CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    September 04

    Độc lập và Nhân quyền + Tìn đồ Tin Lành ở Thái Bình bị ngăn cản nhóm lại cầu nguyện

     

    Tìn đồ Tin Lành ở Thái Bình bị ngăn cản nhóm lại cầu nguyện

    Việt Hùng, phóng viên đài RFA

    2008-09-03

    Vào ngày 31-8 vừa qua tại Thái Bình, các cấp chính quyền đã ngăn cản việc nhóm lại cầu nguyện của các tín đồ Tin Lành thuộc Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam.

    Nghe audio

    Tìm hiểu vụ việc, Việt Hùng của Ban Việt Ngữ RFA có cuộc trao đổi với Mục sư Nguyễn Văn Cầm, đại diện Hội thánh và hai viên chức công an PA 38 phụ trách về Tôn giáo ở tỉnh Thái Bình.

    Trước tiên, Mục sư Nguyễn Văn Cầm kể lại sự việc xảy ra trước cửa nhà bà Nguyễn Thị Thái, nơi điểm nhóm của Hội thánh.

    Công an phường Lê Hồng Phong (mặc đồ rằn ri, bên phải) ngăn cản các tín đồ Tin Lành nhóm lại cầu nguyện. RFA PHOTO.

    Mục sư Nguyễn Văn Cầm: Việc xảy ra vào chiều ngày 31-8 khi một số con cái Chúa chúng tôi đến nhà cô Thái để cầu nguyện học Kinh Thánh thì Tổ dân phố, công an có xuống và tất cả những người đó đã ngăn cản, gây gổ, những công an viên đã không cho chúng tôi vào nhà cô Thái và chửi bới chúng tôi. Công an viên và Tổ trưởng tổ dân phố thì uống rượu mặt đỏ, chửi bới rất thô thiển, nắm cổ áo không cho chúng tôi đi, rồi “đụng” cả đến chị em phụ nữ chúng tôi…

    Việt Hùng: Theo những âm thanh mà chúng tôi nghe được qua cuốn băng ghi âm thì các cấp chính quyền có những biện pháp “ngăn cản” không cho Mục sư và các tín đồ vào nhà bà Nguyễn Thị Thái để nhóm cầu nguyện?

    Mục sư Nguyễn Văn Cầm: Thưa với quí Đài, trước kia các cấp chính quyền ở phường Trần Lãm thành phố Thái Bình cũng đã ngăn cản chúng tôi tại nhà anh Ơn. Họ cũng dùng một lực lượng có loa đài gồm công an, tổ dân phố và chính quyền đến phá tánh chúng tôi, bắt lên xe chở đi một chỗ khác bỏ xuống và bây giờ họ cũng làm như vậy nhằm cản trở chúng tôi những người có đức tin. Lý do mà các cấp chính quyền đưa ra không cho chúng tôi nhóm lại cầu nguyện ở đó.

    Việt Hùng: Nhưng trên thực tế ở tại thành phố Thái Bình các cấp chính quyền đã cấp giấy phép cho những hoạt động của Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam?

    Mục sư Nguyễn Văn Cầm: Trên thực tế tại tỉnh Thái Bình các cấp chính quyền đã cấp giấy phép cho một số nơi họat động, nhưng riêng tại thành phố Thái Bình họ biết chúng tôi có tờ trình xin phép hoạt động nhưng họ chưa cấp giấy phép, không cấp giấy phép.

    Việt Hùng: Mục sư thì nói các cấp chính quyền “ngăn cản” không cho mục sư và các tín đồ vào nhà bà Nguyễn Thị Thái cầu nguyện, trong khi theo cuốn băng ghi âm ghi lại cuộc họp giữa đại diện Ủy ban Nhân dân, công an cùng sự hiện diện của mục sư và các tín đồ thì các cấp chính quyền họ nói vì chưa có giấy phép cho phép hoạt động nên họ không cho phép nhóm lại ở nhà bà Nguyễn Thị Thái?

    Mục sư Nguyễn Văn Cầm: Theo như chỉ thị của nhà nước ký ngày 01-02-2005 nói là những nơi nào có nhu cầu thì Ủy ban Nhân dân các cấp phải hướng dẫn cho những người có tôn giáo để tiến hành sinh hoạt đạo.

    Chúng tôi đã báo cáo với họ nhưng họ không hướng dẫn chúng tôi mà cố tình hiểu sai chủ trương chính sách của đảng để dùng quyền lực của họ cản trở không cho chúng tôi nhóm lại.

    Chúng tôi có giải thích nhưng họ không nghe, họ nói cứ bao giờ có giấy phép thì mới cho, mà giấy phép thì do họ cấp. Bây giờ họ đòi giấy phép trong khi họ không cấp thì đó là điều rất lẩn quẩn…

    Việt Hùng: Mục sư là quản nhiệm Hội thánh tại tỉnh Thái Bình – Nam Định, so với những thành phố khác tình trạng này có xảy ra hay không?

    Mục sư Nguyễn Văn Cầm: Tình trạng này cũng đã xảy ra ở Tiền Hải, Thái Bình trước kia nhưng sau khi chúng tôi được Đài Á Châu Tự Do đưa tin và phỏng vấn và rồi sau đó các cấp chính quyền họ có cấp giấy phép cho Hội thánh ở Tiền Hải được phép hoạt động.

    Trước kia họ cũng đàn áp bắt bớ không cho nhóm lại cầu nguyện, nhưng sau khi có sự lên tiếng của Đài RFA và rồi huyện có hướng dẫn cho xã cấp giấy phép cho Hội thánh ở Tiền Hải  cũng như Kiến Xương được phép hoạt động. Và ngày hôm nay tại thành phố Thái Bình thì họ vẫn cản trở như vậy.

    Chính quyền địa phương nói gì?

    Việt Hùng: Đó là những giải thích và quan điểm của người đại diện Hội thánh Tin Lành Phúc âm Toàn ven Việt Nam tại tỉnh Thái Bình – Nam Định. Trong khi tìm hiểu lời giải thích từ phía các cấp chính quyền chúng tôi nhận được từ hai viên chức an ninh PA 38 phụ trách về Tôn giáo của tỉnh Thái Bình.

    Viên chức PA 38: Alô, tôi không biết ông là ai?

    Việt Hùng: Thưa chúng tôi là phóng viên Việt Hùng, chúng tôi muốn tìm hiểu xảy ra hôm 31-08 vừa qua tại phường Lê Hồng Phong thành phố Thái Bình…

    Viên  chức PA 38:  Thế thì nhầm máy rồi nhé, lúc khác gặp sau nhé.

    Việt Hùng: Kèm theo tiếng cúp máy điện thoại, chúng tôi đã liên lạc với một viên chức khác cũng thuộc PA 38 tại tỉnh Thái Bình là ông Hiến và nhận được câu trả lời dưới đây.

    Ông Hiến, nhân viên PA 38: Vâng đúng tôi Hiến đây.

    Việt Hùng: Thưa ông Hiến, chúng tôi là nhà báo Việt Hùng, chúng tôi muốn tìm hiểu về vụ việc xảy ra vào hôm 31-08 vừa rồi tại phường Lê Hồng Phong, ông có thể cho biết chuyện xảy ra như thế nào thưa  ông?

    Ông Hiến: Được, cái này để hẹn ông lúc khác nhé, lúc khác nhé…

    Việt Hùng: Lúc nào chúng tôi có thể gọi lại ông, thưa ông…

    Ông Hiến: …được rồi để lúc nào tôi nhớ…được rồi có gì thì tôi sẽ gọi lại.

    Việt Hùng: Trên đây là những ghi nhận tìm hiểu quan điểm từ hai phía, Hội thánh Phúc Âm Toàn vẹn Việt Nam và các cấp bên chính quyền trước việc các tín đồ Tin Lành ở thành phố Thái Bình tố cáo bị ngăn cản trong việc tự do tín ngưỡng tại Việt Nam.

     

     

    Độc lập và Nhân quyền

    Trần Thanh Hiệp & Nguyễn An, RFA
    2008-09-03

    Hơn nửa thế kỷ trước, vào ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, một văn bản lịch sử, bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đã được trịnh trọng tuyên đọc tại vườn hoa Ba Đình ở Hà Nội để loan báo với thế giới sự ra đời tại Việt Nam của một nền Cộng Hoà dân chủ.

    Nghe audio

    Bản văn lịch sử ấy mở đầu bằng hình ảnh của con người với những quyền tự nhiên không ai có thể xâm phạm được và kết thúc bằng sự khẳng định rằng nước Việt Nam thật sự đã thành một nước tự do độc lập.

    63 năm đã trôi qua, biên tập viên Nguyễn An hôm nay đề nghị Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về nhân quyền, trụ sở đặt tại Paris, nhìn lại đất nước dưới ánh sáng của Tuyên Ngôn Độc Lập ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945.  Xin được nhắc lại rằng ý kiến của Luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đài ACTD.

    Tuyên Ngôn Độc lập 2.9.1945

    Nguyễn An: Xin chào Luật sư Trần Thanh Hiệp. Luật sư thuộc thế hệ những người đã nghe tận tai hay đọc tận mắt , vào thời điểm bản văn lịch sử này được tuyên đọc trước công chúng. Ngày hôm nay, hơn sáu mươi năm sau, ông còn giữ được những kỷ niệm gì và ông có cảm tưởng ra sao khi thấy nhắc lại bản văn lịch sử ấy?

    Trần Thanh Hiệp: Xin chào ông Nguyễn An. Đúng là tôi là một trong những người trong đời mình đã nghe tận tai và đọc tận mắt Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945 vào lúc nó được tuyên đọc tại thủ đô Hà Nội. Và bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được trong trí nhớ của tôi một số hình ảnh và cảm tưởng về biến cố lịch sử ấy.

    Nhưng mỗi năm khi thấy nhắc đến nó thì những kỷ niệm cũ về nó ở trong tôi cứ mờ nhạt dần để nhường chỗ cho một tâm trạng mới, đậm nét hơn, mang những cảm tưởng của thiếu vắng, hụt hẫng và thất vọng.

    Nguyễn An: Nhưng dù sao thì không ai có thể chối cãi được rằng bản văn lịch sử này, ngay trong đoạn mở đầu của nó đã nói lên được những điều lúc nào cũng làm nức lòng người và mở đường cho lạc quan, cho hy vọng. Nguyên văn  đoạn mở đầu ấy, như sau, đã chứng minh cho nhận xét này: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

    Trần Thanh Hiệp: Chính vì thế mà tôi đã thất vọng, đi từ ngạc nhiên này đến  những ngạc nhiên khác. Và khi nhìn vào thực trạng đất nước ngày hôm nay thì tôi cho là phải nói rằng Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945 đã chỉ ra đời để loan báo một tin, những ngày mai ca hát mà một tương lai đầy thảm họa.

    Vì nhìn vào thực tế trước ấy thì con người sống dưới chế độ hiện hành ở trong nước đang phải lặn ngụp trong một cuộc sống hoàn toàn không có nhân quyền. Họ không được quyền bình đẳng. Họ chỉ là những công dân hạng nhì với một thân phận hạng dưới, so với những quan chức cách mạng cộng sản cấp cao cũng như cấp thấp trong bộ máy cầm quyền.

    Thử hỏi tìm đâu thấy những quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong bản Tuyên ngôn 02-09-1945? Ngày nay đọc lại bản văn này và đem đối chiếu nội dung của nó với cuộc sống thực tế của dân chúng trong cả nước theo tôi chúng ta có những lý do rất xác đáng để kết luận rằng không thể đặt ngang hàng Tuyên ngôn 02-09 với bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ hay bản Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân 1789 của nước Pháp được. Mà phải xếp loại nó vào những cương lĩnh cầm quyền của các chế độ độc tài toàn trị. Tôi không thấy có thể bình tâm để lạc quan để hy vọng được khi nhắc đến Tuyên ngôn 02-09.

    Độc lập, Tự do, Nhân quyền?

    Nguyễn An: Dù sao, không thể phủ nhận được rằng bản văn ấy đã minh thị trích dẫn hai bản văn đã đi vào lịch sử nhân loại là bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ và bản Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân 1789 của Pháp.

    Trần Thanh Hiệp: Việc trích dẫn này, theo tôi, chẳng những không thay đổi gì được cách tôi xếp loại Tuyên ngôn 02-09,  trái lại còn làm tăng thêm tính xác đáng của cách xếp loại đó. Vì hai lý do.  Một mặt, tác giả hay những tác giả của bản văn 02-09 đã cố tình cắt xén hai bản văn 1776 và 1789.

    Lẽ ra bản văn 02-09 khi trích dẫn bản văn 1776 của Mỹ không nên cắt bỏ đoạn trong bản văn này chủ trương nếu những người cầm quyền nào lạm quyền tiếm quyền để đi vào con đường chuyên chính thì phải bị lật đổ.

    Cũng vậy, những đặc điểm nhất của bản văn 1789 của Pháp đã không được bản văn 02-09 trích dẫn. Đó là những quyền liệt kê trong bản văn 1789 không do cách mạng sáng chế ra mà là những quyền bẩm sinh con người sinh ra đã sẵn có rồi. Tuyên ngôn 1789 chỉ có mục đích nhắc lại và nêu lên để tuyên xưng mà thôi. Hay là quyền của người dân được dùng bạo lực để nổi dậy nếu thấy bị áp bức.

    Mặt khác, bản văn 02-09 không trích dẫn những tiền lệ Mỹ và Pháp để tuyên xưng tự do của con người được thể hiện thành những nhân quyền mà chỉ mượn những tiền lệ ấy để dọn đường cho độc tài phi nhân quyền, dưới danh nghĩa thực hiện quyền tự do tập thể, quyền dân tộc được độc lập. Rồi nhân danh quyền dân tộc được độc lập ấy mà hạn chế tối đa đến mức tước đoạt hết quyền tự do của con người cá thể.

    Nguyễn An: Như vậy ít nữa thì cũng thoả mãn được nhu cầu độc lập…

    Trần Thanh Hiệp: Nếu hiểu rằng độc lập chỉ có nghĩa là huỷ bỏ những áp bức của ngoại bang mà thôi, còn những người cầm quyền bản địa thì lại được phép áp bức. Rõ ràng là nếu thế thì độc lập không đi đôi với tự do, với nhân quyền của người dân.

    Nguyễn An: Xin cảm ơn Luật sư Hiệp

    July 23

    Tám người Việt nhận giải nhân quyền + LÁ THƯ MỤC TỬ

     
      Điểm nhấn:
     
    "rất thường xuyên, chúng ta thấy mình bị hòa nhập vào trong một thế giới mà trong đó Thiên Chúa bị “để qua một bên”. Nhân danh tự do và tự quyết, thánh danh Thiên Chúa đã bị bỏ rơi trong quên lãng, tôn giáo được coi như sự nhiệt thành cá nhân, và đức tin bị chối bỏ nơi công cộng. Lối sống này luôn luôn trở thành hoàn toàn trái ngược với tâm điểm của Tin Mừng, ngay cả có thể làm lu mờ sự hiểu biết về Giáo Hội và sứ mạng của Giáo Hội. Cả chúng ta nữa cũng bị cám dỗ để biến đức tin thành một vấn đề của tình cảm, và vì thế đang làm cùn nhụt khả năng khơi lên một viễn ảnh thích hợp của thế giới và sự đối thoại nghiêm chỉnh với nhiều những tri giác đang thách đố những khối óc và con tim của thời đại chúng ta". (Bênêđictô XVI)
     
     
     
    LÁ THƯ MỤC TỬ

     

    Ngày 15 tháng 7 năm 2008

    Kính gởi : Anh em linh mục

    Anh chị em tu sĩ và giáo dân

    thuộc giáo phận thành phố Hồ Chí Minh

     

    Anh chị em thân mến,

    1.  Tôi xa giáo phận đến nay đã hơn một tháng. Tuy xa nhà nhưng tôi luôn cảm thấy gần gũi với anh chị em vì biết rằng anh chị em vẫn thường xuyên cầu nguyện cho tôi, và tôi cũng luôn nhớ đến anh chị em trong kinh nguyện hằng ngày. Chính đức tin và đức ái dẫn chúng ta vào mối hiệp thông sâu xa đó, mối hiệp thông vượt trên mọi ngăn cách không gian và thời gian. Cũng trong mối hiệp thông đó, tôi muốn chia sẻ với anh chị em về những công việc tôi đã làm trong thời gian vừa qua.

    2. Tôi rời Việt Nam ngày 5.6, trước hết để đến Paris, Pháp, nhân dịp kỷ niệm 350 năm ngày thành lập Hội Thừa Sai Paris (MEP). Các linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris đã đóng góp nhiều công sức cho công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam, và ngày nay các ngài vẫn tiếp tục giúp đỡ Giáo Hội chúng ta cách tích cực, đặc biệt trong việc đón nhận và chăm sóc cho các linh mục Việt Nam được gửi sang Pháp tu học. Chính vì thế, cùng với một số giám mục Việt Nam, tôi đến đây để bày tỏ lòng biết ơn đối với các ngài, đồng thời cũng ý thức hơn về trách nhiệm loan báo Tin Mừng trong hoàn cảnh xã hội hiện nay của chúng ta. Nhân dịp đến Paris, tôi cũng đã có cơ hội gặp gỡ một số linh mục, tu sĩ và giáo dân thuộc cộng đồng công giáo Việt Nam tại Paris. Tôi đã trình bày cho mọi người tham dự về Năm Thánh 2010 và định hướng xây dựng Giáo Hội nhân kỷ niệm 50 năm thành lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam. Tôi cũng đã được lắng nghe những suy tư, thao thức, băn khoăn và góp ý rất tích cực của nhiều anh chị em nhằm cùng nhau xây dựng Giáo Hội ngày càng là Giáo Hội hiệp thông và tham gia vì loài người.

