chân lý bên trong của các học thuyết, mà chỉ nhằm biểu lộ các lý do tại sao chúng ta nên chấp nhận các học thuyết ấy.” Chúng, “về căn bản, là một sự đòi hỏi hiểu biết,” một sự biểu hiện, cái mà người ta hầu như có thể nói là sự thể nghiệm thiêng thánh, nhờ đó người ta có thể biết được sự quang diệu và an bài của Thiên Chúa. Những người biện giải cho Thiên Chúa giáo cho rằng Thiên Chúa có thể được biết bằng lý trí, nhưng phép lạ giúp, như nó đã từng, xác nhận niềm tin. Sự gắn bó bền bỉ của giáo hội Thiên Chúa giáo với phép lạ là một sự gắn bó đầy ý nghĩa. Nó có một kinh nghiệm liên tục với bản chất con người lâu hơn bất cứ định chế nào khác trong thế giới phương Tây. Nó đã tự thích nghi với nhiều tình huống, và dưới sự tuyên xưng tín ngưỡng không thể đổi thay, nó đã từ bỏ, để rồi sau đó, bổ sung nhiều vấn đề. Nhưng nó chưa bao giờ ngưng đòi hỏi sự cần thiết của một sự biểu lộ mang tính vật chất của quyền năng thiêng thánh. Bởi vì, với một bản năng bất khả sai lầm đối với thực tại, các giáo sĩ Thiên Chúa giáo hiểu rằng có một tính thực tế trong nhu cầu muốn sờ nắm và trông thấy, cái mà các chứng cứ bằng ngôn lời không bao giờ có thể đáp ứng được. Họ đã kiên quyết đáp lại nhu cầu ấy. Họ không thể rao giảng về Thiên Chúa chỉ bằng cách ngợi ca Ngài; họ đã đưa Thiên Chúa đến gần với con người bằng cách biểu lộ Ngài cho các giác quan, như là một người có đủ tính cao cả, sự chân thiện và quan tâm đến con người để có thể chữa khỏi bệnh tật và làm cho lũ lụt lùi dần. Nhưng ngày nay, các khoa học gia lại nằm ở thế thượng phong so với các giáo sĩ trong vấn đề minh giải này. Vả lại, các phép lạ được thuật lại từ bục giảng kinh càng trở nên hiếm hoi. Thậm chí có nhà thần học đã giảng rằng phép lạ đã không còn xuất hiện sau cái chết của các tông đồ. Nhưng phép lạ của khoa học dường như không hề có biểu hiện cạn kiệt. Không có gì đáng ngạc nhiên khi khoa học gia đã thủ đắc phần lớn uy thế tri thức mà các giáo sĩ đã từng có được. Khoa học gia, cố nhiên, không nói các khám phá của họ là phép lạ. Nhưng đối với người bình thường, các khám phá ấy cũng mang nhiều đặc tính như phép lạ. Chúng là những điều kỳ diệu, là những cái không thể giải thích được, là sự biểu lộ của một sứ mạnh to lớn tác động lên các thế lực của thiên nhiên. Tôi nghĩ không thể nói rằng dân chúng nói chung, ngay cả thiểu số có học vấn không cao lắm, đều hiểu sự khác biệt giữa phương pháp khoa học và sự mặc khải, hoặc sự khác biệt mà dựa vào đó, họ đã quyết định đặt niềm tin nơi khoa học. Ít ra, phép lạ hiện có trong khoa học đối với người bình thường cũng nhiều tương đương với các phép lạ đã từng có trong tôn giáo; điều này được hiểu theo một ý nghĩa rằng phép lạ khoa học thường xuất hiện nhiều hơn, bởi vì sự hợp lý của khoa học là điều vẫn còn hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của anh ta; trong khi đó sự hợp lý của mặc khải là sự hợp lý của chính các xúc cảm của anh ta. Nhưng nếu con người nói chung không hiểu được phương pháp khoa học, thì họ vẫn có thể đánh giá đúng mức một số các kết quả hữu hình của nó. Và các kết quả này gây ra nhiều ấn tượng cho đến nỗi nhà khoa học thường bị bối rối trước các kỳ vọng không cùng mà họ đã vô tình khơi gợi. Uy thế của họ trong lãnh vực kiến thức đã trở thành một điều lôi cuốn hầu như khó cưỡng lại được. Cho nên, khi các khoa học gia truyền giảng một lý thuyết nào đó và kinh thánh lại rao truyền một lý thuyết khác, thì khoa học gia luôn luôn mang lại sự tin cậy lớn hơn. Các xung đột giữa khoa học gia và giáo sĩ đôi khi được quy cho một điều hiểu lầm nào đó thuộc cả hai phía. Nhưng khi chúng ta khảo sát các đề xuất hoà bình (cho sự xung đột này), thì rõ ràng là, tôi nghĩ, trên thực tế, chúng chỉ là những đề xuất hưu chiến. Chẳng hạn như, tôi tin rằng thoạt tiên, vào thế kỷ mười bảy, có một đề xuất được đưa ra như sau: Thượng đế làm cho vũ trụ giống như chiếc đồng hồ, và sau khi cho nó chạy, Ngài sẽ bỏ mặc nó đến khi nào nó đứng lại. Bằng hình ảnh ẩn dụ khéo léo này, cái không thể chứng minh và cũng không thể phản bác, người ta đã có thể hoà giải quan điểm của khoa học về các quy luật thiên nhiên với quan điểm xưa cũ hơn về Thượng đế như là đấng sáng tạo và người phán xét. Quan điểm tôn giáo tỏ ra đúng đắn vào thời điểm khởi đầu và kết thúc của thế giới, còn quan điểm khoa học thì cho thấy sự chính xác của nó vào giai đoạn giữa hai thời điểm ấy. Sau đó, khi sự khó khăn được chuyển từ vật lý học và thiên văn học sang sinh vật học và sử học, thì sự khác biệt đã nảy sinh. Thượng đế, người ta nói, đã sáng tạo ra thế giới và cai quản nó; phương cách mà Ngài sáng tạo và cai quản thế giới là phương cách mà khoa học gia gọi là “sự tiến hoá”. Các nỗ lực hoà giải đều dựa trên một lý thuyết cho rằng có thể vạch ra, trong lãnh vực hiểu biết, một ranh giới để phân định bên này các phương pháp của khoa học sẽ chiếm ưu thế, trong khi bên kia thuộc về các phương pháp của tôn giáo truyền thống. Người ta thừa nhận rằng nơi nào sự thử nghiệm và quan sát có thể thực hiện được, thì nơi đó là cương thổ của khoa học gia; nhưng người ta cũng biện luận rằng có một lãnh thổ bao la đối với lợi ích to lớn của con người luôn luôn nằm ngoài tầm với của sự nghiên cứu khoa học có tính cách thực dụng, và rằng tại đây, những vấn đề thống thiết như định mệnh của con người, cứu cánh của cuộc đời, sự bất tử, phương pháp thiên khải, cái được cảm nhận và xác minh bằng trực giác, vẫn còn đáng tin cậy. Trong bất cứ cuộc hưu chiến nào thuộc loại này, luôn luôn có sự xâm lấn từ cả hai phía. Lý do là vì đó chỉ là một chính sách tạm thời hơn là một sự tin cậy được ưng thuận từ trong thâm tâm của mỗi phía. Khoa học gia thực sự không thể tin rằng có những lãnh vực tri thức mà họ không bao giờ có thể thâm nhập. Họ phải bước vào mọi nơi chốn để khám phá mọi thứ. Và ngay cả khi thất bại, họ cũng không thể tin rằng các khoa học gia khác cũng sẽ phải thất bại như họ. Hơn nữa, các bài luận văn của họ thường tạo ra sự phiền toái và nỗi hồ nghi khiến các giáo sĩ chính thống bị phật ý. Trong bất cứ sự phân chia quyền lực nào, luôn luôn cần phải có một thế lực tối thượng để phán quyết các vấn đề tranh chấp. Khoa học gia sẽ định đoạt cái gì thuộc về khoa học, hay là các giáo sĩ sẽ làm chuyện đó? Vấn đề này sẽ không thể giải quyết được chừng nào mà cả hai đều cứ tuyên bố rằng họ có quyền giải thích bản chất của sự sống. III. Tính mới lạ căn bản của khoa học hiện đại nằm ở sự khước từ niềm tin – cái niềm tin nằm nơi tâm điểm của mọi tôn giáo phổ biến - rằng các lực làm chuyển động ngôi sao và nguyên tử đều phụ thuộc vào sự ưa thích của trái tim con người. Khoa học của Aristote và của các học giả thời trung cổ, trái lại, lại là một khoa học có tính phổ biến thực sự. Về động lực, nó chính là một khoa học có tính bản năng của những người phản khoa học. “Họ thiên nhiều về nguyên nhân và cứu cánh của vũ trụ”, tiến sĩ Randall nói, “cái được biện giải vì con người, vì sự phụng sự cho cái thiện.” Họ đưa ra một ý niệm vũ trụ chỉ có thể dùng để đáp ứng các nhu cầu tôn giáo của những người bình thường, và trong vở The Divine Comedy [1] (Thần Khúc), chúng ta có thể thấy một ví dụ xứng đáng về điều khoa học phải là, một khi nó muốn đáp ứng nhu cầu tin tưởng của con người. Mục đích của toàn bộ thi phẩm, Dante nói, “là nhằm để đưa những ai đang sống trong cuộc sống này thoát khỏi tình trạng bất hạnh, đồng thời dẫn dắt họ đến cõi miền hoan ái.” Đây là điểm mấu chốt mà con người, theo bản năng, vốn trông chờ: khả năng nói một cách chắc chắn rằng khi sự thật hoàn toàn rõ ràng, người ta sẽ thấy ước vọng của họ bị chi phối bởi loại tình yêu làm cho mặt trời và các vì sao chuyển động. Họ không chỉ hy vọng tìm thấy ý nguyện của Thượng đế trong vũ trụ, mà còn hy vọng biết rằng ý nguyện của Ngài, về căn bản, giống với ý nguyện của chính họ. Chỉ khi nào có thể vào tin điều đó trên nền tảng nghiên cứu khoa học, thì họ mới thực sự nghĩ rằng khoa học đã “giải thích” thế giới. Sự giải thích, theo ý nghĩa này, không thể xuất phát từ khoa học hiện đại, bởi vì nó không nằm trong cái ý nghĩa mà khoa học hiện đại đang nỗ lực giải thích vũ trụ. Chẳng hạn, hoàn toàn lầm lẫn khi nói rằng bức tranh khoa học về thế giới có tính chất cơ học. Điều duy nhất có thể nói là nhiều khoa học gia đã cảm thấy hài lòng khi nghĩ về vũ trụ như thể là nó được kiến tạo theo kiểu một mô hình cơ giới. “Nếu tôi có thể làm ra mô hình cơ giới,” Kelvin nói, “thì tôi sẽ hiểu nó. Khi nào mà tôi vẫn chưa làm được một mô hình cơ giới, thì tôi không thể hiểu nó.” Nhưng vị khoa học gia này muốn nói điều gì với cụm từ “hiểu nó?” Ý của ông là, theo lời giáo sư Bridgman, ông đã “thoái giảm một trạng huống thành các yếu tố mà chúng ta quen thuộc cho đến nỗi đã chấp thuận chúng như là một lẽ đương nhiên để cho óc tò mò của chúng ta được nghỉ ngơi.” Người hiện đại rất quen thuộc với máy móc. Họ có thể tháo ráp chúng một cách dễ dàng; và như vậy, óc tò mò của chúng ta có xu hướng được thoả mãn nếu như chúng ta nghe rằng hiện tượng kỳ lạ về điện năng hoặc về hành vi con người, chẳng hạn, thì cũng giống như một cỗ máy mà thôi. Người nói rằng thế giới là một cỗ máy thực sự chẳng thể đi xa hơn kẻ nói rằng anh ta hoàn toàn thoả mãn với điều tương tự rằng anh ta đã hoàn tất việc tìm kiếm sự thật. Đó là việc của anh ta, miễn là anh ta đừng khăng khăng cho rằng mình đã đạt được một bức tranh trong sáng và trọn vẹn về vũ trụ; bởi lẽ rõ ràng là anh ta vẫn chưa đạt được điều đó. Cỗ máy là một vật gì đó mà bên trong nó các bộ phận đều kéo đẩy lẫn nhau. Nhưng tại sao chúng kéo và đẩy, và chúng hoạt động bằng cách nào? Phải chăng chúng kéo và đẩy nhờ vào sự hoạt động theo quỹ đạo của các electron trong nguyên tử? Nếu đúng như thế, tại sao các electron hoạt động? Nó cũng là một cỗ máy chăng? Hoặc giả nó là một cái gì đó hoàn toàn khác với một cỗ máy? Chúng ta sẽ cố gắng lý giải các cỗ máy về phương diện điện học, hay chúng ta nỗ lực lý giải hiện tượng điện học về phương diện cơ học? Do đó, rõ ràng là sự giải thích của khoa học hoàn toàn không giống với những sự giải thích mà người bình thường đã quen với. Nó không mang lại một hình ảnh nào đó về bất cứ cái gì được chấp nhận một cách hồn nhiên như là một hiện thân của thực tại. Thế cho nên, những triết lý phát triển từ khoa học như thuyết cơ giới và thuyết tiến hoá sáng tạo (creative evolution), đều không được khoa học bảo đảm như sự bảo đảm mà uy thế của kinh thánh đã dành cho câu chuyện sáng tạo trong Sáng thế ký. Chúng không là gì cả, ngoại trừ việc là sự cường điệu có tính cách tạm thời, cái sẽ sớm bị khước từ bởi sự tiến bộ của chính khoa học. Đó là lý do tại sao không gì dễ tàn lụi bằng niềm tin khoa học của ngày hôm