    3.   Rời Paris, tôi đã đến Canada để tham dự Đại hội Thánh Thể quốc tế được tổ chức tại Quebec với chủ đề Thánh Thể, quà tặng của Thiên Chúa cho sự sống của loài người. Thế giới ngày nay phát triển rất nhanh về vật chất và kỹ thuật, thế nhưng nhân loại vẫn đang phải đối diện với nhiều vấn nạn như khoảng cách giữa người giàu và người nghèo càng lúc càng lớn, bạo lực và khủng bố lan tràn, đời sống cá nhân và gia đình gặp nhiều khủng hoảng … Đó là vì con người vẫn thiếu Bánh Chân Lý, Bánh Tình Thương. Chúa Giêsu chính là tấm bánh Thiên Chúa ban cho nhân loại để đáp trả những khát khao sâu thẳm nhất của lòng người. Chúng ta cần ý thức điều này ngay trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam của mình. Trong dịp này, tôi cũng có cơ hội gặp gỡ các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam đang sinh sống tại Canada, và chúng tôi cũng trao đổi với nhau nhiều điều nhằm củng cố mối hiệp thông giữa cộng đồng công giáo Việt Nam tại đây với Giáo Hội tại quê nhà.

    4.   Sau thời gian ở Canada, tôi đã đến Washington D.C., Hoa Kỳ, để tham dự cuộc hành hương do Liên đoàn công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ tổ chức tại Đền thánh quốc gia của Giáo Hội Công giáo Hoa Kỳ. Ban tổ chức đã mời tôi chủ sự cuộc hội thảo về đề tài Gia đình và giáo dục Kitô giáo, đồng thời chủ sự thánh lễ bế mạc cuộc hành hương. Cuộc hành hương đã diễn ra thật tốt đẹp và Ban điều hành của Liên đoàn đã bày tỏ ước muốn cũng như quyết tâm củng cố mối hiệp thông giữa cộng đồng công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ và Giáo Hội tại quê nhà. Tôi rất vui mừng khi nhìn thấy sự phát triển của cộng đồng Công giáo Việt Nam tại đây, và càng vui mừng hơn nữa khi đến thăm Đức Tổng giám mục Washington D.C. và Đức Giám mục Giáo phận Arlington, Virginia, và được nghe các ngài nói lên những nhận xét tích cực về đời sống đức tin của linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ.

    5.   Rời Washington, DC, tôi sang Los Angeles, California, để gặp gỡ Đức Hồng Y Mahoney và cùng với ngài ký kết văn bản chính thức xác nhận việc kết nghĩa huynh đệ giữa Tổng Giáo phận Los Angeles và Tổng Giáo phận của chúng ta. Việc kết nghĩa này nhằm mục đích thắt chặt mối hiệp thông giữa hai tổng giáo phận và tương trợ lẫn nhau trong sứ vụ tông đồ. Lễ ký kết đã được tổ chức cách trang trọng tại Văn phòng Tòa Tổng Giám mục, cạnh Nhà thờ chính toà Los Angeles, và tôi hy vọng thời gian sắp tới, chúng ta sẽ có cơ hội đón tiếp Đức Hồng Y Mahoney cùng một số giám mục khác đến thăm giáo phận chúng ta.

    6.  Ngoài ra, như anh chị em biết, Ngày Quốc tế Giới Trẻ năm nay được tổ chức tại thành phố Sydney bên Úc từ 15-20 tháng 7. Ba giám mục và một số đông các bạn trẻ từ Việt Nam lên đường sang Úc tham dự đại hội này. Nhân dịp này, tôi đã gửi một lá thư đến ba vị giám mục lãnh trách nhiệm hướng dẫn và cổ võ tinh thần hiệp thông huynh đệ giữa các bạn trẻ Việt Nam từ nhiều đất nước khác cũng đến đây tham dự. Tinh thần hiệp thông đó chỉ có thể phát huy trên nền tảng một niềm tin. Tin vào Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta. Tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng mở lối cho chúng ta thoát khỏi mọi sự dữ. Tin vào Chúa Thánh Thần là nguồn lực Tình Yêu, là nguồn Ánh Sáng và Sức Mạnh dẫn dắt chúng ta tiến bước trên đường từ bi bao dung và hợp nhất nên một. Tôi cũng muốn nhắc lại điều đó với tất cả anh chị em trong giáo phận nhà để chúng ta cùng nhau xây dựng sự hiệp thông và hợp nhất trong gia đình cũng như trong cộng đoàn dòng tu, giáo xứ và giáo phận của mình.

    7.  Cuối cùng, theo lời mời của Ban Tổ chức, và nếu sức khoẻ cho phép, tôi sẽ đi Lourdes, Pháp, để cùng với một số vị Bản quyền khác chủ sự cuộc hành hương và Thánh Lễ tôn vinh Đức Mẹ Lộ Đức. Chắc chắn tôi sẽ nhớ đến anh chị em cách riêng trong dịp này. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, nguyện xin ơn bình an và ơn hiệp thông của Chúa Ba Ngôi tuôn đổ dồi dào xuống trên gia đình giáo phận chúng ta.

    Gioan B. Phạm Minh Mẫn

    Hồng Y Tổng Giám Mục

    Nguồn : conggiaovietnam

     

     

    Tám người Việt nhận giải nhân quyền
     
     
     
    Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch cho biết trong 34 nhân vật từ 19 quốc gia được trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay có tám người Việt Nam.

    Thông cáo báo chí của tổ chức này cho hay đây là hành động ghi nhớ sự dũng cảm của những người đang bị đàn áp chính trị.

    Giải thưởng hàng năm Hellman/Hammett được Human Rights Watch trao cho các nhân sỹ quốc tế, bắt đầu từ 1989.

    chaly203

    Trong tám người Việt Nam được giải năm nay có Linh mục Nguyễn Văn Lý, người hiện đang ở trong tù. Phiên tòa xử cha Lý năm 2007, trong đó ông bị một công an lấy tay che miệng, được Human Rights Watch cho là 'biểu tượng' cho việc ngăn cản tự do ngôn luận của Hà Nội.

    Thông cáo của tổ chức này cũng nói những người Việt Nam được giải thưởng năm nay đều đã bị nhà cầm quyền sách nhiễu, tấn công, bỏ tù hoặc tra vấn.

    Ông Brad Adams, giám đốc Á châu của Human Rights Watch nói: "Nhiều người trên thế giới không biết rằng người Việt Nam có thể bị bắt chỉ vì bày tỏ chính kiến của mình".

    Giải thưởng nhân quyền

    Human Rights Watch đã trao giải Hellman/Hammett (đặt theo tên của kịch sỹ Lillian Hellman và nhà văn Dashiel Hammet) cho gần 700 nhân vật trong 19 năm nay.

    Chương trình Hellman/Hammett cũng hỗ trợ tài chính khẩn cấp cho các nhân sỹ đi tỵ nạn hoặc chữa bệnh vì bị ngồi tù hoặc bị tra tấn.

    Bảy trong người Việt Nam được trao giải năm nay là: linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Thị Công Nhân, ông Nguyễn Phương Anh, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Hà Sỹ Phu, ông Phạm Hồng Sơn.

    Người thứ tám không được công bố danh tính vì lý do an toàn tính mạng cho người này và thân nhân.

    Trong số những người trên, linh mục Lý và luật sư Lê Thị Công Nhân đang phải thi hành án tù.

    Năm ngoái chính phủ Việt Nam đã phản đối việc Human Rights Watch trao giải Hellman/Hammett cho một số nhân vật, cho là tổ chức này đã dựa trên các thông tin sai lệch về tình hình ở Việt Nam.

    BBC

    GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN

    Linh mục Nguyễn Văn Lý
    Luật sư Lê Quốc Quân
    Luật sư Lê Thị Công Nhân
    Ông Nguyễn Phương Anh
    Ông Nguyễn Xuân Nghĩa
    Ông Hà Sỹ Phu
    Ông Phạm Hồng Sơn

     
    July 22

    Hình ảnh + video công an đàn áp 98 hộ làm rau thuộc xứ đạo Lộc Hưng Saigon

     
     
    VietCatholic News (Thứ Ba 22/07/2008 11:34)
     
    Coi đoạn Video công an đàn áp người dân Lộc Hưng ngày 16/07/2008
     
     
     
    Chúng tôi xin đưa lên một đoạn phim ngắn mà chúng tôi đã may mắn ghi lại được cảnh đàn áp của công an phường và quận Tân Bình đối với bà con vườn rau xứ Lộc Hưng vào trưa ngày 16/07/2008. Công an phường, quận dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch UBND phường 6 Văn Công Dũng, cụ thể là công an Dương Từ Tâm (số hiệu 278-753) cố tình xông vào dùng dùi cui đánh vào mặt một phụ nữ trong bà con chúng tôi đến tóe máu miệng và dậy tay bầm tím. Bà con chúng tôi tay không tấc sắt buộc phải kháng cự lại và ném đá ra phía ngoài để tránh sự đàn áp của lực lượng công an với đủ các dụng cụ trong tay, thậm chí còn bắn súng chỉ thiên để doạ nạt bà con chúng tôi.

    Bà con vô cùng phẫn nộ trước việc làm trái pháp luật cũng như lương tâm của một con người của lực lượng công an phường quận đã đánh một phụ nữ đáng tuổi cha mẹ mình. Đến lúc đó ông Chủ tịch Văn Công Dũng mới tuyên bố: “Chúng tôi xuống đây để tìm hiểu và lắng nghe ý kiến của bà con. Bây giờ chúng tôi đã ghi nhận ý kiến của bà con. Bà con cứ yên tâm”. Chẳng lẽ bà con giải thích bằng lời không đủ để hiểu, chỉ đến khi đánh người khác bị thương tích thì lãnh đạo phường, quận mới thấu hiểu được việc làm của bà con chúng tôi. Vậy chắc lãnh đạo phường, quận chờ đến khi bà con chúng tôi bị đánh đến chết thì sẽ hiểu rõ hơn chăng? Rõ ràng lãnh đạo phường, quận cùng công an cố tình đàn áp bà con, đến khi gây đổ máu thì lại tìm cách chối khéo để phủi trách nhiệm.

    Những hình ảnh trưa ngày 16/7/2008

     

    Thứ Năm ngày 17.7.2008

    Công an phường 6 và quận Tân Bình đàn áp và đánh đổ máu bà con vườn rau

    Chúng tôi đã trực tiếp đến gửi đơn tại Văn phòng HĐND và UBND TP và thông qua Văn phòng Tiếp công dân TP rất nhiều lần trong nhiều năm qua nhưng kết quả chỉ là những lần thất hẹn. Ngày 13/03/2008, tập thể chúng tôi đến Văn phòng HĐND và UBND TP.HCM để gửi đơn tố cáo khẩn cấp lần 3 và kiến trình theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật Khiếu nại Tố cáo và theo hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.

    Thế nhưng, thay vì tỏ thái độ thiện chí lắng nghe bức xúc của tập thể 89 hộ thì lãnh đạo UBND TP lại chỉ đạo lực lượng công an đàn áp chúng tôi, bắt giữ người trái pháp luật. Và để lý giải cho hành động sai trái của mình, với Thông báo số 118/TB-VP-M ngày 25/03/2008 của Văn phòng HĐND và UBND TP, ngày 11/04/2008 Thanh tra TP kết hợp với UBND quận Tân Bình dưới sự chỉ đạo của UBND TP tổ chức công bố kết luận thanh tra về phần đất 4,8 ha tại khu vườn rau phường 6, Tân Bình cho các hộ dân liên quan. Chúng tôi đã đề cập đến những sai trái của thông báo công bố kết luận thanh tra trong đơn tố cáo ngày 17/04/2008 và cũng do những sai trái này mà buổi công bố kết luận thanh tra không thể tiến hành theo đúng “kế hoạch”.

    Sau đó, Thanh tra TP đã gửi bản kết luận thanh tra đến từng hộ dân qua đường bưu điện. Nội dung bản kết luận Thanh tra bộc lộ rất nhiều mâu thuẫn cũng như những sai trái của lãnh đạo phường, quận, thành phố. Nhưng quan trọng nhất cuối cùng Thanh tra Thành phố kết luận yêu cầu xin xác nhận quá trình sử dụng đất đầy đủ yếu tố luật định của tập thể 89 hộ chúng tôi trong suốt hơn 8 năm qua là đúng pháp luật nhưng lại không lý giải được tại sao một yêu cầu đơn giản như thế, phù hợp quy định của pháp luật, thuộc trách nhiệm của UBND phường, quận nhưng từ phường, quận đến thành phố lại cố tình tránh né không giải quyết cho bà con chúng tôi khiến chúng tôi phải khốn khổ hơn 8 năm qua.

    Tuy nhiên, bản kết luận thanh tra này cũng chỉ là một hình thức để UBND TP kéo dài thời gian cũng như để lý giải cho hành vi đàn áp tập thể 89 hộ chúng tôi vào ngày 13/03/2008. Chính vì vậy mà mặc dù đã có kết luận thanh tra từ ngày 26/03/2008 mà đến nay hơn 3 tháng trôi qua, lãnh đạo TP vẫn không có động thái nào để giải quyết đơn tố cáo của tập thể 89 hộ chúng tôi.

    Đến ngày hôm nay 16/07/2008, sau khi chờ đợi sự giải quyết đúng pháp luật và hợp tình hợp lý của UBND TP trong vô vọng, một bà con chúng tôi buộc phải dựng lại hàng rào ngăn cách vườn rau của mình với đường đi bên ngoài để tránh việc người dân từ nơi khác đến đổ rác vô tội vạ và đông đảo người nghiện đến chích xì ke vào ban đêm rồi quăng tiêm chích bừa bãi.

    Vốn dĩ phần diện tích vườn này đã có hàng rào từ trước, nhưng để phục vụ cho việc làm hang đá vào dịp Noel nên bà con chúng tôi đồng ý phá bỏ hàng rào. Nhưng nay vì nạn xì ke ma tuý quá lộng hành và những người từ nơi khác đến đổ rác, đổ xà bần vô tội vạ nên buộc chúng tôi phải dựng lại hàng rào để đảm bảo an ninh trật tự trong khu vực cũng như để tiện cho việc trồng trọt của bà con chúng tôi nhằm ổn định đời sống.

    Thế nhưng viện cớ bà con xây dựng không xin phép, UBND Phường 6 và Quận Tân Bình cử đông đảo các cơ quan ban ngành và lực lượng công an cả thường phục lẫn sắc phục cả trăm người mang theo cả xe cảnh sát to đến đàn áp, rồi sau này là cử cả xe cứu thương và chữa cháy đến hù doạ bà con chúng tôi, buộc chúng tôi phải tháo bỏ hàng rào mặc cho chúng tôi liên tục giải thích rằng chúng tôi tuyệt đối không xây dựng mà chỉ phạt cỏ cho bằng phẳng và dựng lại hàng rào cũ để tiện việc trồng rau. Chẳng lẽ chỉ có việc làm lại hàng rào vườn rau mà chúng tôi cũng phải xin phép. Nếu như vậy thì nhà nước làm sao có thể đào tạo cho đủ nhân sự để phụ trách công việc này và từ trước đến nay không có văn bản nào quy định việc dựng lại hàng rào bị hư hỏng cũng phải xin phép UBND phường, quận.

    Đến ngày hôm nay, 17/07/20085, chúng tôi nhận được tin lực lượng công an sẽ tiếp tục đưa lực lượng hùng hậu hơn và trang bị đầy đủ hơn trực tiếp xuống vườn rau để tiến hành đàn áp bà con chúng tôi. Chúng tôi mong quý vị sẽ hiệp lòng chia sẻ và cầu nguyện để Thiên Chúa và Mẹ Maria sẽ luôn ở bên chúng tôi.

    “Bể kế hoạch”

    Chúng tôi 98 hộ làm rau thuộc xứ đạo Lộc Hưng, quận Tân Bình, Saigon đã đã trực tiếp đến gửi đơn tại Văn phòng HĐND và UBND TP và thông qua Văn phòng Tiếp công dân TP rất nhiều lần trong nhiều năm qua nhưng kết quả chỉ là những lần thất hẹn. Ngày 13/03/2008, tập thể chúng tôi đến Văn phòng HĐND và UBND TP.HCM để gửi đơn tố cáo khẩn cấp lần 3 và kiến trình theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật Khiếu nại Tố cáo và theo hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.

    Thế nhưng, thay vì tỏ thái độ thiện chí lắng nghe bức xúc của tập thể 89 hộ thì lãnh đạo UBND TP lại chỉ đạo lực lượng công an đàn áp chúng tôi, bắt giữ người trái pháp luật. Và để lý giải cho hành động sai trái của mình, với Thông báo số 118/TB-VP-M ngày 25/03/2008 của Văn phòng HĐND và UBND TP, ngày 11/04/2008 Thanh tra TP kết hợp với UBND quận Tân Bình dưới sự chỉ đạo của UBND TP tổ chức công bố kết luận thanh tra về phần đất 4,8 ha tại khu vườn rau phường 6, Tân Bình cho các hộ dân liên quan. Chúng tôi đã đề cập đến những sai trái của thông báo công bố kết luận thanh tra trong đơn tố cáo ngày 17/04/2008 và cũng do những sai trái này mà buổi công bố kết luận thanh tra không thể tiến hành theo đúng “kế hoạch”.

    Sau đó, Thanh tra TP đã gửi bản kết luận thanh tra đến từng hộ dân qua đường bưu điện. Nội dung bản kết luận Thanh tra bộc lộ rất nhiều mâu thuẫn cũng như những sai trái của lãnh đạo phường, quận, thành phố. Nhưng quan trọng nhất cuối cùng Thanh tra Thành phố kết luận yêu cầu xin xác nhận quá trình sử dụng đất đầy đủ yếu tố luật định của tập thể 89 hộ chúng tôi trong suốt hơn 8 năm qua là đúng pháp luật nhưng lại không lý giải được tại sao một yêu cầu đơn giản như thế, phù hợp quy định của pháp luật, thuộc trách nhiệm của UBND phường, quận nhưng từ phường, quận đến thành phố lại cố tình tránh né không giải quyết cho bà con chúng tôi khiến chúng tôi phải khốn khổ hơn 8 năm qua.

    Tuy nhiên, bản kết luận thanh tra này cũng chỉ là một hình thức để UBND TP kéo dài thời gian cũng như để lý giải cho hành vi đàn áp tập thể 89 hộ chúng tôi vào ngày 13/03/2008. Chính vì vậy mà mặc dù đã có kết luận thanh tra từ ngày 26/03/2008 mà đến nay hơn 3 tháng trôi qua, lãnh đạo TP vẫn không có động thái nào để giải quyết đơn tố cáo của tập thể 89 hộ chúng tôi.