qua. Nó lụi tàn một cách toàn vẹn hơn bất cứ niềm tin thiên khải nào khác, bởi vì niềm tin thiên khải, cho dù các nhược điểm về phương diện vũ trụ học hoặc sử học của nó có là gì đi chăng nữa, luôn hàm chứa một kinh nghiệm mang tính con người tại tâm điểm của nó, cái mà chúng ta có thể nhận ra và có thể hưởng ứng. Nhưng một niềm tin như thuyết duy vật khoa học lại không chứa đựng điều gì trong nó cả, ngoại trừ thái độ tự phụ rằng nó là sự miêu tả chân thực về thế giới này. Một khi thái độ tự phụ ấy bị tiêu tan, thì nó hoàn toàn không có giá trị của một niềm tin. Nó trở thành một tập hợp các ý niệm đã bị vứt bỏ. IV. Khi đó, từ chính bản chất của sự biện giải mang tính khoa học, sẽ dẫn đến việc rằng niềm tin khoa học không thể trao tặng cho con người manh mối đưa tới một dự tính tồn sinh như được tìm thấy trong tôn giáo; bởi vì dự tính ấy phải giả định rằng sự tồn sinh được lý giải dưới dạng định mệnh. Hiện nay, sự tồn sinh có khả năng lại được biện giải, như đã từng được biện giải vào thời Trung cổ, như là vở tuồng định mệnh. Điều này dường như không có giá trị đối với chúng ta; tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nói rằng nó là điều hoàn toàn không có khả năng xảy ra. Nhưng ngay cả khi khoa học có đưa ra một lối biện giải như thế, nó vẫn sẽ khác hoàn toàn với sự biện giải mà tôn giáo tận dụng. Nếu nói một cách trung thực, thì nhất thiết phải nói như vầy: một, niềm tin khoa học có tính chất thiếu quả quyết và lệ thuộc vào sự phản bác của các cuộc thử nghiệm sau đó; hai, nó có tính tương đối; trong nó, các sự kiện giống nhau, được nhìn từ quan điểm khác và với mục đích khác trong tâm thức, lại có thể được lý giải một cách hoàn toàn khác nhau; ba, nó không phải là hình ảnh của thế giới, như cách Thượng đế sẽ nhìn thấy, và như cách mọi người phải nhìn thấy, mà nó chỉ là một trong số những hình ảnh sáng tạo có thể có của tâm thức, trong đó hầu hết các dữ kiện của kinh nghiệm được người ta nhào nặn cho ăn khớp với nó. Khi nhà khoa học đã hoàn tất việc gán ghép các phẩm tính, thì bản chất của vấn đề có lẽ đã bị xoá mất - người mộ đạo luôn luôn thấy được điều đó. Sự cả tín – như người mộ đạo ước vọng về nó - sẽ không còn nữa; sự đa dạng, như người mộ đạo hiểu, sẽ biến mất; sự khách quan, như người mộ đạo mường tượng, cũng vậy. Cái còn lại sẽ là một sự hư cấu trừu tượng và hợp lý, thích hợp với cuộc nghiên cứu vô tư, nhưng hoàn toàn không thích hợp để trở thành chiếc xe cứu rỗi. Sự khó khăn của việc hoà giải tôn giáo với khoa học còn lớn lao hơn nhiều so với sự khó khăn trong việc hoà giải Sáng thế ký với Darwin, hay bất cứ lời tuyên bố nào trong kinh thánh với sự khám phá của các khoa học gia. Sự khó khăn trong việc hoà giải ước vọng của con người về một loại vũ trụ nào đó với phương pháp biện giải thế giới hiện nay đã có tính cách hoàn toàn trung lập trong chủ đích của nó. Người ta có thể, bằng cách vặn vẹo ngôn ngữ, hoà giải Sáng thế ký với “thuyết tiến hoá”. Nhưng điều mà không một ai có thể thực hiện được là bảo đảm rằng khoa học sẽ không phá huỷ thuyết tiến hoá vào cái ngày sau khi người ta chứng minh một cách đắc thắng rằng Sáng thế ký có mối tương hợp với thuyết tiến hoá. Trên thực tế, điều đó cũng vừa xảy ra. Thuyết Darwin, thuyết mà các nhà thần học đang vội vã chấp thuận, hiện được khoa học sửa đổi nhiều đến nỗi một bộ phận của nó hầu như đã lỗi thời như huyền thoại về người Babylon trong Sáng thế ký. Cuộc hoà giải mà các nhà thần học nỗ lực tìm kiếm là một cuộc hoà giải không thể thực hiện được, bởi vì một trong những yếu tố phải được hoà giải – đó là học thuyết khoa học - lại thay đổi quá nhanh, đến nỗi mà người bình thường, tại bất cứ thời khắc nào, không bao giờ biết chắc được học thuyết ấy là gì, và phải hoà giải cái gì với các tín điều tôn giáo. Tuy nhiên, mục tiêu của những nỗ lực hoà giải này đã đủ rõ ràng. Đó là sự mong muốn tìm ra một nền tảng vững chắc cho lý tưởng nhân loại trong các sự thật của cuộc tồn sinh. Uy thế được đặt trên sự mặc khải đã có lần mang lại nền tảng ấy. Nó đã đưa ra sự miêu tả về cách thức thế giới này khởi đầu, về cách thức thế giới này được cai trị, và về cách thức nó sẽ kết thúc; điều này đã biến niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và sợ hãi, ước mơ và sự chối bỏ ước mơ thành các động lực chính yếu trong tấn tuồng vũ trụ. Sự mô tả này không còn làm thoả mãn óc tò mò của chúng ta về bản chất của sự vật; cái quyền uy hiện đang bảo chứng cho nó không còn làm chủ được lòng trung thành trọn vẹn của chúng ta. Uy tín, cái đã từng gắn chặt với những ai phát biểu bằng sự thiên khải, giờ đã chuyển sang các khoa học gia. Nhưng khoa học, dẫu hiện nay có là một phương pháp hiểu biết khả tín nhất mà chúng ta có được, vẫn không đưa ra được một sự miêu tả thế giới, trong đó số phận con người là đề tài trung tâm. Do vậy, khoa học, mặc dầu đã chiếm chỗ của sự thiên khải, nhưng vẫn chưa thay thế được nó. Khoa học sản sinh một loại tri thức hoàn toàn khác biệt. Nó giải thích sự kiện. Nhưng nó không đòi hỏi phải biện minh cách thức Thượng đế hành xử với con người. Nó làm cho chúng ta có thể nhận ra một số ước vọng của mình. Nhưng nó không bảo đảm rằng chúng có thể được thực hiện. Bản tiếng Việt © 2008 talawas -------------------------------------- [1]Tác phẩm của Dante Alighieri (1265 – 1321), kịch tác gia người Ý.
Nguồn: trích từ Preface to Morals, Walter Lippmann, Macmillan xuất bản, New York, 1929 March 22 Khoa học có thể bác bỏ được thuyết vô thần không?André Comte–Sponville, Jean Staune
Khoa học có thể bác bỏ được thuyết vô thần không?
Phong Uyên dịch
Lời người dịch: Trên diễn đàn talawas mới đây có nhiều bài bàn về Thượng đế. Những bài này có thể chia làm hai loại đối nghịch nhau: Loại muốn chứng minh là có Thượng đế, một đấng sáng tạo ra sự sống và vũ trụ theo nghĩa của các đạo Thiên chúa, nhất là Ki tô giáo. Loại muốn dùng lý luận khoa học, nhất là thuyết tiến hóa của Darwin để phủ nhận có Thượng đế. Loại này phần nhiều là nguyên tác của một số học giả Anh Mỹ được đặc biệt dịch ra tiếng Việt với chủ ý đó. Trong số các tác giả và dịch giả, phải kể Đỗ Xuân Phương, Thích Bình Thường, Trần Hữu Thuần, Trần Tiên Long, Nguyễn Nhân Trí... Tôi đã có nhiều dịp đưa ý kiến với một vài tác giả khi đọc những bài đó. Nhưng ý kiến tôi đưa phần nhiều chỉ giới hạn về dịch thuật và về nghĩa của một vài từ tiếng Việt được chua bằng tiếng Anh. Nhiều khi hai nghĩa tương phản nhau khiến người đọc lúng túng không biết phải hiểu theo nghĩa nào. Cách đây mấy tháng trên tờ nhật báo Pháp Le Figaro có bài chép lại cuộc tranh luận giữa nhà triết học André Comte-Sponville và nhà khoa học Jean Staune dưới sự chủ toạ của tờ báo này. Tôi xin dịch để độc giả talawas, phần nhiều quen tiếng Anh, có thêm tài liệu bằng tiếng Pháp. Trước khi dịch, tôi cũng xin nói qua về thân thế của hai nhân vật này:
Ông André Comte-Sponville là một nhà triết học duy vật Pháp rất “ăn khách”, luôn được giới truyền thông mời. Ông là đồ đệ của giáo sư Althusser, một triết gia marxiste ở trường Đại học Sư phạm ULM, trường của J. P. Sartre và Trần Đức Thảo. Ông viết 20 cuốn sách về triết học. Có cuốn được dịch ra nhiều thứ tiếng. Cuốn sau cùng của ông mới đây là cuốn L'Esprit de l'athéisme, introduction à une spiritualité sans Dieu (Óc vô thần, lối vào của một đời sống tinh thần không Chúa) nói về truyền thống duy vật, di sản của nhiều nhà hiền triết Hi Lạp thời cổ. Ông Jean Staune, nhà sáng lập Đại học Liên ngành Paris (Giáo sư Trịnh Xuân Thuần có trong số giáo sư dạy ở trường này) là một nhà toán học kiêm cổ sinh vật học, tốt nghiệp khoa chính trị học, lại rất thích triết lý về khoa học, mới xuất bản cuốn Notre existence a-t’elle un sens? (Sự hiện hữu của chúng ta có ý nghĩa nào không?). Cuốn sách đồ sộ hơn 500 trang này là kết quả của 19 năm tìm tòi khảo cứu và đặc biệt là Trịnh Xuân Thuần, giáo sư môn vũ trụ học Đại học Virginia Mỹ, nhà Phật học, tác giả nhiều cuốn sách nổi tiếng, viết phần tưạ. Ông Comte-Sponville và ông J. Staune có những nhận thức khác nhau về khả năng của triết học và khoa học: Ông Comte-Sponville cho những tư tưởng triết học có thể trường tồn vì không cần phải chứng minh như những lý thuyết của khoa học luôn luôn biến đổi tùy theo những khám phá mới hay những chứng minh ngược lại. Như nhiều nhà triết học Pháp theo thuyết duy vật chất (matérialisme), ông cho hiện hữu của vật chất là tự tạo và vật chất là duy nhất. Còn nhà khoa học J. Staune là người theo thuyết Duy ý (idéalisme), có ý cho là những khám phá mới đây của khoa vật lý học, nhất là khoa cơ học lượng tử, có thể làm lung lay những luận cứ của thuyết duy vật và có thể chứng minh là không bác bỏ được sự hiện hữu của một “tầm thực tại khác” (ám chỉ Trời của các đạo Thiên chúa hay tinh thần của các đạo khác). Lẽ tất nhiên, muốn hiểu cặn kẽ những lý luận của hai ông này cần phải đọc sách của họ. Tôi cũng muốn có dịp tóm tắt lại bằng tiếng Việt những ý chính trong sách của ông J. Staune, nhất là phần suy luận từ những khám phá mới của khoa cơ học lượng tử. Có những từ ngữ tôi cố dịch lại cho thật sát nghĩa gốc của nó từ tiếng Hi Lạp - La Tinh (có chua theo) nên hơi khác với những từ Hán-Việt thường dùng mà theo tôi chỉ có nghĩa tương đương hay nghĩa giới hạn: Lấy thí dụ như hai từ thường dùng là “duy vật” và “duy tâm”. Không những hai từ ngữ này không đúng với nghĩa gốc của nó mà chính trị còn làm cho nó mất ý nghĩa triết học. Nhưng chắc chắn khi dịch vẫn không tránh được phản nghĩa hay mù mờ, hay sẽ gây tranh cãi. Mong các bạn chỉ bảo để sửa đổi. * Le Figaro: Hai ông là người nghiên cứu rất nhiều về thuyết duy vật chất (matérialisme), một vấn đề đã đưa ra cuộc bàn cãi sôi nổi trong cộng đồng các nhà triết học Âu Tây. Ông André Comte- Sponville, ông là nhà duy vật chất. Vì sao? André Comte–Sponville: Trước hết chúng ta phải hiểu hai nghĩa của khái niệm này. Duy vật chất theo nghĩa tầm thường, chỉ một người không có lý tưởng, chỉ sống để vui thú thể xác. Theo triết học, nó có nghĩa hoàn toàn khác! Duy vật chất có một vị thế siêu hình (une position métaphysique): Đó là tư duy tất cả đều là vật chất hay được cấu tạo từ vật chất. Tôi cũng không nói vật chất theo khái niệm khoa học về vật chất. Khái niệm này luôn luôn biến chuyển. Tôi chỉ đứng về phương diện triết học gọi “vật chất” là cái hiện hữu độc lập với tinh thần. Vấn đề là cái nào có trước: tinh thần tạo ra vật chất hay vật chất tạo tinh thần? Thuyết Duy ý (l'idéalisme) cho vế đầu là đúng; thuyết duy vật chất cho vế sau là đúng và có nghĩa là phủ nhận sự hiện hữu có một đấng sáng tạo và có một linh hồn phi vật chất (âme immatérielle). Theo thuyết duy vật chất, không có một tinh thần nào tạo ra thế giới; Đó là thiên nhiên vô tạo (incrée) đã sau cùng làm nảy sinh ra tư duy trong óc con người. Tôi chỉ là một vật thể, vì vậy tôi không thể có cuộc sống