    Đến ngày hôm nay 16/07/2008, sau khi chờ đợi sự giải quyết đúng pháp luật và hợp tình hợp lý của UBND TP trong vô vọng, một bà con chúng tôi buộc phải dựng lại hàng rào ngăn cách vườn rau của mình với đường đi bên ngoài để tránh việc người dân từ nơi khác đến đổ rác vô tội vạ và đông đảo người nghiện đến chích xì ke vào ban đêm rồi quăng tiêm chích bừa bãi.

    Vốn dĩ phần diện tích vườn này đã có hàng rào từ trước, nhưng để phục vụ cho việc làm hang đá vào dịp Noel nên bà con chúng tôi đồng ý phá bỏ hàng rào. Nhưng nay vì nạn xì ke ma tuý quá lộng hành và những người từ nơi khác đến đổ rác, đổ xà bần vô tội vạ nên buộc chúng tôi phải dựng lại hàng rào để đảm bảo an ninh trật tự trong khu vực cũng như để tiện cho việc trồng trọt của bà con chúng tôi nhằm ổn định đời sống.

    Thế nhưng viện cớ bà con xây dựng không xin phép, UBND Phường 6 và Quận Tân Bình cử đông đảo các cơ quan ban ngành và lực lượng công an cả thường phục lẫn sắc phục cả trăm người mang theo cả xe cảnh sát to đến đàn áp, rồi sau này là cử cả xe cứu thương và chữa cháy đến hù doạ bà con chúng tôi, buộc chúng tôi phải tháo bỏ hàng rào mặc cho chúng tôi liên tục giải thích rằng chúng tôi tuyệt đối không xây dựng mà chỉ phạt cỏ cho bằng phẳng và dựng lại hàng rào cũ để tiện việc trồng rau. Chẳng lẽ chỉ có việc làm lại hàng rào vườn rau mà chúng tôi cũng phải xin phép. Nếu như vậy thì nhà nước làm sao có thể đào tạo cho đủ nhân sự để phụ trách công việc này và từ trước đến nay không có văn bản nào quy định việc dựng lại hàng rào bị hư hỏng cũng phải xin phép UBND phường, quận.

    Bỏ qua mọi lời giải thích của bà con chúng tôi, công an phường, quận dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch UBND phường 6 Văn Công Dũng, cụ thể là công an Dương Từ Tâm (số hiệu 278-753) cố tình xông vào dùng dùi cui đánh vào mặt một phụ nữ trong bà con chúng tôi đến tóe máu miệng và dậy tay bầm tím. Bà con chúng tôi tay không tấc sắt buộc phải kháng cự lại và ném đá ra phía ngoài để tránh sự đàn áp của lực lượng công an với đủ các dụng cụ trong tay, thậm chí còn bắn súng chỉ thiên để doạ nạt bà con chúng tôi.

    Bà con vô cùng phẫn nộ trước việc làm trái pháp luật cũng như lương tâm của một con người của lực lượng công an phường quận đã đánh một phụ nữ đáng tuổi cha mẹ mình. Đến lúc đó ông Chủ tịch Văn Công Dũng mới tuyên bố: “Chúng tôi xuống đây để tìm hiểu và lắng nghe ý kiến của bà con. Bây giờ chúng tôi đã ghi nhận ý kiến của bà con. Bà con cứ yên tâm”. Chẳng lẽ bà con giải thích bằng lời không đủ để hiểu, chỉ đến khi đánh người khác bị thương tích thì lãnh đạo phường, quận mới thấu hiểu được việc làm của bà con chúng tôi. Vậy chắc lãnh đạo phường, quận chờ đến khi bà con chúng tôi bị đánh đến chết thì sẽ hiểu rõ hơn chăng? Rõ ràng lãnh đạo phường, quận cùng công an cố tình đàn áp bà con, đến khi gây đổ máu thì lại tìm cách chối khéo để phủi trách nhiệm.

    Đến ngày 17/07/20085, chúng tôi nhận được tin lực lượng công an sẽ tiếp tục đưa lực lượng hùng hậu hơn và trang bị đầy đủ hơn trực tiếp xuống vườn rau để tiến hành đàn áp bà con chúng tôi. Chúng tôi mong quý vị sẽ hiệp lòng chia sẻ và cầu nguyện để Thiên Chúa và Mẹ Maria sẽ luôn ở bên chúng tôi.

    Tất cả những điều này đều chỉ nhằm mục đích để lý giải cho hành động đàn áp và bắt giữa người trái pháp luật của lực lượng công an trước Văn phòng HĐND và UBND TP vào ngày 13/03/2008 và cũng là một cơ hội tốt để chính quyền địa phương triển khai quy hoạch trái pháp luật. Tất cả kế hoạch này cũng là một cách thức để UBND TP tiếp tục trốn tránh không tiếp bà con 89 hộ để giải quyết tố cáo. Cũng chính vì những mục đích đó là Thanh tra TP đã cố tình tổ chức buổi công bố kết luận thanh tra mặc dù Luật Thanh tra cũng cho phép cơ quan thanh tra gửi bản kết luận cho đối tượng thanh tra mà không cần thiết phải tổ chức một buổi công bố quy mô như thế.

    Nhưng cuối cùng, dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, kế hoạch này đã không thể thực hiện được, một vị cán bộ đã phải tuyên bố buổi họp đã bị “bể kế hoạch” và đề nghị bà con giải tán để trả lại mặt bằng cho Trung tâm thể thao quận Tân Bình.

    Thế nhưng cuộc chiến đòi công lý chưa dừng ở đây, vẫn còn rất nhiều chông gai phải vượt qua nhưng tập thể 89 hộ chúng tôi vẫn một lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, cái ác không thể tồn tại mãi, công lý rồi sẽ được thực thi.

    Những diễn biến mới nhất chúng tôi sẽ nhanh chóng thông tin đến quý vị. rất cám ơn quý vị đã theo dõi và cầu nguyện cho bà con chúng tôi suốt những tháng ngày khó khăn qua.

    Ánh Sáng

     
     

    July 17

    Ủy ban TDTG Quốc Tế Hoa Kỳ kêu gọi VN chấm dứt hạn chế về tự do tôn giáo

     

    Điểm nhấn :

     
    Phạm Quang Tuấn :

    "Hôm 15/7/2008 tại Whitlam Centre ở Liverpool, một ngoại ô của Sydney, cộng đồng Việt Nam đã làm lễ khai mạc World Youth Day rất trọng thể với sự tham dự của ba giám mục từ Việt Nam (không có Hồng y Phạm Minh Mẫn) cùng rất nhiều linh mục và tín đồ từ Việt Nam và Úc. Tôi không tham dự vì không phải là tín đồ Công giáo, nhưng nghe kể lại như sau: Cuộc lễ không treo cờ chính thức gì hết, và cũng không ai mang cờ đỏ sao vàng, tuy nhiên có một nhóm người trong cử tọa cứ phất một là cờ Việt Nam Cộng hòa thật lớn, khiến một tín đồ (Úc gốc Việt) cảm thấy khó chịu và tới bảo họ dẹp đi. Đến lúc các giám mục từ Việt nam đi rước lễ thì mấy người cầm lá cờ lớn đó xông lại gần và phất lá cờ đó trên đầu họ. Xin hỏi ông Đinh Từ Thức, như vậy có phải là “hiệp thông”, là “tôn trọng lẫn nhau” hay không, hay là “biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng”? Hồng y Mẫn viết có sai chút nào không?" (talawas)

     

    Những kẻ thói đời đối kháng thế này (xin lưu ý chỉ những ai thấy mình thuộc hạng này thì biết mình đang được nhắm đến, còn những ai không phải thì không bị nhắm đến) đang giết chết lòng quý mến và kính trọng đối với cờ vàng . Xin đừng biến lý tưởng thành một thứ ký sinh trùng !!!

     

    Tuyệt vời cách đưa tin của RFA, một cơ quan không tôn giáo, nhưng lại đưa tin tức rất tôn giáo, khác với trang web Công giáo lại xoáy vào vấn đề chính trị cờ quạt. Cho đến nay, RFA đã chọn đứng ngoài cuộc của vấn đề này. 

     

    Giới trẻ VN trong-ngoài nước dự Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới 2008

    Gia Minh, phóng viên đài RFA

    2008-07-16

    Nhiều bạn trẻ Công giáo Việt Nam từ trong nước cũng như ở khắp các nơi trên thế giới đã cùng tập trung về thành phố Sydney của Australia để tham dự Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới 2008.

    Nghe audio

    Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới năm 2008, viết tắt theo tiếng Anh là WYD08, chính thức khai mạc vào ngày thứ Ba 15 tháng 7 vừa qua.

     WYD2008-Sydney-305

    AFP PHOTO/Torsten Blackwood / Khoảng 150 ngàn ngừơi hành hương từ 170 quốc gia tham dự lễ khai mạc tại Sydney hôm 15-7-2008. Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới dẫn đầu bởi Đức giáo hoàng Benedict XVI là lễ hội Công giáo lớn nhất của thế giới và cũng là sự tụ họp tôn giáo lớn nhất từng được tổ chức tại Australia.

    Biên tập viên Gia Minh có cuộc nói chuyện với ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn- Giám Sát Đại hội WYD08, về  một số thông tin liên quan. Trước hết ông Nguyễn Văn Thanh cho biết:

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Mọi sinh họat ngày đầu tiên dành cho giới trẻ Việt Nam diễn ra tại Whitlam Center ở Sydney. Thánh lễ khai mạc do các đức cha từ Việt Nam qua và có Đức cha Mai Thanh Lương từ Hoa Kỳ sang, đồng tế cùng 100 linh mục từ các quốc gia khắp nơi trên thế giới. Thánh lễ diễn ra tốt đẹp, các bạn trẻ rất vui với muôn màu cờ.

    Người trẻ trong và ngoài nước

    Gia Minh:  Chủ đề gì được đức cha chủ lễ đưa ra?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Đức cha nói về huyền thọai Lạc Long Quân - Âu Cơ, đó là ý nghĩa của đồng bào Việt Nam. Ngài kêu gọi các bạn trẻ trong tinh thần đó nên thương yêu nhau dù sống tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới.

    Gia Minh: Ông nhận thấy sau khi các bạn trẻ nghe những chia sẻ đó thì họ có phản hồi ra sao?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Tôi thấy tất cả các bạn rất vui, sau lễ các bạn ra sinh họat chung với nhau. Tôi thấy các bạn đầy tràn sức sống.

    Gia Minh:  Đối với mối quan hệ giữa các bạn trẻ từ những xứ tự do và những bạn ở Việt Nam sang thế nào?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Tôi có dịp tiếp xúc với một số bạn trẻ từ Việt Nam qua thì tôi thấy rằng tất cả sang đều mang tâm tình tham dự Đại hội giới trẻ thế giới, tham dự một cụôc hành hương với những nguời trẻ khác trên thế giới.

    Tôi nghĩ họ nhìn về tương lai một cách tích cực như những bạn trẻ ở đây. Tôi không thấy có sự khác biệt nào giữa họ; các bạn rất quí mến nhau: khi chào mừng các bạn ở Việt Nam qua thì cả hội trường với số lượng gấp ba những người từ Việt Nam sang thì mọi người vỗ tay chào mừng trong tình huynh đệ quí mến nhau.

    Tôi tin trong những ngày sắp tới với sức sống, tình yêu của tuổi trẻ và cái nhìn tích cực của tuổi trẻ thì Đại hội sẽ thành công hết sức tốt đẹp.

    Các sinh hoạt tại WYD08

    Gia Minh: Trong những ngày đến thì có những họat động gì đáng chú ý?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Mỗi buổi sáng các em sẽ tập trung tại Whitlam Center để học hỏi giáo lý dưới sự hướng dẫn của các giám mục và linh mục.

    Chiều thứ ba tham dự Thánh lễ khai mạc;  ngày thứ tư có buổi barbecue lớn nhất với chừng 200 ngàn người tham dự.  Cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Sydney sẽ lo buổi tiệc barbecue cho các em người Việt.

    Thứ năm vào buổi chiều lên Sydney để đón Đức Giáo Hòang. Thứ sáu tham gia đi Chặng Đàng Thánh Giá. Tối thứ bảy ngủ tại Trường Đua để sang sáng chủ nhật tham gia thánh lễ bế mạc.

    Gia Minh: Cộng đòan Công giáo ở Sydney hỗ trợ ra sao cho đại hội?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Công tác chuẩn bị hỗ trợ diễn ra hai năm nay rồi. Bên cạnh đó những nguời lớn trong cộng đòan từ Hội đồng Mục Vụ, Hội các Bà Mẹ Công giáo, Legio Marie… đều có góp phần.

    Có nhiều việc không tên sau hậu trường, âm thầm nhưng hết sức quan trọng.

    Gia Minh: Điều mà ông muốn chia xẻ với những nguời không đến tham dự được?

    Ông Nguyễn Văn Thanh: Chúng tôi mong ước làm sao có thể tạo được nơi cho các em sinh họat vui vẻ, đạt được những điều các em mong ước, các em nhận được ơn Chúa để khi trờ về nơi các em sinh sống các em sẽ trở thành chứng nhân cho Chúa Kitô.

    Gia Minh: Cám ơn ông Nguyễn Văn Thanh về cuộc nói chuyện này.

     

    Ủy ban TDTG Quốc Tế Hoa Kỳ kêu gọi VN chấm dứt hạn chế về tự do tôn giáo


    16/07/2008

    Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế hôm thứ Tư phổ biến một bài viết của hai thành viên Preeta D. Bansai và Richard D. Land trong Ủy Ban về chuyện chính phủ Việt Nam nên chấm dứt những biện pháp hạn chế đối với tổ chức Phật Giáo lớn nhất nước là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

    Bài viết này cho rằng chỉ vài ngày sau khi lên giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đã đưa ra những lời đe dọa đối với giới lãnh đạo của Giáo Hội này sau vụ Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang viên tịch, và như vậy là tiếp tục vi phạm những tiêu chuẩn quốc tế về tự do tín ngưỡng.

    Bài viết nhắc nhở tới sự kiện Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang tận tụy tranh đấu bằng đường lối ôn hòa cho quyền tự do tôn giáo và nhân quyền để rồi phân nửa cuộc đời bị quản thúc hoặc tù đầy, từ thời Pháp thuộc, rồi dưới chính quyền Nam Việt Nam trước đây và chính phủ cộng sản sau này.

    Cũng theo bài viết, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người được coi như sẽ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và các nhà lãnh đạo cấp cao khác của Giáo Hội, hiện cũng đang chịu đựng một hình thức quản chế nào đó. Những nỗ lực mới đây của các vị này về việc thực hiện các tổ chức từ thiện và thanh niên cấp tỉnh đã bị chính quyền gây phiền nhiễu, đe dọa và bắt giữ.

    Theo bài viết, chính phủ Hà Nội coi đường lối tranh đấu ôn hòa của các vị này cho tự do và nhân quyền như một mối đe dọa cho sự ổn định của chính phủ, trong khi hàng triệu người dân Việt coi Giáo Hội như một tổ chức tinh thần và nhân đạo rất cần thiết.

    Bài viết cho hay chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục công khai ca ngợi tiến bộ của Việt Nam trong việc mở rộng sự bảo vệ dành cho các cộng đồng tôn giáo khác biệt và trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ mới đây của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Thống Bush đã tán dương nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo.

    Tuy nhiên, theo bài viết, những lời tuyên bố này đã không phản ánh đúng sự thật. Bài viết nhắc lại sự kiện vẫn còn ít nhất 30 người tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo và giới lao động đã bị tù đầy từ hơn một năm nay sau các vụ bắt giữ trong năm 2007 và nhiều người khác đang bị thường xuyên theo dõi.

    Bài viết cho hay các cộng đồng tôn giáo, nhất là những cộng đồng đòi có một quyền tự do tôn giáo lớn lao hơn hoặc không muốn bị chính quyền kiểm soát, vẫn thường xuyên bị theo dõi, dọa nạt. Từ năm 2004 đến năm 2006, Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào danh sách các nước đáng quan tâm đăc biệt về tự do tôn giáo.

    Theo bài viết, trong thời gian vừa kể, Việt Nam đã thực hiện vài hành động cụ thể để nới rộng quyền tự do tôn giáo trong nước, nhưng tới năm 2006, khi tên Việt Nam được rút ra khỏi danh sách, mọi tiến bộ đều ngưng lại. Một số người vẫn bị giữ trong tù, nhiều vụ bắt giữ mới xảy ra và các cộng đồng tôn giáo lại phải đương đầu với những biện pháp chế tài.

    Ủy Ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế cho rằng chính phủ của Tổng thống Bush đã hành động quá sớm và khuyến cáo chính phủ đưa lại tên Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm. Theo bài viết, giữa lúc quan hệ Việt Mỹ gia tăng, chính phủ Hoa Kỳ nên soạn thảo chính sách rõ ràng hơn nữa trong việc đòi chính phủ Việt Nam ngưng vi phạm trầm trọng vào quyền tự do tôn giáo, trong có chuyện bắt giữ độc đoán những người bất đồng chính kiến, đồng thời phát huy những bảo vệ về pháp lý cho phù hợp với quyền làm người được quốc tế nhìn nhận.

    Bài viết kết luận rằng giới lãnh đạo và tín đồ can trường của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phải được quyền tự do hành xử tín ngưỡng của mình mà không sợ bị chính quyền gây rối hoặc bắt giữ, và các chính sách của chính phủ Mỹ, từ lời nói tới việc làm, phải cho thấy rõ Hoa Kỳ cương quyết đứng về phe tranh đấu cho tự do và nhân quyền tại Việt Nam.

    VOA

    July 14

    Mục Sư Nguyễn Công Chính bị công an CSVN đánh bầm mắt, cấm ra khỏi nhà

     
    Điểm nhấn : Để hiẻu rõ thế nào là " chủ nghĩa chống cộng lưu manh", xin mời đọc bài của Thuận Văn sau đây.

    PLEIKU 13-7 (TH).- Mục Sư Nguyễn Công Chính, chủ tịch Hiệp hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam (VPEF), mới đây bị công an CSVN ngang nhiên đánh ngay trên đường lộ gây thương tích nghiêm trọng.

    _NguyenCongChinh_bidanh

    Mục Sư Nguyễn Công Chính bị công an CSVN đánh rách mí mắt, bầm mắt. (Hình: của VPEF)

    Bản tin của VPEF cho hay như vậy về cách đối xử của công an CSVN với một vị lãnh đạo tôn giáo tranh đấu cho quyền làm người, quyền tự do tôn giáo ở khu vực Tây Nguyên.

    Ðây không phải là lần đầu tiên MS Nguyễn Công Chính bị công an CSVN đánh hay làm nhục, khủng bố. Ông là mục tiêu đàn áp tôn giáo của chế độ Hà Nội suốt nhiều năm qua từ ủi sập nhà nguyện, đi thuê nhà ở tạm bị công an áp lực đuổi, thẩm vấn liên tục, lột truồng để khám xét trước mặt nhiều người v.v...

    Dưới đây là bản thông báo khẩn cấp của mục sư Y Bon Niê về vụ việc Mục Sư Chính bị công an CSVN đánh như sau:

    “Thông Báo Khẩn

    Việt Nam ngày 12/07/2008

    Kính gửi: - Các Hội Thánh Tin Lành Trong và Ngoài Nước

    - Các Cơ Quan Truyền Thông Báo Chí Ngôn Luận

    - Các Cơ Quan Bảo Vệ Nhân Quyền Và Tự Do Tôn Giáo

    VPEF xin thông báo!

    Vào lúc 19h tại cổng nhà Ms Nguyễn Công Chính, thuộc tổ 10, phường Hoa Lư, thành phố Plei ku, tĩnh Gia Lai, cháu Ðinh Văn Bình 13 tuổi (Sắc tộc H'rê) là con nuôi Ms Chính, đang chơi với cháu Nguyễn Trần Công Hiệp, con trai Ms Chính ở tại cổng nhà. Bình và Huy đang chơi trước cổng nhà thì ông Rơ Chăm Thố, một công an an ninh thành phố Pleiku thường xuyên canh gác Ms Chính, kêu cháu lại đánh một bạt tai vào má bên phải, và chửi “Ðồ nhóc con”. Hai cháu Bình và Huy chạy vào nhà báo cho Ms Chính biết.

    Ms Chính liền ra gặp ông Thố và ông Hiền, một công an an ninh khác thuộc PA38 tĩnh Gia lai cũng đóng chót canh gác Ms Chính mỗi ngày, hỏi: Tại sao các anh là công an lại đi đánh trẻ con? Ông Thố trả lời: Tôi đánh hồi nào? Cháu Bình nói: “Ông đánh mặt tôi sưng lên đây nè!” Ông Thố nói: “Mày láo!” Ms Chính bảo vợ là bà Trần Thị Hồng lên báo cho ông Bằng tổ trưởng tổ dân phố xuống làm chứng. Khi Ms Chính mới vừa nói dứt câu thì ông Thố đánh một cái vào bụng Ms Chính. Ms Chính quay lưng lại thì thấy ông Hiền quơ tay qua một cái, một vật gì giống như con dao đâm xẹt qua tay trái Ms Chính, vết đứt dài khoảng 10 phân chảy máy. Sau đó ông Hiền đấm hay cầm một cục đá đập một cái vào mắt phải của Ms Chính, máu trong mắt phun ra thành vòi, hiện nay mắt phải Ms Chính bị sưng húp và có nhiều vết xước xung quanh mắt.

    Mục sư Nguyễn Công Chính, đang đảm trách chủ tịch Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam (VPEF) đã trải qua 60 ngày bị công an thẩm vấn vì lý do đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Vào ngày 28 tháng 5, 2008, chính quyền Gia Lai tổ chức một lực lượng có hơn 70 người đến khám xét nhà và tịch thu ổ cứng CPU, các giấy tờ văn kiện sinh hoạt các Hội Thánh của VPEF đem đi.

    Hiện nay Ms Chính bị công an quản thúc cấm không cho ra khỏi nhà bằng lệnh miệng từ ngày 8 tháng 7, 2008 cho đến nay. VPEF cũng xin nhắc lại: Ms Nguyễn Công Chính là người sống 20 năm qua tại đất nước Việt nam, không được chính quyền CSVN cấp Hộ khẩu, CMND, ngay cả con ông cũng không có giấy khai sinh?

    Công an CSVN tìm mọi cách phân hóa, trấn áp, triệt hạ, xóa sổ Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam.

    Chúng tôi, thuộc hội VPEF (Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam) xin thông báo tin này đến quí Hội thánh và xin tiếp tục cầu nguyện cho Ms Nguyễn Công Chính và gia đình ông. Cũng xin chuyển thông báo này đến quí cơ quan truyền thông báo chí ngôn luận và xin phổ biến rộng rãi cho mọi nơi được biết, về việc công an CSVN vi phạm nhân quyền đàn áp tôn giáo, đánh đập gây thương tích trầm trọng cho người dân. Mong quí vị lưu tâm tiếp tục theo dõi cách chính quyền CSVN giải quyết vụ này như thế nào, trong khi CSVN đang là chủ tịch Hội Ðồng Bảo An Liên Hợp Quốc.

    Thành kính thông báo!

    TM. VPEF

    Ms Y-Bon-Niê

    Người Việt

    July 10

    Tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị sách nhiễu, đánh đập

     Bình luận trên BBC :

    N Lam, TP HCM
    Là một con chiên của Chúa, tôi cầu mong mình sẽ một lần được gặp gỡ và cùng cầu nguyện với các bạn trẻ trong ĐHGT, để cầu cho hòa bình và ân sủng của Chúa hiện hữu trên thế giới này mãi mãi. Tôi nghĩ, điều mà các bạn, các anh chị quan tâm vẫn là mong muốn hạnh phúc đời đời cho mọi người, và bình an thực sự đến cho mọi người đang sống trên trần gian này, dù đang ở trong nền chính trị nào.

    Nếu bạn thực sự đến để sống giao hòa với nhau, thì loại cờ nào cũng không ảnh hưởng gì cả. Cầu mong cho các bạn được an vui và nhiều sức mạnh của Chúa để xây dựng hòa bình. Xin chúc mừng các bạn và chúc mừng Đại hội.

    Dan, SG
    Cái khó trong việc này là những người CS lại lợi dụng để treo cờ đỏ của họ lên trong khi Đức HY Mẫn lại chỉ để cập lá cờ của một phía. Trong khi lá cờ vàng cũng còn đó những ý nghĩ của nó: ngoài việc là lá cờ của một nửa VN cũ vẫn còn những con người VN của chế độ đó đang sống và quan trong hơn là hiện nay nó mang ý nghĩa tự do, dân chủ và cuộc sống tốt đẹp hơn của những người Việt hải ngoại đang công nhận nó.

    Vậy nên việc phản đối là điều có thể hiểu được và tôi nghĩ nó không hoàn toàn mang tính chất cá nhân hay thù ghét. Cần một lời giải thích rõ ràng và thấu đáo hơn. Còn nếu chỉ đề cập đến vấn đề hiệp thông thì chắc không ai để ý đến chuyện những lá cờ làm gì vì dù sao thì cở đỏ hiện nay mang biết bao nhiêu máu của dân tộc và những điều xấu xa mà ai cũng thấy, không cần nói. Có lẽ đây mới là ý của Đức HY Mẫn.

    Beta
    Theo tôi, khi Giáo Hội CG can thiệp vào vấn đề phá thai ..., là Giáo Hội đứng trên bình diện luân lý chứ không phải chính trị. Bức thư của Hồng y Mẫn không phải là một mệnh lệnh, nhưng có tính cách lưu ý nhắc nhở. Nếu là cờ vàng còn hiện diện ở đó, thì nó phải quan tâm đến sự hiệp thông chứ không phải là cái cớ để đối kháng. Những bạn trẻ đến từ trong nước chưa bao giờ không tôn trọng lá cờ vàng, chỉ có một số người tôn vinh lá cờ vàng là không chấp nhận các bạn trẻ trong nước cầm lá cờ đỏ. Chính đó mới là vấn đề thực sự.

    Nếu những người Công giáo VN hải ngoại mang cờ vàng và đứng vào hàng của Giáo hội Mỹ, Canada, thì đâu có vấn đề gì ? Nhưng khi họ đứng vào hàng Giáo Hội Công giáo VN, thì việc lên tiếng của ngài là có lý. Có lẽ bức thư này của ngài dù chỉ có tính cách cá nhân, nhưng cũng là bước đầu đặt lại vấn đề minh bạch giữa chính trị và tôn giáo.

    Hồng Phúc, Sài Gòn, VN
    Tôi là một người trong đoàn thanh niên Công giáo Sài Gòn tham dự đại hội Giới trẻ Công giáo thế giới tổ chức tại Đức năm 2005. Cờ quạt là một vấn đề đau đầu mà chúng tôi không hề muốn gặp. Tham dự đại hội Công giáo, một đại hội của đức tin, của tinh thần hiệp thông anh em nhưng người Việt tại hải ngoại vẫn nhìn chúng tôi với cái nhìn dò dẫm, xa lạ.

    Đến khi sinh hoạt chung thì họ giương cờ lên, cả rừng cờ vàng, đặc biệt đoàn từ bên Úc và Mỹ, gào thét hét hò xung lắm, cứ như thể muốn áp đảo các ’’Đảng viên cộng sản’’ ở Việt Nam qua. Chúng tôi thì ép mình như con gián, lấm lét nhìn nhau. Các Cha chỉ biết ngồi cầu nguyện. Bây giờ nghĩ lại thì thấy buồn cười chứ lúc đó thấy nhục quá sức. Mình có làm gì sai đâu mà phải sợ họ đến vậy. Đến khi sinh hoạt chung với thanh niên các nước, mình giương cờ đỏ sao vàng lên, hãnh diện lắm. Một lúc sau đoàn cờ vàng đến, thế là lá cờ đỏ duy nhất lặng lẽ bị kéo xuống, gấp lại. Ngay trong đoàn mình cũng cãi nhau ỏm tỏi một lúc vì chuyện tiếp tục giương cờ hay gấp lại.

    Rồi khi chụp hình chúng tôi cũng được các Cha nhắc nhở tránh cờ vàng ra để phòng gặp rắc rối không đáng có khi về Việt Nam. Chỉ vui nhất lúc đoàn Sài gòn đi diễu hành trên sông Rein cùng 7 chiếc tàu khác trong đó có tàu của Đức Thánh Cha. Lúc này thì không sợ đụng đoàn cờ vàng nào trên tàu nên các anh chị em tha hồ thay nhau vẫy cờ, miệng cười toe toét, nhẹ cả lòng. Chúng tôi sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, chỉ biết lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ Tổ quốc, đại diện cho Việt Nam, là lá cờ được cả thế giới công nhận. Bây giờ ra nước ngoài, cờ đỏ ko dám giương, cờ vàng cũng chẳng dám vẫy, thật chẳng ra làm sao.

    Đức Hồng Y Mẫn là người rất sâu sắc khi đề cập đến vấn đề này trước khi Đại hội diễn ra. Nếu Ban tổ chức không có phương án giải quyết ổn thoả thì đoàn Việt Nam lại ’’lấm lét như con gián’’ một lần nữa. Tôi chỉ mong khi các đoàn Việt Nam sinh hoạt chung thì Ban tổ chức quy định không có giương cờ quạt nào hết. Như vậy sẽ dễ dàng xoá đi ngăn cách vô hình ko nên có giữa những bằng hữu. Đến khi đó các anh chị em mới thực sự chuyên tâm hiệp thông trong tình yêu của Chúa!

     

    Tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị sách nhiễu, đánh đập

    Việt Hùng, phóng viên đài RFA

    2008-07-09

    Hôm Chủ nhật 6-7 vừa qua, một số tín đồ Tin Lành thuộc Hội thánh Phúc Âm Toàn Vẹn Việt Nam tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã gặp trở ngại với các cấp chính quyền khi đang nhóm lại cầu nguyện.

    Nghe audio

    Theo lời cáo buộc từ Hội thánh thì 3 trong số tín đồ đã bị đánh trong khi các cấp chính quyền cho rằng chỉ là chuyện “quẹt xe, quẹt cộ…”.

    Tin-do-Thanh-Hoa-bi-danh-250

    Cô Trương Thị Oanh, một trong những tín đồ bị nhân viên an ninh chận đánh hôm Chủ nhật 6-7-2008. RFA photo

    Tìm hiểu vụ việc Việt Hùng của Ban Việt ngữ đã có cuộc trao đổi với hai phía, trước tiên là lời mục sư quản nhiệm Hội thánh Nguyễn Trung Tôn.

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Sáng ngày Chủ nhật 6-7 ngoài gia đình tôi ra còn có 4 tín đồ cùng ở trong xã đến nhà tôi để cùng thờ phượng Chúa. Vào lúc đó có anh Lê Văn Hoa, công an viên ở thông Yên Cổ là người thay cho anh Đàm Văn Hà trước đây, anh Hoa đến cùng với một nhân viên an ninh nữa là anh Lê Văn Bảo nói là đến kiểm tra giấy tờ và nói “thằng Tôn muốn thờ phượng thế nào thì kệ nó, nhưng hôm nay ra đường thì cho bọn mày biết tay…”.

    Chừng 30 phút sau đó có anh Lê Văn Thanh là thôn trưởng đi cùng anh Lê Văn Như, hội phó hội cao tuổi kiêm cụm trưởng cụm dân cư nơi tôi sống. Khi họ vào thấy chúng tôi đang cầu nguyện họ yêu cầu chúng tôi giải tán điểm nhóm và nói nếu tuần khác nữa mà tới thì sẽ bố trí cho người đón đánh.

    Buổi chiều chúng tôi còn một buổi thờ phượng Chúa ở nơi khác nữa cũng là nơi tôi quản nhiệm. Khi chúng tôi vừa đi ra cách nhà tôi khoảng 200 mét thì anh Lê Văn Hoa, công an viên thôn Yên Cổ và một nhân viên đội trực chiến ra và giữ xe của tín đồ Nguyễn Văn Thịnh.

    Khi thấy như vậy tôi cũng dừng xe lại hỏi có chuyện gì mà giữ xe của tín đồ lại, sau đó ông Hoa nói với tôi đứng lại rồi biết và ngay lúc đó những người khác đón đường ở các nơi khác lao xe máy tới.

    Có anh Văn là Bí thư chi đoàn ở thôn Yên Cổ lao vào túm chị Trương Thị Oanh cũng là tín đồ của chúng tôi từ trên xe của tôi lôi xuống và đấm vào mắt trái chị ấy. Sau khi đấm chị ấy xong rồi anh ta quay sang cùng với những người khác đấm anh Nguyễn Văn Thịnh và chị Nguyễn Thị Hoa.

    Việt Hùng: Nhưng thưa Mục sư Nguyễn Trung Tôn, trong một cuộc trao đổi gần đây mục sư có nói đã gửi thư khiếu nại lên Ban Tôn giáo Chính phủ và Mục sư đã nhận được phản hồi từ Ban Tôn giáo cũng như các cấp trên tỉnh, huyện đã chỉ đạo giải quyết và tình hình tại điểm nhóm đã đỡ hơn… mà này lại xảy ra những chuyện như vậy?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Hôm trước sau khi Ban Tôn giáo Chính phủ gửi thư về thì công an tỉnh cũng đã nói chuyện với tôi. Theo một thông tin mà tôi biết Chủ tịch xã và Trưởng công an xã đã được mời xuống huyện Quảng Xương để làm việc và họ đã bầu lại công an thôn.

    Việt Hùng: Tức là sau lần Mục sư bị công an viên ở thôn vào nhà mục sư hành hung và mục sư lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do thì nhân viên công an đó đã bị thay thế bằng người khác?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Vâng, anh công an đó giờ thì về nghỉ không có làm gì nữa cả.

    Lời kể của nạn nhân

    Việt Hùng: Tiếp tục tìm hiểu về những chuyện đã xảy ra, chúng tôi đã hỏi cô Trương Thị Oanh là một trong 3 nạn nhân bị hành hung. Cô Oanh kể lại.

    Cô Trương Thị Oanh: Chúng tôi đang nhóm thì họ vô họ nói là không được nhóm. Sau đó họ ra họ đón và phục chờ ở đường. Lúc 2 giờ chiều khi ra về họ đón đường và ông Hoa là công an viên ở thôn đó vây lại đánh tôi và nay thì mắt đang bị sưng to, họ tập trung lại họ đấm vào mặt tôi.

    Việt Hùng: Và người đấm cô đó là ai?

    Cô Trương Thị Oanh: Ông Lê Văn Hoa là người chủ trì đấm tôi, ông Hoa đó là công an thôn Yên Cổ.

    Việt Hùng: Khi họ đánh cô như vậy, họ có nói lý do tại sao họ đánh cô hay không?

    Cô Trương Thị Oanh: Trước khi họ đánh họ nói “bay mằn khổ cho”. Bọn chúng mày làm khổ chúng tao.

    Việt Hùng: Nhưng mức chấn thương của cô hiện như thế nào?

    Cô Trương Thị Oanh: Họ đấm túi bụi tôi làm tôi chấn thương ở mặt và ở mắt. Cách đây mấy tháng tôi cũng từng bị họ kéo xuống xã, kéo lên nhà văn hóa đánh. Khi ấy chồng tôi và con tôi đang ngồi họ kéo vào đánh chồng và con tôi.

    Việt Hùng: Hiện nay cô đã đi khám bệnh chưa?

    Cô Trương Thị Oanh: Chưa ạ, hiện nay mắt tôi đang sưng đau mà các cháu thì đang đi thi đại học, nhà chưa có điều kiện để đi khám.

    Việt Hùng: Và trước những hiện trạng như vậy cô còn giữ ý định tiếp tục đi nhóm cầu nguyện  hay là như thế nào?

    Cô Trương Thị Oanh: Tôi đã tin đến Chúa  thì tôi cũng nhờ vào Chúa và không có ý định bỏ Chúa.

    Giải thích của chính quyền

    Việt Hùng: Đó là từ phía các nạn nhân, trước câu hỏi chuyện gì đã xảy ra vào hôm Chủ Nhật vừa qua, ông Lê Văn Bảo, an ninh thôn Yên Cổ trả lời Đài Á Châu Tự Do.