sau thân thể tôi được: duy vật chất là có ý nghĩ không có một đời sống nào sau khi chết. Đó là những ý chính của thuyết duy vật chất từ thời Démocrite và Épicure cho tới bây giờ. ... Cái thuyết duy vật chất này, ông bạn Jean Staune muốn nói gì thì nói, sẽ không thay đổi gì với những biến chuyển của khoa học! Ông bạn cũng như tôi đều biết là không có một điểm tương đồng nào giữa thuyết nguyên tử của Epicure (là một triết học, không phải là một khoa học) và khoa Vật lý hiện đại (là một khoa học, không phải là một triết học). Vì vậy triết học Epicure sẽ cứ tiếp tục soi sáng chúng ta. Siêu hình học không bị những cái bất ngờ chi phối như vật lý học! Jean Staune: Các triết gia hiện thời chưa tiếp thu được đầy đủ những thay đổi phi thường về cách nhìn sự vật qua những hiểu biết mới mà khoa học đã đem đến, nhất là khoa cơ học lượng tử. Những hiểu biết mới đó đã làm lung lay ít nhất là hai cột trụ của thuyết duy vật mà ông vừa kể: thứ nhất là ý tưởng vật chất có thể tự hiện hữu một cách khách quan (có nghĩa là “hiện hữu có trước tinh chất (essence)”); và, thứ hai, tin chắc là ý thức con người chỉ là sản phẩm của một cơ quan nhận thức trong đầu não. Từ gần 70 năm nay, với cơ học lượng tử, chúng ta biết được là cái định đề đầu không còn lí do để tồn tại. Những đặc trưng của các hạt cơ bản thay đổi tuỳ theo cách người ta quan sát. Cái đó đủ để phủ định ý nghĩ tính chất khách quan nằm ngay trong nội tại của vật chất (objectivité intrinsèque de la matière). Ngoài ra, hiện nay có bao nhiêu nhà thần kinh học thì có bấy nhiêu lý thuyết về ý thức và không một lý thuyết nào có vẻ trội hơn lý thuyết khác. Hơn nữa mới đây, càng thử nghiệm nhiều lại càng thấy không có gì chắc chắn là ý thức là sản phẩm của não bộ. Đó là điều làm tôi nghĩ là duy vật chất đã bị những tiến bộ của khoa học làm yếu đi. André Comte–Sponville: Ông viết một cuốn sách 500 trang chỉ cốt để tung một cánh cửa đã mở: Cốt để chứng tỏ vẫn có thể tin là có trời. Có ai chối cãi cái sự đó đâu? Ông sẽ thấy không một nhà triết học đứng đắn nào quả quyết không thể tin có trời! Nhưng đứng trên góc độ lô-gíc và siêu hình, từ lâu ai cũng biết - hãy đọc Kant hay Hume, Pascal hay Montaigne - là chúng ta không thể chứng minh được có trời hay không có trời! Đức tin không phải thoát ra từ trò chơi luận chứng và càng không phải từ những bài học về lịch sử các khoa học, mà thoát ra từ sự biến chuyển của tâm thức (mentalités). Để biết một nhà khoa học là duy vật chất hay duy ý, tôi không cần phải hỏi anh ta trước ngưỡng cửa phòng thí nghiệm, tôi hỏi anh ta trước cửa nghĩa địa. Câu hỏi thiết thực là thế này: khi mất một người thân yêu, anh có cảm nghĩ là một ngày kia sẽ gặp lại người đó hay không? Vả lại, ông có vẻ lẫn lộn sự hiểu biết về thực tại với thực tại. Ông viết: cái gọi là vật chất chỉ là một cỗ phương trình. Ông hãy thử đổ phương trình vào thùng xăng xe ông coi nó có chạy không! Sự hiểu biết về vật chất có thể trừu tượng nhưng vật chất không phải là một thứ trừu tượng! Hiểu mặt trời qua những phương trình không có nghĩa là phương trình có thể làm cây cối mọc hay làm anh cháy nắng! Jean Staune: Tôi chỉ xin nhắc lại là ngày nay người ta có thể biết một cách chính xác không thể tưởng tượng nổi - và đó là một cuộc cách mạng trong khoa luận về khoa học (épistémologie) - tại sao không bao giờ ta có thể biết được một vài sự việc. Thí dụ như người ta dư biết là vì sao ta sẽ không bao giờ biết được cùng một lúc vị thế và tốc độ của một hạt cơ bản. Không vì vậy mà tôi suy luận là có một ông trời ngồi giữa các chư thánh. Tôi chỉ tự hỏi một cách giản dị là vũ trụ của chúng ta có thể tự hiện hữu được không, nó có thể tự nó là nguyên nhân của nó hay không. Cái mà tôi muốn chứng minh là, nếu ta tiếp tục lập luận đó, ta sẽ nhận thấy trong mọi lãnh vực quan trọng của khoa học (vật lý, toán học, vật lý thiên văn, sinh học, thần kinh học), ở một mức độ nào đó đều đã xảy ra những cuộc cách mạng ngang với cuộc cách mạng đã gây ra bởi những khám phá của Copernic. Cách đây năm thế kỷ, đồng loại chúng ta cứ đinh ninh là chúng ta sống trong một trái địa cầu có đường kính 20000 km, những ngôi sao là những điểm trên một hình cầu trong như tinh thể và mặt trời xoay vần quanh chúng ta. Nhờ Copernic, ta đã lần lần khám phá là mặt trời có đường kính 1,4 triệu Km và có hàng trăm tỷ mặt trời trong giải ngân hà của ta và còn có hàng nghìn giải ngân hà khác. Cái nhãn quan mới về thế giới đã “đập” vào xã hội một cách mạnh mẽ trong đủ mọi phương diện từ kinh tế đến xã hội, đến chính trị, tuy kéo dài trong nhiều thế kỷ. Cuốn sách của tôi có mục đích là để cho công chúng thế kỷ thứ XXI có ý thức là đang có một cuộc cách mạng khác, không phải là để tung một cánh cửa đã mở! André Comte–Sponville: Cái đó chả thay đổi gì về vấn đề có Trời hay không có Trời... Jean Staune: Tuy cơ học lượng tử không thử nghiệm được là có Trời hay không, nó cho phép mở rộng “phạm vi những cái có thể”. Khoa vật lý này chứng minh là có sự hiện hữu của một tầm hiện thực (niveau de réalité) nằm ngoài sự suy đoán của mọi người. Không có cái gì của tầm hiện thực đó đưa ta tới ý tưởng là có Trời đầy tình thương với chúng ta. Nhưng các đạo lớn - kể cả các đạo không tin là có Trời như đạo Phật và đạo Lão - đều có những trực giác và trực cảm rất mạnh bắt nguồn từ hai nguyên lý: sự hiện hữu của “tầm hiện thực” và mối giao liên giữa bộ óc con người và “cấp bậc” này (cette instance). Những nguyên lý này đáng được tin hơn từ khi có những khám phá của khoa cơ học lượng tử cũng như của vật lý thiên văn và thần kinh học. Đó thật sự là điều mới lạ. Thưa ông André Comte-Sponville, ông quả quyết là “tất cả các đạo đều nội tại (immanentes), đều bắt nguồn từ chúng ta”. Sao ông biết được như vậy? Trong một thế giới “mở”, không ai có thể có cái quả quyết thẳng tuột (a priori) đó cũng như không ai được phép dựa vào cái lý thuyết “tiên khởi là vật chất” mà ông cho là “thực tại”. Trái với những lời ông nói, không phải chỉ những gì chúng ta biết về những nền tảng của thực tại có thể để vào phương trình, mà chính ngay thực tại. Thực tại gần một phương trình hơn là gần một sự vật (une chose). Nếu đây là đúng và hơn nữa, nếu thế giới của chúng ta không “tự đủ” (autosuffisant), không thể tự hiện hữu và để giải thích vì sao như vậy, óc con người phải gắn bó với một tầm thực tại khác, thì điều đó làm lay động mạnh thuyết duy vật chất kinh điển. Tất nhiên là tôi không dám đoán phỏng bản chất của tầm thực tại đó. Tôi không nói là có ông Trời tốt ở trong đó nhận lời cầu xin của mình và lo cho hạnh phúc mình. Nhưng cái khái niệm đó hết bị coi là phi lý. André Comte–Sponville: Các nhà triết gia thời buổi nào cũng đều biết là tin ở Trời và tin có một đời sống sau khi chết không có gì là phi lý cũng như thuyết duy vật chất và thuyết vô thần cũng không phi lý gì hơn. Đây chỉ là vấn đề siêu hình học, không phải là vấn đề khoa học. Khi tôi nói đạo giáo là nội tại, tôi không đưa ra một định đề mà đưa ra một luận đề: đó là lập trường của tôi (ma position), không phải là một sự hiển nhiên (une évidence) hay là một sự cần thiết (une nécessité)! Ông không cân nhắc được là những cái thuộc về khoa học có thể chứng minh hay bóp méo được. Không thể làm được như vậy với những cái thuộc về siêu hình. Giữa hai lập luận ông phải chọn một: hoặc là chỉ căn cứ vào cái yếu kém của bản lập luận của ông là tin Trời không có gì là phi lý, như vậy đúng là ông muốn tung cánh cửa đã mở; hoặc là ông tự phụ là có nhiều khả năng tin Trời bây giờ hơn thế kỷ thứ XIX, trường hợp này ông đang từ bỏ lịch sử khoa học để đi đến một vị thế siêu hình. Cách tiến hành của ông đối với tôi thật là trái khoáy. Jean Staune: Ông không thể chối cãi được là có nhiều bạn đồng sự của ông quả quyết là khoa học đã giết Trời! Cách tiến hành của tôi lấy căn bản là triết lý về khoa học. Những nhà vật lý chủ chốt ngày nay đều đồng ý là không có phương cách thoả đáng nào để diễn tả quá trình diễn tiến căn bản của các hạt nhân trong thiên nhiên theo nghĩa của các từ ngữ (en termes de...) không gian, thời gian và quan hệ nhân quả (causalité). Tất cả những gì ta biết về thiên nhiên đều đưa ta tới cái quan niệm là căn bản của nó đều nằm ngoài thời gian và không gian nhưng lại làm nảy sinh ra những sự kiện nằm trong thời gian và không gian. Tôi không quả quyết gì khác với những điều đó, nhưng những hệ quả của sự móc nối nhau gây ra bởi sự thay đổi tổng thể những quan niệm về khoa học (ce changement de paradigme) rất là to tát. Le Figaro: Ông Jean Staune có vẻ muốn nói không thể tư duy về triết học được nếu không dựa vào khoa học. Ông nghĩ gì về điều ấy thưa ông André Comte-Sponville? André Comte–Sponville: Thật là một câu nói vô vị hay là một sự sai lầm! Tất nhiên là không ai còn muốn cặp đôi với vũ trụ luận của Aristote hay của Epicure. Nhưng về triết học, đạo đức học (l'éthique) và siêu hình học, Aristote và Épicure soi sáng ta muôn ngàn lần hơn ông bạn Jean Staune! Chuyện giản dị là về phương diện siêu hình không có một tiến bộ nào cả. Vì vậy có thể nói, những nhà siêu hình học đại danh, theo đúng định nghĩa, sẽ không ai vượt nổi. Còn bất kỳ một nhà vật lý học nào cách đây một trăm năm cũng đã đều bị qua mặt bởi các đồng nghiệp thời nay. Khoa học trong quá khứ là khoa học đã quá thời, khác với triết học. Le Figaro: Ông nghĩ là không bao giờ khoa học có thể phủ định được một triết lý. André Comte–Sponville: Bất cứ trong trường hợp nào khoa học cũng không phủ định được cốt lõi của triết học là đạo đức học và siêu hình học: Những khoa này luôn luôn sống động. Chính ông Jean Staune cũng xác nhận như vậy: ông tự thừa nhận điểm tựa của ông là một loại lý thuyết phỏng theo Platon... Jean Staune: Nhưng khoa học đã làm lụn bại tất cả những công trình triết học xây trên ý tưởng là vũ trụ có 6000 năm tuổi và trái đất là trung tâm của thế giới! Cũng như vậy theo tôi, khoa học sẽ làm lụn bại những triết lý lấy ý tưởng “vật chất tự nó đã đầy đủ” làm nền tảng độc nhất để loại bỏ mọi hệ tư tưởng khác, trong quá khứ cũng như hiện tại. André Comte–Sponville: Tất nhiên! Nhưng tôi xin nhắc lại với ông là tôi chỉ nói về siêu hình, chẳng bao giờ nói về vũ trụ học mà ông cứ lẫn lộn hoài. Rõ ràng là khoa học có làm biến đổi những quan niệm của chúng ta về thế giới, nhưng nó không thể làm đảo lộn triết học nói chung và triết học cũng sẽ không tự giới hạn mình để chỉ bình luận những cách mạng khoa học mới xảy ra. Cũng vì vậy, ông bạn Jean thân yêu, tới thế kỷ sau sách của ông sẽ quá hạn, sách của tôi sẽ vẫn luôn luôn đúng thời... Stéphane Marchand và Marie Laure Germon ghi. Bản tiếng Việt © 2007 talawas André Comte-Sponville - Jean Staune : la science va-t-elle réfuter l'athéisme ?Propos recueillis par STÉPHANE MARCHAND ET MARIE-LAURE GERMON LE FIGARO. - Vous avez beaucoup travaillé, l'un et l'autre, sur la question du matérialisme, enjeu d'un débat qui fait rage dans la communauté des philosophes occidentaux. André Comte-Sponville, vous êtes un matérialiste. Pourquoi ?