    Ông Lê Văn Bảo: Hôm đó ở làng nội dung là cho thằng Tôn cầu nguyện ở nhà nhưng không cho tập trung người khác đến. Chẳng biết nói năng làm sao, cũng chỉ là “quẹt xe quẹt cộ” thôi mà… Không có vấn đề gì đâu.

    Việt Hùng: Ông nói không có vấn đề gì, nhưng ông Nguyễn Văn Thịnh, cô Trương Thị Hoa và Nguyễn Thị Hoa nói là khi họ ra về bị các ông chận đường và đánh họ. Câu hỏi chúng tôi đặt ra là chuyện đó có xảy ra ở địa phương hay không?

    Ông Lê Văn Bảo: …cái đó …lúc tôi đến là …xong rồi. Không biết là “quẹt xe quẹt cộ làm sao đó” nhưng lúc tôi đến là xong rồi.

    Việt Hùng: Nhưng mà các ông có ngăn cản việc thờ phượng cầu nguyện của họ tại điểm nhóm đó hay không?

    Ông Lê Văn Bảo: Gia đình nhà thằng Tôn cầu nguyện thì chỉ cho phép gia đình nhà thằng Tôn tự do cầu nguyện thôi, chứ  không phải là ngăn cản gia đình nhà thằng Tôn. Còn bây giờ địa phương chưa cho phép. Tự do Tôn giáo trong gia đình thì thoải  mái, không được nhóm người lạ mặt đến.

    Việt Hùng: Nhưng cái đó là theo thông báo từ ở cấp nào?

    Ông Lê Văn Bảo: Ở thôn, ở thôn.

    Việt Hùng: Ông là an ninh của thôn. Ông nhận được chỉ thị này từ đâu?

    Ông Lê Văn Bảo: Cái ni của thôn, cái ni là do thôn.

    Việt Hùng: Cụ thể hơn ông nói thôn là ai?

    Ông Lê Văn Bảo: Cái ni là ở thôn họp đề nghị ra quyết định.

    Việt Hùng: Trở lại vụ việc xảy ra hôm mùng 6-7, các tín đồ họ nói ông Lê Văn Hoa, Lê  Văn Thân, Lê Văn Chung và có cả ông là những người tham gia, tức là khi họ ra về thì các ông chận đường họ, hành hung họ?

    Ông Lê Văn Bảo: Hành hung cái gì? Có cái gì về về thôn. Về thôn thì biết.

    Việt Hùng: Ông nói về thôn là như thế nào?

    Ông Lê Văn Bảo: Cái đó muốn biết thì thôn.

    Việt Hùng: Hôm mà các tín đồ rời khỏi nhà ông mục sư Tôn thì ông có mặt tại hiện trường lúc đó không?

    Ông Lê Văn Bảo: Không biết mục sư hay không thì không gì hết, nhưng đây là làng đề nghị trong gia đình thì thoải mái, nhưng không được tụ tập người lạ mặt để họp nhóm. Vì nói đúng thực tế là ở làng phải ra hiệu thi đua. Ở trên đưa về từ trước chứ không phải bây giờ. Có gì thì cứ về thôn mà tìm hiểu.

    Việt Hùng: Thưa ông Bảo, ông nói  khi ông đến thì mọi việc kể như là xong rồi, nhưng xong rồi ở đây tức là ông có nhìn thấy  những tín đồ có những vết bầm tím bị đánh ở trên mặt hay không?

    Ông Lê Văn Bảo: Không, không. Có gì thì cứ về thôn mà biết…

     
    July 06

    THẾ NÀO LÀ "CHỐNG CỘNG LƯU MANH" ?

     
    Điểm nhấn :
     
    "Để chống cái gì hay để vì cái gì đó thì, trước hết, phải là một người tử tế. Đã đến lúc những người Việt tử tế phải tuyên chiến với những kẻ chống cộng lưu manh, những kẻ chỉ nhân danh tự thân cái sự “chống cộng” để chống lại bất cứ thứ gì, kể cả chống lại con người..." . Thuận Văn. 
     
    Chủ nghĩa chống cộng lưu manh
     
    Thuận Văn
     
    Nếu người Đức, theo nhà biên khảo Trần Văn Tích [1] , cảm thấy “ghê ghê” trước những danh xưng gắn liền với chữ “quốc gia” thì có lẽ chúng ta cũng nên diễn tả bằng ngôn ngữ của mình rằng, khái niệm ấy, với họ, những người Đức không cạo trọc đầu, là một khái niệm rất... Kiều. [2]

    Nói cho rõ thì đó là một “thân phận rất Kiều”. Dân tộc Đức có một di sản trí tuệ cùng thẩm mỹ vĩ đại và, cứ quan sát những cảm xúc mà người Đức biểu lộ trong những cuộc tranh tài như World Cup chẳng hạn, ai cũng có thể cảm nhận được niềm tự hào của họ về đội bóng của mình và, qua đó, về dân tộc và đất nước của mình. Khi mà khái niệm thể hiện một tình cảm cộng đồng chính đáng như thế, của một dân tộc làm được bao việc lớn như thế, lại bị e dè như thế thì, hẳn là, khái niệm đó phải có một thân phận bầm dập như Kiều. Chủ nghĩa phát xít, hay chủ nghĩa Quốc gia - Xã hội, đã vực nước Đức đứng dậy sau cuộc Đại chiến thứ Nhất để rồi đẩy nước Đức và hầu như cả thế giới vào thảm hoạ với cuộc Đại chiến thứ Hai. Thảm hoạ kinh hoàng quá nên bây giờ, vì “kiềng” những khẩu hiệu “Quốc gia – Xã hội” đáng sợ một thời, người Đức đâm ra e dè cả những cấu trúc ngôn ngữ ngỡ là vô hại như “đội tuyển quốc gia”.

    Khái niệm “quốc gia” của người Việt cũng có những đoạn trường bầm dập thế nhưng, ít ra là cho đến bây giờ, lại có một kết cuộc trái ngược. Khái niệm ấy hình thành ở trong vận động giải thực ở cuối thế kỷ 19 nên, không kể các đời vua Trần hay vua Lê, “chủ nghĩa quốc gia” Việt Nam chưa bao giờ đủ mạnh để, ở sắc thái cực đoan nhất, đi đến chỗ gây nên thảm hoạ kinh hoàng. Nó còn thật thà đến mức bị khai thác và lợi dụng như một thứ nấc thang của chủ nghĩa thế giới đại đồng, thứ chủ nghĩa cho rằng không nên đứng trên ranh giới quốc gia mà phải đứng trên ranh giới giai cấp.
    [3] Tệ hơn nữa, trong nỗ lực độc quyền lẽ phải, chủ nghĩa quốc tế còn tồi tệ hoá chủ nghĩa quốc gia như là cái gì đó đi ngược với xu thế tiến bộ và, thậm chí, mỉa mai thay, đi ngược chiều với dân tộc. Chính vì thế nên trong cách hiểu phổ thông, ý niệm quốc gia còn bị tầm thường hoá như một cái tên trần trụi của một phe đánh nhau, như là lời của một vai nữ trong Sống trong sợ hãi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên chẳng hạn. Vai nữ này là vợ đầu của một quân nhân miền Nam, kẻ mà, trong những ngày sau cuộc đổi đời 1975, liều thân đào mìn bán phế liệu kiếm sống. Ngay giữa trụ sở chính quyền xã cô vợ này đã hồn nhiên kể lể với cô nữ chủ tịch trẻ tuổi chưa chồng về những trớ trêu của đời mình: “Ông này trước là bạn của anh trai tôi, hồi nhỏ hai người thường chơi đá banh với nhau. Lớn lên ông anh tôi đi cách mạng, ông này thì theo quốc gia, trở thành kẻ thù của nhau vì vậy chuyện tôi làm vợ ông, anh tôi không chấp nhận. Hồi chiến tranh nhiều lần anh tôi tìm về giết ông ấy.” Bên “đi cách mạng”, bên “theo quốc gia”, ý niệm “quốc gia”, như thế, đã nhàn nhạt tầm thường chứ không hề gợi lên một ý niệm thiêng liêng hay ít ra là một giá trị phổ quát mà bất những ai cùng học những bài học vỡ lòng về văn hay sử có thể san sẻ. Phải đợi tới khi cái chủ nghĩa quốc tế bị phá sản như một chứng hoang tưởng vĩ đại thì, từ nấc thang để bị giẫm lên, ý niệm “quốc gia” lại đổi ngôi để trở thành cái phao cứu sinh. “Quốc gia” không còn là một phe, đứng ở phía bên kia nữa. “Quốc gia” đã là thời thượng nên, bên cạnh hàng loạt những danh xưng mới toanh từ một thuật ngữ cũ, hai đại học danh tiếng nhất nước lại kính cẩn khoác áo “đại học quốc gia” và, thậm chí, hệ thống đào tạo chuyên viên điều hành của hệ thống toàn trị chỉ cũng tấp tểnh khoác vào mình cái áo mới may bằng tấm vải đã cũ là “Học viện Hành chính Quốc gia”. [4]

    Nếu khái niệm quốc gia được phục hồi theo sự tàn lụi của chủ nghĩa quốc tế thì ý nghĩa “theo”, trong “theo quốc gia”, có một số phận khác hẳn. “Theo” bên này hàm ý chống lại bên kia. “Theo quốc gia” ngụ ý chống lại “cộng sản” và, bây giờ, chuyện “chống cộng” của người Việt ở nước ngoài đã là bi hài kịch dở khóc dở cười.

    Chữ ấy đã và đang khiến nhiều người cảm thấy e dè, thiếu thoải mái. Bây giờ mà “khen” một nhà thơ hay nhà văn như là một cây bút “rất là chống cộng” thì nhận xét này có thể được hiểu như một hàm ý chê bai và, bản thân người được khen, có thể xem như một sự hạ nhục. Với những trò chống cộng ồn ào và rẻ tiền đang tràn lan hiện tại thì, có nhắc đến chữ “chống cộng”, hiếm ai nghĩ về ý niệm này như một hành trình ý thức đầy như những trăn trở của các nhân vật Tân, Hãng, Hiển v.v... của Doãn Quốc Sĩ trong Khu rừng lau. Cũng chẳng ai động lòng nghĩ đến băn khoăn của ông Ngô Đình Nhu, ít ra là trên lời lẽ của ông, khi ông phì phèo thuốc lá trả lời một ký giả Pháp, đoạn phỏng vấn từng được nhà sản xuất Vietnam, a Telivison History sử dụng làm tư liệu, đại loại: “Chúng tôi không chống cộng sản như chống lại những con người mà là chống lại một ý thức hệ.” Cách đây mấy năm, khi nhà văn Võ Phiến gây mích lòng bởi không ghi nhận tên này tên kia trong bộ Văn học miền Nam, đã có người, trên đủ phương tiện in ấn xoay xở được, phẫn hận bêu riếu đủ điều mà, trong đó, lặp đi lặp lại rằng ông chỉ là một “nhà văn chống cộng”. Nhưng chống cộng thì đã sao? Tôi nhớ, trong Nhận định, I hay II gì đó, đọc lén lút vào tuổi chưa lớn giữa cái thời khao khát sách vở, tác giả Nguyễn Văn Trung đã gây ở tôi một ấn tượng khó tả khi bác bỏ ý kiến “nhân danh dân tộc để chống cộng” của ai đó và nhấn mạnh rằng “phải nhân danh con người” để chống. Đã vì người, đã nhân danh con người thì việc gì phải e dè hổ thẹn và những “Mưa đêm cuối năm”, “Thác đổ sau nhà”, “Chữ tình”, “Người tù” hay “Về một xóm quê” của Võ Phiến chẳng phải là những tác phẩm sâu sắc và rất “người” hay sao? Vấn đề ở đây là sự nhập nhằng, là đánh lận con đen. Khi công kích Võ Phiến như thế người ta đã cố ý đem những tác phẩm chống cộng “rất người” của ông cách đây mấy thập niên đặt vào không khí chống cộng không được... người của ngày hôm nay.

    Không được người thì ắt là, phải nghĩ tới Tú Xương, với thành ngữ “nửa người nửa ngợm”. Chính cái tính chất “nửa người nửa ngợm” trong không khí chống cộng hiện tại đã khiến người ta cảm thấy e dè, ngần ngại và, do đó, cảm thấy thiếu thoải mái trước thuật ngữ “chống cộng”. Kiểu “đấu tranh” gây phản cảm. Vì dân chủ thì lợi cho độc tài. Chống cộng thì lợi cho... tư bản đỏ. Cái bi hài kịch dở khóc dở cười là ở đó. Nhưng ý niệm “nửa người nửa ngợm” chỉ diễn tả cái gì đó cá nhân, đơn lẻ. Kiên nhẫn cộng từng cái đơn lẻ lại với đến đâu đi nữa thì giỏi lắm chúng ta cũng chỉ có được một tập hợp rời rạc những cái đơn lẻ. Để có một hành vi cộng đồng nhất quán, phổ biến và xuyên suốt như thế thì phải có yếu tố gì đó khả dĩ gọi là “chủ nghĩa”. Yếu tố đó không xuất phát từ tính nhất quán của một hệ thống lý luận mà từ một niềm tin nhất quán của một tập thể đông đảo, khăng khăng rằng những hành động nhố nhăng gây phản cảm của họ chính là một sự dấn thân cao cả. Nhưng đó là nhìn từ trong cuộc. Từ ngoài, để có thể gọi đó như một thứ “chủ nghĩa” thì ít ra cũng phải tìm kiếm bản lai diện mục của nó từ một vài “ism” được đời biết tiếng nào đó mà, ở đây, có thể tìm từ Marxism đến McCarthyism và, thậm chí, Mahathirism.

    Nói đến Marxism thì dường như Karl Marx, từ góc độ đối cực, cũng từng băn khoăn cái sự thể “chống tư bản chỉ lợi cho tư bản” nên mới lo lắng phân biệt đâu là “vô sản” và đâu là “vô sản lưu manh”. Với Marx thì giai cấp vô sản, tức Proletariat, như những thành phần xã hội “không sở hữu một phương tiện sản xuất trong tay”, sẽ là lực lượng thực hiện cách mạng giai cấp nhưng không phải bất kỳ ai tay trắng cũng có thể ngon lành đóng vai cốt cán cách mạng. Bởi bên cạnh Proletariat còn có những Lumpenproletariat, hạng vô sản lưu manh, những kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Để chống lại những môn đệ rơi rớt của Marx thì những đối thủ đích thực của Marx cũng phải học hỏi phương cách của Marx để phân biệt đâu là “chống cộng” và đâu là “chống cộng lưu manh”. Cái “chủ nghĩa” trên, như thế, chính là “chủ nghĩa chống cộng lưu manh”.

    Cái khác của dân tộc Đức, cũng như bất cứ những dân tộc làm được nhiều việc lớn khác, so với dân tộc Việt là, hay hay dở, đạo đức hay vô đạo, mặt nào họ cũng có thể đi đến mức tận cùng và tột đỉnh cả. Với tinh thần quốc gia, người Đức đã đi đến mức thái quá để trở nên đáng tởm với chủ nghĩa phát xít. Cũng với tinh thần quốc gia, họ điềm tĩnh và sáng suốt để làm những điều mà cả nhân loại phải nghiêng mình ngưỡng mộ: họ đứng dậy từ vết thương đại chiến, mạnh mẽ, đàng hoàng; họ thực hiện những điều tưởng là bất khả như dễ dàng xoá bỏ những cách biệt chính trị trời vực để thống nhất đất nước mà không cần phải hy sinh lấy nửa thế hệ. Thậm chí họ, với cùng ý niệm quốc gia, đã đi đến tận cùng của chủ nghĩa lưu manh với những băng đảng tân phát xít không một cọng tóc trên đầu và đầy những hình xăm trổ trên thân. Người Việt thì khác. Cái gì chúng ta cũng dở dở ương ương. Trong quá khứ những thành phần ưu tú nhất của chủ nghĩa quốc gia đã không thể vươn lên thế lãnh đạo của phong trào giải thực mà còn bị đẩy lùi, thậm chí còn bị sai khiến, bị lạm dụng để trở thành nạn nhân hay những con rối trong tay chủ nghĩa quốc tế. Họ cũng chưa bao giờ thực sự hoà lấp được những cách biệt chính trị lặt vặt để ngồi lại với nhau. Thậm chí, cả ở mặt tối nhất họ cũng chưa ai có đủ bản lĩnh để đi tới chỗ tận cùng của chủ nghĩa lưu manh, như những băng đảng tân phát xít của người Đức. Cái bi hài kịch chống cộng dở khóc dở cười hiện tại cũng là ở đó. Là sự nhập nhằng của cái lưu manh và cái nghiêm túc, chỉnh tề.

    Nếu thủ đô của một quốc gia nào, kinh tế hay chính trị, đều là nơi tập trung cao nhất những tinh hoa lẫn cặn bã của quốc gia đó thì “thủ đô chống cộng” Bolsa của người Việt lưu vong ở California cũng vậy. Đó là nơi tập trung cao nhất những tinh hoa và cặn bã của phong trào chống cộng. Đó là nơi tập trung những trò chống cộng ồn ào nhất, rẻ tiền nhất và gây phản cảm nhất. Như những kẻ chống cộng lưu manh, họ không hề “nhân danh con người để chống cộng” mà là nhân danh cái sự “chống cộng” để chống lại bất cứ cái gì, kể cả chống lại con người. Nhưng không phải lần đầu đất California mới chứng kiến cái sự chống cộng kiểu này, như là sinh hoạt bên lề, của một tập thể bên lề trong một cộng đồng bên lề. California, như là vùng đất của những nghệ sĩ thiên tả tập trung ở Hollywood, đã từng bị khuấy động bởi phong trào tố cộng theo kiểu chụp mũ mang tên McCarthyism.

    Chủ nghĩa McCarthy, hay phong trào tố cộng mang tên Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy, đã khuấy động nước Mỹ trong gần suốt nửa đầu thập niên 50 và bắc cầu giữa hai đời tổng thống. Bắt đầu bằng bài diễn văn tố cộng đầu năm 1950, McCarthy đã tác oai tác quái trong vai trò chủ tịch Ủy ban Điều tra của Quốc hội Mỹ và thậm chí còn khiến cả hai vị tổng thống e dè. Trong giai đoạn căng nhất của Chiến tranh Lạnh, sau khi Nga thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên vào tháng 8 năm 1949, McCarthy đã bộc lộ sự lưu manh chính trị của mình khi xoay xở tâm lý lo sợ người Mỹ để biến thành chủ đề của chính cá nhân mình. Trong một chiến dịch dai dẳng kéo dài ngót nghét bốn năm, McCarthy rất dễ dãi trong việc chụp mũ “cộng sản” vào đầu công dân Mỹ nhưng lại rất khó khăn trong việc cung cấp bằng chứng cho những cái “mũ” ấy. Và như là hình thức giản tiện nhất của chủ nghĩa McCarthy, phong cách chống cộng lưu manh của người Việt hiện tại cũng có những nét tương đồng nào đó, từ phương cách chụp mũ dễ dãi và khó khăn bằng chứng cho đến cốt cách cá nhân.

    Cứ so sánh những nhà tố cộng hăng tiết ấy với hung thần tố cộng McCarthy thì sẽ thấy rằng, ngoài tính lưu manh dễ dãi, họ còn giống nhau ở thói công thần. Mới tập tành tham chính, cố hết sức để đánh bại ông Robert M. La Follette, thượng nghị sĩ đương nhiệm của tiểu bang Winconsin, McCarthy đã khuếch đại và nhai đi nhai lại về “thành tích chiến đấu” của mình trong Đệ nhị Thế chiến để nhấn chìm tên tuổi của nhà lập pháp chỉ biết nấp kín ở hậu phương. McCarthy giấu biệt lợi lộc từ những đầu tư thời chiến của mình nhưng lại phanh phui lợi lộc của đối thủ để diễn tả ông ta là một giống ký sinh trùng ăn bám chiến tranh trong khi chính mình đổ máu ngoài mặt trận.
    [5] Những nhà tố cộng hăng tiết của chúng ta cũng thế. Họ giấu biệt những hố đen trong quá khứ của mình nhưng lại tận sức đào bới những bóng mờ hay nếp gấp trong quá khứ người khác. Và họ hành xử như những bậc công thần khi ỉ lại vào quá khứ của mình, thậm chí ỉ lại vào cái quá khứ nạn nhân của mình. Và khi ỉ lại vào cái quá khứ nạn nhân như thế họ đã, vô hình trung, hành xử như những môn đồ nhạt nhẽo của chủ nghĩa Mahathir.

    Chủ nghĩa Mahathir, hay Mahathirism là chủ trương chính trị khu vực của ông Mahathir bin Mohammad về sự đối kháng của Đông Á trước “bá quyền” cuả phương Tây. Có nhiều điểm để nói về thứ chủ nghĩa này nhưng, ở đây, thích hợp nhất, có lẽ, là chủ nghĩa ăn vạ. Nhà lãnh đạo một thời của Malaysia, từ 1981 đến 2003, đã dựa vào tư thế nạn nhân trong quá khứ thuộc địa của khối Đông Á để cầm giữ các quốc gia phương Tây như những con tin đạo đức nhằm đạt đến mục tiêu chính trị của mình. Phương Tây phản đối kỹ nghệ gỗ của Malaysia hay những quốc gia thuộc thế giới thứ ba ư? Thì, trước đây, như những nhà khai thác thuộc địa, họ đã tàn phá bao nhiêu cánh rừng của những thuộc địa như Malaysia rồi? Họ lấy tư cách gì để lên mặt đạo đức. Khi lập luận như thế thì, rõ ràng, ông Mahathir đã mang cái quá khứ bi thương của mình ra để ăn vạ, để từ đó tự cho mình cái quyền vô trách nhiệm trước hiện tại. Những nhà tố cộng hăng tiết nhất của cộng đồng chống cộng ở hải ngoại cũng thế, cũng đem quá khứ mình ra để ăn vạ để, từ đó, tự cho mình cái quyền vô trách nhiệm trước hiện tại.
    [6]

    Những gì đang diễn ra ở California trong mấy tuần lễ qua chính là một trò ăn vạ vô trách nhiệm như thế. Chủ động ăn vạ hay nhiệt tình nhưng khờ khạo để bị lôi kéo rủ rê, họ đang đưa thân ra ăn vạ. Họ ăn vạ bằng thành tích quá khứ hay bằng quá khứ làm nạn nhân của mình một kiểu công thần chủ nghĩa, theo lối McCarthy. Và họ bắt vạ bằng cách khuếch đại và nhai đi nhai lại những sơ suất nhỏ nhặt của người khác để cầm giữ kẻ đó như một thứ con tin đạo đức, một kiểu bắt vạ, theo lối Mahathir. Nhưng ăn vạ hay bắt vạ là một trò lưu manh hay tập tục cổ điển chẳng cần phải học từ nhà lãnh đạo có nét mặt cau có từng mơ làm thủ lĩnh tinh thần của khu vực Đông Á. Trò ăn vạ đã hình thành trong xã hội truyền thống, đã từ những làng quê Bắc bộ đi vào tục ngữ ca dao, đi vào văn học sử qua những trang viết của Tô Hoài hay Nam Cao mà, trong đó, “tới” nhất là Chí Phèo của Nam Cao. Như là những môn đệ tồi tệ nhất của chủ nghĩa Mahathir, những nhà tố cộng lưu manh tuy không bị ràng buộc trong lũy tre xanh ở làng quê Bắc bộ, họ vẫn chưa vươn tới tầm thế giới, thậm chí quốc gia. Họ chưa bao giờ ăn vạ ở trụ sở Đại Hội đồng Liên hiệp quốc. Họ cũng chưa bao giờ dám ăn vạ trước Hội trường Ba Đình, những ngày đại hội rợp trời cờ xí. Họ chỉ lẩn quẩn ăn vạ trong một cái “làng” Việt kiểu mới ở California như những Chí Phèo đời mới. Nhưng tệ hơn tên Chí của làng Vũ Đại khi hắn ta dám đi đến mức gay gắt nhất của trò lưu manh là rạch mặt ra để ăn vạ, họ lại co ro nấp bóng bàn thờ tổ tiên để bắt vạ. Nếu cần thì Satan có thể viện dẫn Kinh Thánh và nếu cần thì những Chí Phèo hiện đại cũng có thể nấp bóng bàn thờ. Và khi làm như thế họ chính là những kẻ cực kỳ vô trách nhiệm. Họ làm cho lớp trẻ khinh miệt. Họ làm khối người Việt chia rẽ và chán ngán. Họ khiến xã hội Mỹ nhìn về cộng đồng Việt như một cộng đồng bệnh hoạn, chưa biết cách sống trong một môi trường dân chủ và độ lượng. Và họ khiến bất cứ ai, Mỹ hay Việt, có ý thức về sự tử tế đều ngại ngần, xa lánh.

    Sống ở nước Mỹ, chịu khó đọc sơ qua lịch sử nước Mỹ, ắt họ phải biết rằng phong trào tố cộng McCarthy đã bị ném vào sọt rác do sự tuyên chiến của lòng tử tế. Thoạt đầu là bài diễn văn của Tổng thống Dwight Eisenhower về những cuốn sách tử tế và sau là lời chất vấn của luật sư Joseph Nye Welch về sự tử tế của chính thủ lĩnh phong trào. Tháng Sáu năm 1953, giữa lúc thầy trò McCarthy hò hét nhau vào các thư viện để vứt hết những sách vở có nội dung thiên tả vào đống lửa, ông Eisenhower đã kêu gọi các sinh viên Dartmouth đừng có a tòng với “bọn đốt sách”. Nhà lãnh đạo xuất thân võ biền đã khuyên bảo các sinh viên cứ việc đến các thư viện, cứ việc đọc bất cứ cuốn sách nào miễn là những dòng chữ trong đó không xâm phạm đến quan niệm của họ về sự “tử tế”.
    [7] Gần đúng một năm sau, trong buổi điều trần được truyền hình trực tiếp khắp nước, luật sư Joseph Nye Welch, đại diện pháp lý cho nạn nhân của McCarthy, đã quạt thắng với nhà tố cộng số một rằng, phải chăng, nhà tố cộng này đã không còn ý niệm nào về sự “tử tế”. Sự thách thức này đã chuyển hướng suy nghĩ của cả công chúng lẫn giới lập pháp Mỹ, vốn đã chán ngán cái luận điệu tố cộng vô căn cứ đã nhàm tai hơn bốn năm qua. Ủy ban Điều tra bị giải tán. Nhà tố cộng số một bị mất hết quyền hành. Và, hết thứ để tố, nhà tố cộng đã phải tìm quên bằng cách tự “tố” chính mình để rồi chết trong quên lãng, như một con sâu rượu.

    Phải chăng đó cũng là một phương cách tồn tại của những nhà chống cộng chỉ để... chống cộng của chúng ta? Phải chăng, thay vì men rượu, họ phải chọn thứ men say nào đó mới có thể khẳng định mình? Để chống cái gì hay để vì cái gì đó thì, trước hết, phải là một người tử tế. Đã đến lúc những người Việt tử tế phải tuyên chiến với những kẻ chống cộng lưu manh, những kẻ chỉ nhân danh tự thân cái sự “chống cộng” để chống lại bất cứ thứ gì, kể cả chống lại con người...

    © 2008 talawas



    [1]talawas, Trần Văn Tích, 26.3.2008: “… Ông Phong Uyên trên talawas ngày 24.03.08 cho rằng “ý niệm dân tộc (…) biến thành chủ nghĩa (…) đề cao chủng tộc, (…) từ Đức Quốc xã của Hitler (…)”. Ông nói đúng. Tôi có cảm tưởng người Đức ngại ngần khi dùng các chữ Nationalist, Nationalismus. Lúc mới sang Đức và còn được trợ cấp để theo học các khoá Đức ngữ, tôi thỉnh thoảng tự xưng mình là người quốc gia, Ich bin ein Nationalist. Các thầy cô giáo người Đức tìm cách trình bày cho tôi rõ rằng Đức ngữ hiện đại có khuynh hướng gán cho từ ngữ Nationalismus hàm nghĩa xấu (meist abwertend). Phải chăng vì thế mà cơ cấu túc cầu quốc gia Đức mang tên Bundesliga trong khi ở Áo, ở Thụy Sĩ nó được gọi là Nationalliga? Tất nhiên cũng có các chữ Nationalmanschaft (đội tuyển quốc gia), Nationalhymne (quốc ca) v.v.. Khi tôi hỏi vậy tôi muốn nói rằng tôi là người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản thì phải tự xưng thế nào, thì mấy ông thầy bà giáo Đức ngữ ờ ờ rồi bảo nên dùng lối diễn tả dài dòng hơn chút chút, thay vì chỉ nói độc một chữ Nationalist, nghe ghê ghê!”
    [2]Tôi chỉ nói đến những thành phần neofacism mà báo chí thường gọi là “skinhead”, xin lỗi những nguời rụng tóc, cạo đầu vì thời trang hay để vào chùa!
    [3]Đó là chủ nghĩa quốc gia hiện đại. Trên thực tế thì thì ý niệm “quốc gia” của Việt Nam hình thành sớm nhất, từ thế kỷ 15 trong bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi: “Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục bắc nam cũng khác”. Chỉ mấy câu này đã định nghĩa “quốc gia” Đại Việt thời ấy với các yếu tố: lịch sử, lãnh thổ, văn hoá, phong tục.
    [4]Có thể kể thêm một số cơ quan hay danh xưng với chữ “quốc gia” như: “Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia”, “Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam”, “Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia Việt Nam”, “Chứng chỉ Quốc gia ngoại ngữ / tin học”.
    [5]Được miễn dịch vì làm việc trong ngành tư pháp, năm 1942 McCarthy xung phong nhập ngũ gia nhập thủy quân lục chiến. Có tài liệu cho biết ông ta chọn binh chủng này để dọn đường làm chính trị sau này. McCarthy bị thương một lần và kể đi kể lại về chuyện này nhưng mỗi lần mỗi khác. McCarthy trở thành xạ thủ trên máy bay, tham gia 12 phi vụ chiến đấu nhưng giả mạo giấy tờ để khai thành 32 phi vụ để nhận huy chương Distinguished Flying Cross. Khi Pearl Habour bị oanh tạc (1942) thì La Follette đã 46 tuổi, quá tuổi để được nhận đi lính. Năm 1943, khi tòng quân, McCarthy đã đầu tư vào thị trường chứng khoán và kiếm được khoản lãi 42.000 $ trong năm, so với khoản đầu tư của La Follette chỉ kiếm được 47.000 trong hai năm.
    [6]Xin trích một đoạn về một “nhân vật đấu tranh” ở Bolsa mà Kim Thi gọi đích danh là “Chí Phèo” trên tạp chí Hợp Lưu số 49, tháng 10 & 11 năm 1999, trên mục “Ngày... tháng...” ở trang 236.
    “Về thành tích chống cộng xuyên qua trò hề biểu tình của tên Chí Phèo Ngô Kỷ cùng đám đàn em. Một tờ báo của những người trẻ xuất bản tại quận Cam đã chạy một trang quảng cáo, Kim Thi cũng sẽ scan và gửi đến quý độc giả sau đây. Với tên Chí Phèo ấy, có lẽ Kim Thi không cần có thêm một ‘lời bàn Mao Tôn Cương’ nào khác. Tự thân trang quảng cáo là một phát thảo chân dung tới nhất, về hắn.’
    Nhân vật này cũng là một trong những người lãnh đạo cuộc biểu tình “chống chậu rửa chân” nói trên.
    [7]Eisenhower: “Don't join the book burners. Don't think you are going to conceal faults by concealing evidence that they ever existed. Don't be afraid to go in your library and read every book, as long as that document does not offend our own ideas of decency.” Joseph Welch: “You have done enough. Have you no sense of decency?"
     
    July 04

    Diễn biến mới liên quan GHPGVNTN

    Báo chí VN lại mở chiến dịch đả phá một số nhân vật thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) nhân việc Đức Tăng thống Thích Huyền Quang lâm bệnh nặng.

    Nhiều tờ báo trong nước gần đây đăng tin, bài chỉ trích việc 'lợi dụng bệnh trạng của Hòa thượng Thích Huyền Quang'.

    Hòa thượng Huyền Quang, người đứng đầu GHPGVNTN, đã bị bệnh nhiều tháng nay và hiện đang nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

    Các báo đưa tin từ khi Hòa thượng ốm nặng, một nhóm chư tăng và lãnh đạo của GHPGVNTN đã từ TP HCM ra Bình Định thăm Ngài.

    Trong số này có Hòa thượng Thích Quảng Độ, người được cho là nhân vật số hai của Giáo hội vốn không được chính phủ VN cho phép hoạt động.

    Tờ VietnamNet cáo buộc: "Những người này ra Bình Định không chỉ để thăm ông Huyền Quang mà còn nhằm lợi dụng để công khai hóa tổ chức bất hợp pháp GHPGVNTN".

    Tờ báo cũng nói 'âm mưu' của nhóm này là chờ khi Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, "ông Thích Quảng Độ sẽ tự nhận thay thế vị trí ông Huyền Quang, tuyên bố làm “Đệ ngũ Tăng thống”.

    Theo báo trong nước, 'ý đồ lập tổ chức chính trị đối lập' của Hòa thượng Thích Quảng Độ và các cộng sự đã bị Phật tử Bình Định phản đối kịch liệt.

    Những năm gần đây, VN được quốc tế đánh giá là đã có cải thiện trong lĩnh vực tự do tôn giáo. Mới đây trong cuộc gặp với Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng, Tổng thống Mỹ George W Bush cũng nói Hà Nội đã có 'tiến bộ đáng ghi nhận' về mặt này.

    Phản bác của Viện Hóa đạo

    Ngay lập tức, văn phòng thông tin của Viện Hóa đạo thuộc GHPGVNTN hiện đặt tại hải ngoại ra thông cáo phản bác báo chí VN.

    Thông cáo này nói: "Đây là sự xâm lược chính trị vào nội bộ sinh hoạt của GHPGVNTN".

    "Trong trường hợp Đức Tăng thống Thích Huyền Quang có mệnh hệ gì, thì việc hậu sự là chuyện của GHPGVNTN theo đúng nghi lễ truyền thống Phật giáo."

    Theo thông cáo, sự 'tính toán bất nhân' của nhà cầm quyền cho thấy chứng cớ rằng tôn giáo vẫn chưa được tự do như Hà Nội tuyên truyền.

    Trước đây các nguồn tin GHPGVNTN ở hải ngoại gần đây cũng lên tiếng cảnh báo cái mà họ gọi là việc chính quyền trong nước "tìm cách chia rẽ" nội bộ lãnh đạo Giáo hội.

    Hòa thượng Thích Huyền Quang, năm nay 89 tuổi, hiện đang trụ trì ở Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định.

    Ngài đã bị quản thúc một thời gian dài, nhưng sau đó lại có tin Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tuyên bố 'Hòa thượng muốn đi đâu thì đi'.

    GHPGVNTN bị cấm từ năm 1981 vì không chịu tự đặt dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản.

    Năm 1978, Hòa thượng Thích Huyền Quang bị án tù treo hai năm.

    Sau lần thứ ba bị bắt vào năm 1982, Hòa thượng bắt đầu chịu lệnh quản thúc.

    Tháng Tư 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã tiếp Hòa thượng Thích Huyền Quang, trong một cuộc gặp lịch sử mà nhiều người hy vọng sau đó Đảng Cộng sản sẽ dung chấp GHPGVNTN. Tuy nhiên điều này đã không xảy ra.

    BBC

     

    PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
    Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
    Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
    E-mail :
    ubcv.ibib@buddhist.com

    Trước nỗi âu lo chăm sóc và cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ và chư Tôn giáo phẩm cho Đức Tăng thống Thích Huyền Quang tai qua nạn khỏi, thì Nhà cầm quyền Hà Nội lên kế hoạch bất nhân làm tang lễ - Ông Võ Văn Ái phản đối sự xâm lược chính trị vào nội bộ GHPGVNTN

    2008-07-03 | | PTTPGQT

    PARIS, ngày 3.7.2008 (PTTPGQT) - Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, Cơ quan Phát ngôn và Thông tin của Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) cực kỳ sửng sốt trước bản tin Thông tấn xã Việt Nam loan tải hôm nay, 3.7, và được báo chí nhà nước đăng tải (như Thanh Niên, Hà Nội Mới, v.v...) muốn giành quyền cho Nhà nước tổ chức tang lễ Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, 89 tuổi, ngay lúc Ngài còn sống tuy lâm trọng bệnh nằm tại Bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn từ hôm 27.5.