André COMTE-SPONVILLE. - Cela débouche sur ce que j'appelle dans mon livre un humanisme de la miséricorde. Autant, comme copie de Dieu - puisqu'il est censé nous avoir créé à son image -, nous sommes lamentables (cela ferait douter de l'original !), autant, comme cousins du chimpanzé - avec lequel nous avons 98 % de gènes communs -, nous sommes exceptionnels ! Il ne s'agit pas d'admirer l'homme, encore moins de le haïr ! Il s'agit de pardonner à l'humanité de n'être d'abord qu'une espèce animale, tout en nous félicitant que cette dernière ait produit les sciences et les arts, la démocratie et la sécurité sociale, la mécanique quantique et la philosophie, la gastronomie et l'érotisme. Or, ce matérialisme, quoique vous en disiez, cher Jean Staune, n'est en rien bouleversé par les évolutions scientifiques ! Qu'il n'y ait presque rien de commun entre l'atomisme épicurien (qui était une philosophie, pas une science) et la physique contemporaine (qui est une science, pas une philosophie), je vous l'accorde évidemment. Mais cela n'empêche pas que l'épicurisme continue philosophiquement de nous éclairer. La métaphysique n'est guère soumise aux aléas de la physique ! Jean STAUNE. - Les philosophes actuels n'ont pas suffisamment intégré l'extraordinaire changement de vision du monde consécutif aux nouvelles connaissances scientifiques, et notamment à la mécanique quantique. Ces dernières fragilisent au moins deux des piliers du matérialisme que vous avez mentionnés : l'idée, d'une part, que la matière existerait objectivement par elle-même (c'est-à-dire, justement, que « l'existence précéderait l'essence ») ; et, d'autre part, la certitude que la conscience humaine serait réductible à la seule production d'un organe cognitif. Depuis près de soixante-dix ans, avec l'avènement de la mécanique quantique, nous savons que le premier postulat n'a plus de raison d'être. Les caractéristiques des particules élémentaires ne sont pas invariantes mais dépendent de la façon dont les observe. Cela récuse l'idée d'une objectivité intrinsèque de la matière. Par ailleurs, il y a aujourd'hui autant de théories de la conscience qu'il y a de neuroscientifiques, et aucune ne paraît devoir s'imposer. De plus, de récentes et multiples expériences ont déstabilisé la certitude que la conscience serait le produit du cerveau. Voilà donc pourquoi je pense que le matérialisme est extrêmement affaibli par les progrès scientifiques. A. C.-S. - Vous avez écrit 500 pages pour enfoncer une porte ouverte : montrer que la croyance en Dieu est toujours possible. Mais qui le nie ? Vous ne verrez aucun philosophe sérieux affirmer qu'il est impossible de croire en Dieu ! D'un point de vue logique et métaphysique, chacun sait depuis longtemps - lisez Kant ou Hume, Pascal ou Montaigne - que la croyance en Dieu est possible, que nous ne pouvons prouver ni son existence ni son inexistence ! La foi relève moins du jeu de l'argumentation, et encore moins de l'histoire des sciences, que de l'évolution des mentalités. Pour savoir si un scientifique est matérialiste ou idéaliste, ce n'est pas à la porte de son laboratoire que je l'interrogerais, mais à la porte du cimetière. La vraie question est là : lors de la perte d'un être cher, pense-t-il qu'il va le retrouver ou pas ? Par ailleurs, vous confondez la connaissance du réel avec le réel lui-même. Vous écrivez que ce que l'on nomme « matière » se résume à un jeu d'équations. Mais essayez donc de remplir le réservoir de votre voiture avec des équations, elle n'avancera pas ! Que la connaissance de la matière soit abstraite, comme toute science, cela ne veut pas dire que la matière soit une abstraction ! Que la connaissance du Soleil prenne la forme d'équations, cela ne signifie nullement que ce sont des équations qui font pousser les arbres ou donnent des coups de soleil ! J. S. - Je rappelle tout d'abord que l'on sait aujourd'hui avec une précision incroyable - et c'est une révolution épistémologique - pourquoi on ne saura jamais certaines choses. Par exemple, on sait parfaitement pourquoi on ne connaîtra jamais la position et la vitesse d'une particule au même moment. Je n'en déduis nullement l'existence d'un Dieu trônant au milieu de ses saints. Je me demande simplement si notre Univers existe par lui-même, s'il est sa propre cause ou non. Ce que je veux montrer, c'est que si l'on poursuit cette démarche, on se rend compte effectivement que dans tous les grands domaines scientifiques (la physique, les mathématiques, l'astrophysique, la biologie, la neurologie), il s'est produit, à des degrés divers, des révolutions comparables à celle induite par les découvertes de Copernic. Il y a cinq siècles, nos semblables étaient persuadés de vivre dans une sphère de 20 000 km de diamètre, que les étoiles représentaient des pointes sur une sphère de cristal et que le Soleil n'était qu'un petit nuage lumineux tournant autour de nous. Grâce à Copernic, nous avons progressivement découvert que le Soleil mesure 1,4 million de kilomètres de diamètre, qu'il en existe des centaines de milliards dans notre galaxie, et, qui plus est, dans des milliers de galaxies. Cette nouvelle vision du monde a « impacté » la société de façon gigantesque aux plans économique, social et politique, même s'il est vrai que ce processus a duré plusieurs siècles. Permettre au public du XXIe siècle de prendre conscience qu'une autre révolution est en cours, ce que mon livre rend possible, ce n'est pas enfoncer une porte ouverte ! A. C.