    Bản tin mang tựa đề « Vạch trần ý đồ đen tối của Quảng Độ » nhằm vu cáo trắng trợn Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tăng từ các tỉnh Thừa thiên – Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Quảng Trị... đã tới Bình Định « “thăm” ông Huyền Quang » với « mưu tính lợi dụng (sic) việc tổ chức tang lễ cho HT Huyền Quang (...) để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” ».

    Trước sự âu lo chăm sóc ngày đêm và tụng niệm cầu an của Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng chư Tôn đức thuộc hai Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo có mặt tại Tu viện Nguyên Thiều từ hôm 28.7 cho đến nay, thì Thông tấn xã Việt Nam vu khoát như trên. Nhưng lại đề cao những giọt nước mắt cá sấu, đó là « các cấp chính quyền và ban, ngành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước) đã có nhiều việc làm thể hiện sự quan tâm, ưu ái với một Cao tăng Phật giáo mà không có sự phân biệt đối xử ». Mục tiêu của những âm mưu và hậu ý này hiện rõ qua dòng viết của bản tin :

    « Tuy HT Huyền Quang không phải là thành viên của GHPGVN (Giáo hội Nhà nước), nhưng với tình đồng đạo đối với một vị Cao tăng, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định đã quan tâm, chủ động bàn bạc với Thượng tọa Thích Minh Tuấn và số đệ tử Tu viện Nguyên Thiều để chuẩn bị cho việc tổ chức tang lễ trang trọng theo các nghi thức của Phật giáo trong trường hợp Hòa thượng Huyền Quang viên tịch…; theo đó các chùa trong tỉnh Bình Định cũng sẽ giúp đỡ Tu viện Nguyên Thiều làm lễ cầu an cho HT Huyền Quang ».

    Ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo và Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, vừa tuyên bố với các hãng thông tấn và báo chí tại Paris hôm nay về sự bất bình của Phật giáo đồ Việt Nam trước « sự bất nhân trắng trợn » của bản tin Thông tấn xã Việt Nam mà qua đó « mánh khoé chính trị vô nhân của nhà cầm quyền Hà Nội phơi lộ ».

    « Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ cùng phái đoàn Viện Hoá Đạo đã tức khắc lên đường ra Bình Định khi hay tin Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện để âu lo chăm sóc, cầu an cho Đức Tăng thống tai qua nạn khỏi. Trái lại nhà cầm quyền Hà Nội đã xem như Ngài viên tịch, chỉ lo giành giật cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tổ chức tang lễ nhằm phục vụ chính trị cho Đảng. Một tính toán bất nhân như thế làm cho khách bàng quan kinh hoảng, đặt biệt đối với một Nhà nước vừa đánh trống rùm beng tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ xưng tụng hoà bình và từ bi. Chứng cớ càng rõ về cuộc đàn áp Phật giáo vẫn tiếp diễn như mọi khi »

    Ông Ái cũng tố cáo rằng « Đây là sự xâm lược chính trị vào nội bộ sinh hoạt của GHPGVNTN. Hiến pháp bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Thế thì các nhà lãnh đạo Cộng sản không quyền gì xâm phạm vào nội bộ của GHPGVNTN, cũng như không quyền gì áp đặt các tiêu chuẩn chính trị cho tôn giáo. Trong trường hợp Đức Tăng thống Thích Huyền Quang có mệnh hệ gì, thì việc hậu sự là chuyện của GHPGVNTN theo đúng nghi lễ truyền thống Phật giáo ».

    Hiện nay nhà cầm quyền Bình Định đã truyền lệnh chùa nào ở chùa đó, không được tụ tập về Tu viện Nguyên Thiều, là trú xứ của Đức Tăng thống, nhằm ngăn chặn mọi sự biểu lộ tôn kính và nguyện cầu với bậc Cao tăng. Nhất thời chưa biết sao, nhưng công luận của bia miệng lịch sử sẽ ghi nhớ nghìn đời công đức đại hùng, đại lực, đại từ bi của Đức đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, mà chắc chắn Môn đồ hiếu quyến của Ngài đang gìn giữ, bảo vệ trước mọi âm mưu hay khủng bố.

    Ông Võ Văn Ái bác bỏ sự vu cáo của bản tin nói rằng Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ « mưu tính lợi dụng tang lễ để công khai hóa một tổ chức bất hợp pháp của họ mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ». Bởi vì GHPGVNTN truyền thừa lịch sử hai nghìn năm tại Việt Nam « Phật giáo thống nhất thành giáo hội từ thời Đinh (năm 986 Tây lịch). Thời cận đại thì trước khi đất nước bị Hiệp định Genève chia cắt, đại hội thống nhất Phật giáo ba miền Bắc Nam Trung đã kết hợp tại chùa Từ Đàm, Huế, năm 1951 với sáu tập đoàn Tăng sĩ và Cư sĩ toàn quốc ».

    Trên thế giới, GHPGVNTN được cộng đồng quốc tế tán dương và hậu thuẫn, ông Ái nhấn mạnh, điển hình là các Quyết nghị của Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu từng lên tiếng yêu sách Hà Nội phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN và trả tự do cho hai ngài Tăng thống Thích Huyền Quang và Viện trưởng Viện Hoá Đạo Thích Quảng Độ. Ông Ái còn cho biết rằng « từ ngày Đức Tăng thống Thích Huyền Quang nhập viện, không những hàng triệu Phật tử trong và ngoài nước cầu an cho Ngài, mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế còn nhận được hàng nghìn thư biểu tỏ sự lo lắng, cầu nguyện của các nhân sĩ, trí thức, dân biểu, thượng nghị sĩ các quốc hội trên hoàn vũ, như điện thư của Bà Mairead Maguire, Giải Nobel Hoà bình, là một ».

    « Sự can dự chính trị vào sinh hoạt tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội là điều không thề chấp nhận, nhất là đối với một quốc gia vừa vào chức Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo An LHQ » là kết luận lời tuyên bố của ông Võ Văn Ái. Ông cũng cho biết đã viết thư gửi ông Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-Moon, Tổng thống Pháp Sarkozy vừa đảm lãnh chức Chủ tịch luân phiên Quốc hội Châu Âu, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, các vị đại biểu Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Châu Âu yêu cầu gây sức ép lên nhà cầm quyền Hà Nội chấm dứt chính sách đàn áp Phật giáo.
     
     
    June 28

    Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Tù nhân Lương tâm

     

    Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Tù nhân Lương tâm

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    2008-06-25

    Mới đây, Hoa Kỳ và hàng chục nước trên thế giới đồng bảo trợ Bản tuyên ngôn Liên hiệp quốc về Tù nhân lương tâm.

    Tuyên ngôn kêu gọi tất cả mọi quốc gia hãy quan tâm và bảo vệ sự tự do của những nhân vật bất đồng chính kiến trên toàn cầu, những người bị cầm tù vì thực hành các nhân quyền căn bản của công dân.

    Nghe audio
    Để tìm hiểu thêm về Bản tuyên ngôn Tù nhân lương tâm, Trà Mi có cuộc trao đổi với đại sứ Grover Joseph Rees, đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về các vấn đề xã hội, thuộc Vụ lo về các tổ chức quốc tế, nơi có trách nhiệm giám sát các vấn đề liên quan đến nhân đạo, xã hội, nhân quyền, và cả vấn đề ngoại giao đa quốc gia.

    Phát huy nhân quyền trên toàn thế giới

    Đại sứ Grover Joseph Rees: 64 quốc gia bao gồm Hoa Kỳ, 27 nước thành viên Liên hiệp Châu Âu, cùng các nứơc khác trên thế giới đồng bảo trợ Bản Tuyên ngôn Tù nhân lương tâm, thứ nhất là để nhắc nhớ thế giới 60 năm ngày Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu ra đời, công nhận quyền tự do bày tỏ quan điểm, tự do liên kết và tụ họp ôn hoà của ngừơi dân, và tiếp đó là để chỉ ra rằng, mặc dù tất cả các nước đã đồng ý với bản Tuyên ngôn nhân quyền từ 6 thập niên trước.

    Nhưng cho tới nay, vẫn còn nhiều quốc gia dùng biện pháp bắt bớ hoặc tù đày làm chiến lược đối phó với những người có quan điểm chính trị đối lập. Hiện còn quá nhiều nạn nhân tại nhiều nứơc trên thế giới bị giam cầm chỉ vì họ thực hành các nhân quyền căn bản ấy một cách ôn hoà.

    Trà Mi: Theo ông, vì sao Tuyên ngôn này cần thiết phải được đề nghị lưu hành như là một văn kiện của Đại hội đồng Liên hiệp quốc?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Một trong những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là phát triển nhân quyền trên toàn thế giới và Đại hội đồng là cơ quan chính của Liên hiệp, chịu trách nhiệm về nhân quyền. Vì thế, nếu chúng ta tìm kiếm một diễn đàn để lên tiếng về những vấn đề này thì không nơi nào tốt hơn là Đại hội đồng, và tất nhiên, các quốc gia có tù nhân lương tâm cũng có đại diện tại Liên hiệp quốc, và trong Đại hội đồng. Cho nên, đây cũng là cách để nói chuyện với họ nữa.

    Nhân quyền trong các chế độ độc tài

    Trà Mi: Thế nhưng Bản Tuyên ngôn tù nhân lương tâm này sẽ giúp ích như thế nào khi mà các quốc gia có tù nhân lương tâm như Việt Nam chẳng hạn, vẫn quả quyết rằng tại xứ họ không có ai bị giam cầm vì bất đồng chính kiến, mà chỉ những người nào vi phạm luật pháp mới bị trừng trị mà thôi?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Vâng đúng thế. Dĩ nhiên là có những luật lệ, nhưng Bản Tuyên ngôn này không nói đến những điều luật chế tài các hoạt động phạm tội hay những vấn đề không liên quan đến nhân quyền căn bản. Nhưng nếu một quốc gia có những luật quy định rằng người dân có thể bị tù tội nếu thực hành quyền tự do ngôn luận hay những quyền tự do căn bản tương tự, thì quốc gia đó cần phải xem xét lại luật pháp của mình xem đã nhất quán, phù hợp với Bản Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu hay chưa.

    Trà Mi: Theo ông, dựa trên những cơ sở nào mà chúng ta nên có một thoả thuận nhất trí giữa mọi quốc gia về khái niệm cũng như quan điểm về tù nhân lương tâm, thưa ông?

    Đại sứ Grover Joseph Rees: Vâng, dĩ nhiên là chúng ta rất mong muốn có một sự đồng thuận nhất trí, nhưng chừng nào mà trên thế giới vẫn còn các nứơc giam cầm công dân chỉ vì họ thực hành quyền tự do căn bản con người, thì chừng đó chúng ta vẫn chưa đạt được điều này. Trong hoàn cảnh chưa có đựơc thì điều khả dĩ kế tiếp là có số đông quốc gia và người dân trên thế giới phản đối hành động bắt bớ tù nhân lương tâm.

    Một trong những điều đựơc nêu ra trong Tuyên ngôn là tất cả các nước đã ký tên đồng ý sẽ đặt vấn đề tù nhân lương tâm và phóng thích tù nhân lương tâm lên hàng ưu tiên trong mối quan hệ bang giao song phương với các nước vi phạm nhân quyền.

    Đây là cách chúng ta tự nhắc nhở mình cũng như nhắc nhớ thế giới rằng mặc dù chúng ta có thể có mối giao hảo với các quốc gia vi phạm nhân quyền, chúng ta không thể quên những cá nhân can đảm tranh đấu cho nhân quyền tại các nước đó.

    Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn đại sứ Grover Joseph Rees, đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về các vấn đề xã hội, đã dành cho Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc trao đổi hôm nay.

    June 25

    Bush khen VN tiến bộ về tôn giáo

     
    Tổng thống Mỹ George W Bush vừa ca ngợi Việt Nam đạt tiến bộ "đáng ghi nhận" trong lĩnh vực tự do tôn giáo.

    Ông Bush đã nói như vậy sau cuộc hội đàm giữa ông và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại tòa Bạch Ốc vào tối thứ Ba (24/6).

    Nghe audio

    Hai vị lãnh đạo cũng đã bàn với nhau một loạt chủ đề như thương mại, đầu tư và an ninh khu vực.

    Sau cuộc gặp, tại buổi họp báo chung, ông Bush nói: "Chúng tôi đã thảo luận về quan hệ láng giềng, về khu vực. Chúng tôi cũng nói về quyền tự do, tự do chính trị và tự do tôn giáo".

    "Tôi nói với ông thủ tướng rằng các tiến bộ của chính phủ Việt Nam về tự do chính trị và tôn giáo là rất đáng chú ý, và tôi hoan nghênh các nỗ lực của ông và chính phủ của ông".

    "Nói chung, chúng tôi đã có một cuộc thảo luận tốt đẹp. Quan hệ của Mỹ với Việt Nam đang ngày càng thân cận hơn trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Tôi xin cảm ơn ông thủ tướng đã tới thăm để giúp quan hệ đó ngày càng lớn mạnh".

    Tuyên bố trên của ông tổng thống Mỹ xem ra sẽ không được một số người Mỹ gốc Việt đồng tình.

    Đòi dân chủ

    Hàng trăm người gốc Việt đã tụ tập bên ngoài Nhà Trắng để biểu tình phản đối chuyến thăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và hô hào đòi tự do, dân chủ cho Việt Nam.

    Từ Virginia, bác sỹ Nguyễn Quốc Quân, chủ tịch tổ chức quốc tế yểm trợ cao trào nhân bản Việt Nam, đưa ra giải thích của ông về đánh giá của tổng thống Bush:

    "Họ quan niệm đã có nhiều người VN được sinh hoạt tôn giáo. Thế nhưng chúng tôi thấy rằng vẫn còn nhiều người, nhiều tôn giáo, không được chấp nhận cho hành đạo, như Phật giáo VN Thống nhất hay người Thượng theo Tin Lành".

    "Khi còn người không được hưởng tự do đó thì VN vẫn còn vấn đề về tự do tôn giáo".

    Bác sỹ Quân cũng cho rằng, cách nhìn nhận của chính phủ Mỹ còn phiến diện, chưa nhìn vào thực chất của vấn đề:

    "Ông Bush cũng như một số nhà ngoại giao của Mỹ so sánh tình hình hiện nay với mười, hai mươi năm trước và thấy rằng có tiến bộ đáng kể".

    "Thế nhưng các quyền tự do cơ bản của con người là điều ai sinh ra cũng phải được hưởng. Không thể nói việc họ siết chặt rồi nới ra đôi chút là tiến bộ về nhân quyền được".

    Một số nhà hoạt động dân chủ gốc Việt cho rằng, Mỹ cần chuẩn bị một lộ trình để thúc đẩy dân chủ ở VN, thông qua bang giao, hội nhập và phát triển kinh tế để tiến tới các thay đổi về thể chế và chính trị.

    Cơ chế đối thoại

    Một lộ trình như vậy đã được chuẩn bị hay chưa là điều còn phải bàn cãi, thế nhưng có thể thấy quan hệ kinh tế đầu tư đã được lãnh đạo hai bên đặt làm một trong các ưu tiên hàng đầu.

    Trong ngày thứ Ba, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Carlos Gutierrez và ông Nguyễn Tấn Dũng đã chứng kiến lễ ký nhiều thỏa thuận kinh tế nhằm mở rộng tiếp cận của các công ty Mỹ đối với thị trường Việt Nam.

    Trong cuộc họp báo tại Washington D.C , Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói hai bên đã đồng ý khởi động đàm phán hiệp định đầu tư song phương.

    Một hiệp định như vậy sẽ thúc đẩy quan hệ kinh tế đã rất mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, một trong các thị trường phát triển nhanh nhất cho hàng hóa xuất khẩu của Mỹ.

    Quan trọng hơn, lãnh đạo hai bên thành lập cơ chế đối thoại cấp cao để bàn về các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, môi trường, khoa học, quốc phòng và an ninh.

    Ông Dũng tuyên bố rằng Tổng thống Bush đã tái khẳng định rằng Mỹ sẽ luôn ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

    Chi tiết gây chú ý này chắc chắn sẽ làm tốn giấy bút của các nhà quan sát vốn đang theo dõi sát các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong khu vực.

    BBC

    June 22

    Nhân quyền sẽ được đề cập đến trong chuyến thăm Mỹ của TT Nguyễn Tấn Dũng

     

    Nhân quyền sẽ được đề cập đến trong chuyến thăm Mỹ của TT Nguyễn Tấn Dũng

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    2008-06-21

    Ngày 23/6/2008, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng Việt Nam có mặt tại thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, bắt đầu chuyến thăm chính thức kéo dài khoảng 1 tuần.

    Nghe audio

    Liệu vấn đề nhân quyền của Hà Nội, mối quan tâm chính yếu của Hoa Kỳ trong bang giao song phương Việt-Mỹ, có đựơc đặt lên bàn thảo luận với người đứng đầu nhà nước Việt Nam lần này hay không?

    Thứ Trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động, ông David Kramer, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ trong cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Việt Nam ở Hà Nội, dành cho Trà Mi cuộc phỏng vấn đặc biệt trước khi Thủ tướng Việt Nam đặt chân tới Washington.

    Quan trọng đối với Tổng thống Bush

    Trà Mi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho buổi tiếp chuyện đặc biệt này. Trước tiên, xin hỏi ông liệu vấn đề nhân quyền của Việt Nam có được nêu lên lần nữa với Hà Nội nhân chuyến Mỹ du của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kỳ này hay không?

    Thứ trưởng David Kramer: Tôi nghĩ rằng vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ lại đựơc đề cập đến. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với Tổng thống George W. Bush. Chắc cô còn nhớ, điểm nhấn mạnh trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của ông Bush là phát huy tự do, dân chủ, và nhân quyền trên toàn cầu.

    Chúng tôi cho rằng những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền của Việt Nam sẽ giúp tăng cường mối quan hệ bang giao của hai nước. Tiếp nối cuộc đối thoại nhân quyền tại Hà Nội hồi cuối tháng Năm do tôi làm trưởng đoàn, tôi nghĩ rằng vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ lại đựơc nêu lên khi Tổng thống Bush tiếp Thủ tướng Dũng lần này.