-S. - Cela ne change pas grand-chose concernant l'existence ou l'inexistence de Dieu... J. S. - Mais la physique quantique ne prouve en rien l'existence de Dieu. Elle élargit le « champ des possibles ». La physique démontre l'existence d'un niveau de réalité dont on ne peut rien préjuger. Rien de cet autre niveau de réalité ne nous amène à l'idée qu'il existe un Dieu plein d'amour pour nous. Mais l'existence de cet autre niveau de réalité, avec lequel l'homme peut sans doute être en contact, rappelle les intuitions majeures de toutes les grandes religions - y compris les religions sans dieu comme le bouddhisme ou le taoïsme - fondées sur deux principes : l'existence, précisément, d'un autre niveau de réalité et la possibilité d'un lien entre l'esprit humain et cette autre instance. Ces principes deviennent beaucoup plus crédibles qu'ils ne l'étaient avant les découvertes de la mécanique quantique, mais aussi de l'astrophysique et de la neurologie, et, cela, c'est réellement nouveau. Or, vous affirmez, André Comte-Sponville, que « toutes les religions sont immanentes, qu'elles procèdent de nous ». Qu'en savez-vous ? Dans un monde « ouvert », on ne peut pas faire une telle affirmation a priori, pas plus qu'il n'est permis de s'appuyer sur votre théorie du primat de la matière qui constitue pour vous la « réalité ». Contrairement à ce que vous dites, il semble bien que ce ne soit pas seulement la connaissance que nous avons des fondements de la réalité mais ces fondements eux-mêmes qui sont plus proches d'une équation que d'une chose. Si cela est vrai, et si, en plus, notre monde n'est pas « autosuffisant », ne peut exister par lui-même, et qu'il faut, pour l'expliquer, un autre niveau de réalité auquel l'esprit humain serait relié, cela déstabilise fortement le matérialisme sous sa forme classique. Naturellement, je ne présume aucunement de la nature de cet autre niveau de réalité. Je ne dis pas qu'il est habité par un Dieu bon, accessible à nos prières et soucieux de notre bonheur. Mais ce concept n'est plus a priori absurde. A. C.-S. - Les philosophes ont toujours su que la croyance en Dieu et en une vie après la mort était « non absurde a priori », pour reprendre votre expression, et que le matérialisme et l'athéisme ne l'étaient pas davantage. C'est une question métaphysique et non pas scientifique ! Dès lors, quand je dis que la religion est immanente, ce n'est pas un postulat mais une thèse : c'est ma position, pas une évidence ou une nécessité ! Vous ne mesurez pas la différence entre ce qui est démontrable ou falsifiable, qui relève de la science, et ce qui ne l'est pas, qui relève de la métaphysique. De deux choses l'une : soit l'on s'en tient à une lecture faible de votre texte, qui montre que la croyance en Dieu est « non absurde a priori », auquel cas vous enfoncez une porte ouverte ; soit vous prétendez que la croyance en Dieu est bien d'avantage probable aujourd'hui qu'au XIXe siècle, auquel cas vous passez de l'histoire des sciences à une position métaphysique, et c'est ce passage-là qui me paraît indu. J. S. - Vous ne pouvez pas nier qu'aujourd'hui encore certains de vos collègues affirment que la Science a tué Dieu ! Ma démarche repose sur la philosophie des sciences. L'essentiel des grands physiciens contemporains s'accorde à penser qu'il n'existe aucun moyen satisfaisant de décrire les processus atomiques fondamentaux de la nature en termes d'espace, de temps et de causalité. Tout ce que nous savons de la nature nous amène à concevoir ses fondements comme étant hors du temps et de l'espace mais engendrant des événements qui sont situés dans le temps et dans l'espace. Je n'affirme rien d'autre que cela, mais les implications de ce changement de paradigme sont gigantesques. Vous semblez dire, Jean Staune, que l'on ne peut plus penser la philosophie sans le support des sciences. Qu'en pensez-vous André Comte-Sponville ? A. C.-S. - Que c'est une platitude ou une erreur ! Il va de soi que nous ne pouvons plus épouser la cosmologie d'Aristote ou d'Épicure. Il n'en reste pas moins qu'en matière de philosophie, d'éthique et de métaphysique, Aristote et Épicure demeurent infiniment plus éclairants que mon ami Jean Staune ! Tout simplement parce que, au plan de la métaphysique, il n'y a pas de progrès. Ce qui veut dire que les grands métaphysiciens sont par définition indépassables, alors que n'importe quel physicien d'il y a cent ans est dépassé par ses collègues d'aujourd'hui. La science du passé est une science dépassée. Toute grande philosophie est indépassable. Vous pensez donc que jamais la science ne pourra réfuter une philosophie. A. C.-S. - En tout cas jamais sur l'essentiel, qui est éthique et métaphysique. Les grandes philosophies ne seront jamais réfutées par la science : elles restent vivantes. D'ailleurs, Jean Staune le confirme : il reconnaît lui-même que sa position est une espèce de platonisme... J. S. - Mais la science ruine toutes les constructions philosophiques basées sur l'idée que l'univers a 6 000 ans ou que la Terre est au centre du monde ! Il en est de même selon moi des philosophies se basant sur l'autosuffisance exclusive de la matière, ce qui remet en cause bien des systèmes présents ou passés. A. C.-S. - Bien sûr ! Mais je vous répète que je parle de métaphysique et non pas de cosmologie, que vous vous entêtez à confondre. Que les sciences fassent évoluer nos conceptions du monde, ce qui est bien clair, cela ne saurait bouleverser la philosophie en général, laquelle ne saurait se réduire au commentaire des dernières révolutions scientifiques. De telle sorte, mon cher Jean, qu'au siècle prochain, votre livre sera parfaitement dépassé, alors que le mien restera d'une actualité pérenne... Nguồn : Le Figaro
|
|
|