    Trà Mi: Những điều gì đang đựơc kỳ vọng cao nhất đối với Hà Nội lần này, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Chúng tôi đã nêu lên một số vấn đề với đối tác phía Việt Nam liên quan tới tự do tôn giáo, tự do báo chí, tù nhân lương tâm, cải cách luật pháp, đặc biệt là bộ luật hình sự. Tóm lại, chúng tôi muốn thấy cải thiện trong những lĩnh vực đó.

    Khi thương thuyết với Hà Nội, chúng tôi luôn cố gắng đi vào chi tiết cụ thể và đề nghị những bước cải thiện cụ thể mà phía Việt Nam có thể làm để chứng tỏ tiến bộ trong những vấn đề này.

    Cho nên, chúng tôi hy vọng sẽ có những hiệu quả trông thấy cả trước và sau chuyến Mỹ du của ông Dũng, không đơn giản chỉ là để tạo điều kiện tốt cho chuyến thăm, mà là nỗ lực phát huy những cải thiện lâu dài. Điều này không chỉ tốt cho mối quan hệ Việt-Mỹ mà còn tốt cho tương lai của Việt Nam sau này.

    Sẽ có vài nhà tranh đấu được trả tự do

    Trà Mi: Trong cuộc phỏng vấn hồi đầu tháng 6 với Ban Việt Ngữ RFA sau cuộc thoại với Hà Nội, ông có cho biết rằng Washington khuyến khích Hà Nội chứng tỏ những cải thiện trong lĩnh vực nhân quyền để tạo điều kiện cho chuyến Mỹ du của thủ tướng Việt Nam được tốt đẹp hơn. Cho tới nay Hà Nội đã có những biểu hiện gì đáng kể chưa, chẳng hạn như sẽ có tù nhân lương tâm nào được phóng thích chăng, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Chúng tôi được nghe là sẽ có một vài người đựơc Hà Nội trả tự do, nhưng để đảm bảo cho điều này diễn ra tốt đẹp thì tôi sẽ không nêu danh tánh cụ thể của các nhân vật đó bây giờ. Song, chúng tôi đã nhận được những dấu hiệu tích cực về mặt này.

    Chúng tôi cũng đã đạt đựơc thoả thuận rằng chuyên gia hai nước sẽ phối hợp trong công tác cải tổ các vấn đề về luật lệ và Bộ luật hình sự. Và cũng có tín hiệu là Việt Nam sẽ cho phép giới truyền thông quốc tế thành lập các văn phòng tại TPHCM. Nhìn chung, có một số lĩnh vực đã được đánh tiếng là sẽ có cải thiện. Và chúng tôi sẽ tiếp tục theo sát những vấn đề này với các đồng nghiệp phía Việt Nam.

    Trà Mi: Mỗi khi lĩnh vực nhân quyền đựơc nhắc tới, Hà Nội vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần rằng Washington không nên can thiệp quá sâu vào chuyện nội bộ của Việt Nam. Quan điểm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra sao, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Khi chúng tôi có mặt tại Việt Nam cuối tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng đây không phải là những vấn đề hoặc những giá trị của Mỹ áp đặt lên Việt Nam. Những gì chúng tôi đang thúc giục Hà Nội là những giá trị toàn cầu.

    Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do quyết định lựa chọn của người dân, đó là những quyền căn bản của con người trên toàn cầu, mà Việt Nam đã đồng ý ký tên tham gia. Những gì chúng tôi đang làm là khuyến khích Hà Nội tôn trọng những nhân quyền ấy. Chúng tôi nghĩ rằng cho phép tự do ngôn luận, tự do báo chí, hay tự do tôn giáo v.v., sẽ giúp Việt Nam trở thành một nước hùng mạnh hơn.

    Chúng tôi muốn Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng, dân chủ hơn, một đất nước nghiêm túc tôn trọng nhân quyền. Bởi nếu đựơc như vậy, Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia đối tác hữu hiệu hơn đối với chúng tôi. Thế nên, chúng tôi không xem đây là việc can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam mà đó là lĩnh vực quan trọng mà Hoa Kỳ hết sức quan tâm.

    Trà Mi: Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có sự nhất trí về định nghĩa “tù nhân lương tâm”, mà như ông biết đó, Hà Nội vẫn luôn khẳng định rằng “tại Việt Nam không có người tù lương tâm, chỉ có những ai vi phạm pháp luật mới bị trừng trị mà thôi.” Theo ông thì có giải pháp nào khả dĩ cho vấn đề này không?

    Thứ trưởng David Kramer: Trong những cuộc thảo luận đầy đủ với Bộ Công An Việt Nam không chỉ trong khuôn khổ các cuộc đối thoại nhân quyền, chúng tôi đã nêu lên những trường hợp cụ thể, khẳng định sự quan tâm, cũng như đưa ra những giải pháp đề nghị cho những trường hợp đó.

    Chúng tôi hy vọng rằng phía Việt Nam sẽ sớm có những hành động cụ thể. Đã có những tín hiệu chứng tỏ thiện chí như tôi đã trình bày, và chúng tôi mong sẽ thấy điều này xảy ra càng sớm càng tốt.


     
    June 21

    CSVN cũng đã lợi dụng chiêu bài "DÂN TỘC" để bách hại Cao Đài

     

    "Dân tộc", "đồng hành cùng dân tộc", "phản bội tổ quốc, dân tộc", "làm tay sai cho ngoại bang"...là những chiêu bài Cộng sản VN luôn dùng để bách hại các tôn giáo. Và điều đáng nói là có kẻ giả danh tôn giáo cũng tiếp tay cho chiêu bài này của Cộng sản để lấy điểm và tấn công các tôn giáo khác ! Nỗi nhục "tôn giáo" một khi nó bị chính trị hóa.

     

    Hành Trình Đạo Cao Đài từ 1975 (phần 2)

    RFA
    2008-06-20

    “Bản Án Cao Đài” năm 1978 của Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh là văn kiện đầu tiên làm nền tảng giải thể Hội Thánh Cao Đài . Văn bản này qui rằng: “mọi người đều có tội. Không ai vô tội. Mọi tài sản đều bị tịch thu.”

    Nghe audio

    Trong một diễn biến liên quan, năm 1982, một số chức sắc đạo Cao Đài đã viết bản “Cải Án,” để phản biện bản án năm 1978. Bản cải án nói rằng văn kiện 1978 là sự kết tội không có phiên tòa, gây tác hại vật chất, nhưng “phần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn”.

    CaoDai_TinNguyen

    Ban việt ngữ đài Á Châu Tự Do tìm hiểu và đối chiếu Bản Án 1978 với Bản Cãi Án 1982, trình bày trong bài thứ nhì của loạt 4 bài.

    "Bản Án Cao Đài" năm 1978 từ chính quyền Tỉnh Tây Ninh

    Ngày 20-9-1978, tức là chỉ hơn 3 năm kể từ khi thống nhất Việt Nam, chính quyền thời ấy, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh, cho phổ biến một văn kiện mang tên “Bản Án Cao Đài,” làm văn tự căn bản bắt đầu quá trình giải thể Hội Thánh Cao Đài và tịch biên một số tài sản của Đạo.

    Bản án, mở đầu bằng lời giới thiệu mang tính chất của một kết luận, viết nguyên văn: “Đạo Cao Đài Tây Ninh ngày thành lập đến nay đã 52 năm. Trên nửa thế kỷ qua, một số tên trong những người cầm đầu giáo phái này không ngừng lợi dụng xương máu, mồ hôi, nước mắt của tín đồ, mà tuyệt đại bộ phận là nông dân và nhân dân lao động yêu nước, để làm hậu thuẫn chính trị phản động cho các đế quốc xâm lược nước ta qua thời kỳ lịch sử của dân tộc.”

    Một năm sau ngày công bố Bản Án, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị chính quyền cưỡng bách giải thể. Đồng thời, một phần lớn tài sản của Đạo cũng bị cưỡng chế.

    “Những năm 1979, 1980, do tình hình đất nước thay đổi, Ngài Mở Đạo và Ngài Đầu Sư ra Đạo Lệnh 01 giải thể Hội Thánh từ trung ương đến địa phương, đồng thời thành lập Hội Đồng Chưởng Quản. Hội Đồng Chưởng Quản chỉ có tư cách coi sóc cơ ngơi của đạo chứ không hoạt động tôn giáo.”

    Phát biểu của Sĩ Tải Phùng Văn Phan, một chức sắc Cao Đài hiện đang sinh sống tại Việt Nam cho thấy, Hội Đồng Chưởng Quản là cơ quan ra đời trong bối cảnh đạo Cao Đài không còn Hội Thánh cùng các cơ quan quyền lực quan trọng được xây dựng theo giáo luật, gồm có Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện.

    Nội dung Bản Án 1978

    Bản Án năm 1978 gồm trên 5 ngàn chữ, phân tích 4 giai đoạn thành hình và hoạt động của Đạo Cao Đài. Các giai đoạn này, theo nguyên văn Bản Án, bao gồm, “Thời Kỳ Thành Lập” từ 1926 đến 1938, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Phát Xít Nhật” từ 1939 đến 1945, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Miền Nam” từ 1956 đến 1975, và Thời Kỳ từ 30 tháng Tư, 1975 đến thời điểm ra đời bản án, tức tháng 9 năm 1978.

    Sau những phân tích nhằm chứng minh rằng, những chức sắc cao cấp, trong đó có cả những vị khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là tay sai cho Pháp, Nhật, Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, Bản Án đưa ra một số kết luận.

    Các kết luận ấy, phần lớn nhằm vào những người khai sáng đạo và các chức sắc cao cấp của Đạo, viết nguyên văn rằng: “Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo, lợi dụng niềm tin của quần chúng và làm tay sai cho đế quốc.”

    Dựa trên lập luận rằng, đạo Cao Đài đi theo đế quốc để đối lấy quyền lợi, nhận tài trợ từ đế quốc và Ngụy Quyền, chính quyền tỉnh Tây Ninh ra lệnh tịch thu “tài sản, dinh thự, các cơ sở kinh doanh của Hội Thánh” với lý do đây “không phải là của riêng ai, mà là tài sản của đế quốc đã rút chạy để lại”. Trên căn bản này, chính quyền tuyên bố cần phải “tước đoạt những phần tài sản của chức sắc do tham ô, ăn cắp, và dựa thế lực đế quốc tạo ra”.

    Một năm sau, chính quyền công bố quyết định 124/QĐ-UB, ra lệnh giải thể Hội Thánh và guồng máy hành chánh của Đạo từ trung ương đến địa phương. Một phần lớn tài sản của đạo Cao Đài cũng bị sung công quỹ. Một tín hữu Cao Đài, hiện vẫn còn sinh sống tại Việt Nam, phân tích:

    “Hội Thánh có thể chứng minh ai là sở hữu chủ của Tòa Thánh. Bằng chứng thứ nhất, toàn bộ cơ sở có từ năm 1926. Thứ hai là toàn bộ cơ sở đều có tên với 6 đại tự “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.” Tài sản này đã được công bố ngay từ khi lập đạo năm 1926 chứ không phải đợi đến năm 1965.

    Bây giờ chính quyền Việt Nam thường hay nói rằng pháp nhân 1965 là do Đệ Nhị Cộng Hòa ban, nên họ không chấp nhận, phải xoá đi. Như vậy là họ chụp ngang một giai đoạn. Hai sự kiện chứng minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có từ năm 1926 là tờ khai đạo với chính phủ Pháp, và cuộc lễ xã hội hóa trước xã hội vào ngày 15 tháng 10 năm 1926. Con dấu thì được đăng ký với chính quyền thời Pháp thuộc.”

    “Bản Cãi Án Cao Đài” năm 1982 của một số chức sắc Cao Đài


    Bốn năm sau khi chính quyền công bố Bản Án, ngày 3-5-1982, một số Sĩ Tải chức sắc của Hiệp Thiên Đài cho công bố
    một văn bản gởi một số cơ quan và cá nhân, trong đó có Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, tức thủ tướng, và Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, tức chủ tịch nước.

    Văn bản có tên “Bản Cãi Án Cao Đài” phản bác những cáo buộc nêu ra trong Bản Án năm 1978, đồng thời nói rõ rằng: “Đạo Cao Đài trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhứt trong lịch sử Đạo, do Bản án của Mặt Trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh đề ngày 20-9-1978, lên án các bậc tiền bối có công khai sáng mối Đạo…” Ông Nguyễn Thanh Liêm, một hiền tài của Đạo Cao Đài, nhớ lại:

    “Các vị Sĩ Tải đó là chức sắc của Hiệp Thiên Đài, tức là người nắm luật của Đạo. Khi bản án Cao Đài được ban ra, thì các chức sắc này làm bản cải án cho thấy không bằng lòng với bản án. Bản án đó lên án các chức sắc của Đạo là phản Cách Mạng, và vì vậy nên đồng đạo không bằng lòng.”

    Bản Cãi Án viết rằng, văn kiện tố giác các tiền bối Cao Đài không có chứng tích xác thật, mà chỉ ghép thành một “Bản án” không có phiên toà xét xử, và bị cáo là những vị đã qua đời từ lâu.

    Các tác giả của Bản Cãi Án viết rằng họ “không vội vàng để chờ xem kết quả của Bản Án, và nay mọi diễn biến đã an bày, bản án cùng với thời gian lùi vào quá khứ,” hệ lụy từ Bản Án năm 1978 gây ra cho đạo Cao Đài, không gì khác hơn, là “Những tín hữu không đồng ý với Bản án bị bắt bớ, giam cầm”, “Hội Thánh bị giải thể cùng với ba cơ quan Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện để thành lập “Hội Đồng Chưởng Quản” thay thế. Cùng với sự giải tán Hội Thánh, “nhiều dinh thự nội ô Toà Thánh cùng các động sản, bất động sản của Đạo đã bị trưng dụng.”

    Bản Cãi Án xác định giá trị tâm linh trong hành đạo

    Tuy nhiên, kết luận quan trọng và có lẽ gây khó chịu cho chính quyền lại nằm ở phần tâm linh của Bản Cãi Án. Kết luận đó là, “phần tinh thần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn, vì nó ở trong tâm khảm của mỗi người”, và “Chánh quyền Cách mạng làm mất cảm tình của 3 triệu tín đồ Cao Đài mà từ năm 1975 đến nay họ an tâm làm công dân nước Việt Nam mới Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa, không có hành vi chống đối hay đố kỵ.”

    Một trong những điểm khiến tín hữu Cao Đài đau lòng, là Bản Án năm 1978 lên án những nhân vật khai sáng Đạo, trong đó có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, là tay sai cho Pháp, Nhật, Mỹ. Một đạo hữu Cao Đài nói rằng, với Bản Án năm 1978, “chức sắc nào cũng là tay sai. Ai cũng có tội. Không ai vô tội. Từ chỗ đó, mọi tài sản bị sung công.”

    Đến năm 2006, chính quyền Việt Nam đã cho đưa liên đài của nhân vật mà trước đó gần 30 năm họ kết án là “phản quốc,” từ Cambodia trở về Việt Nam, nhập Bửu Tháp tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đó là trường hợp của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Người đạo hữu bày tỏ:

    Chính quyền hồi phục lễ miễu năm 2006


    “Tới năm 2006, họ lại rước liên đài ông Phạm Công Tắc về. Nói về mặt luật pháp, thì sao năm 1978 anh nói họ phản quốc, rồi nay rước họ về với nghi thức linh đình, cho nhập Bửu Tháp mà không có văn bản nào xoá án hay xin lỗi là nói sai? Đây là chính sách 2 mặt. Một mặt có tội, để lấy tài sản, bỏ tù, giải tán, mặt khác rước người ta về để nói là có tự do tôn giáo.”

    Năm 2006 cũng là năm Việt Nam vận động để được rút tên ra khỏi danh sách các quốc gia được quan tâm đặc biệt vì tình trạng vi phạm nhân quyền, dân quyền và tự do tôn giáo.

    Bản Án năm 1978 không phải là hành động duy nhất kết án, và qua đó, giải thể Hội Thánh, sung công tài sản. Từ thời điểm công bố văn kiện “Bản Án Cao Đài,” tôn giáo có lịch sử từ những năm 1920 còn trải qua nhiều thăng trầm khác. Những thăng trầm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, từ đây không xuất phát trực tiếp từ văn kiện chính thức của nhà nước, nhưng có nguồn gốc từ những chia rẽ, bắt đầu từ thời điểm công bố Bản Án 1978, và qua đó, là sự ra đời của Hội Đồng Chưởng Quản.

    Từ đây, những tín hữu Cao Đài nguyên thủy bắt đầu một cuộc tranh đấu mới, với phía bên kia là những người một thời từng là đồng môn, đồng đạo.

    Trong phần 3 của loạt 4 bài, ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do sẽ lần lượt ôn lại những thời điểm quan trọng trong quá trình 30 năm kể từ ngày ra đời của Bản Án. Các thời điểm này phản ánh những thay đổi trong cuộc tranh đấu của những tín hữu Cao Đài nguyên thuỷ. Và những thay đổi này, một cách tất yếu, bắt nguồn từ sự thay đổi trong chính sách quản lý tôn giáo của chính quyền.

     
    June 20

    Dân biểu Mỹ họp báo về Nhân quyền VN trước chuyến thăm của TT Nguyễn Tấn Dũng

     
    Nhã Trân, phóng viên đài RFA
    2008-06-19

    Sáu ngày trước khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt chân đến thủ đô Washington, một số Dân biểu Mỹ và Cộng đồng người Việt đã tổ chức họp báo để nhắc nhở với hành pháp và dư luận Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

    nghe audio

    Trong thông cáo báo chí phổ biến đầu tuần này, Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Bush sẽ tiếp đón Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 24-6 tới đây. Thông báo cũng nói thêm là ngoài các lãnh vực kinh tế và xã hội, tổng thống Bush cũng sẽ lại nêu ra với Thủ tướng Việt Nam các vấn đề nhân quyền như quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp tại Việt Nam.

    Congressmen_080619_1_305Congressmen_080619_2_305

    Tại cuộc họp báo trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ sáng hôm qua 19-6, một nhóm dân biểu Mỹ cùng đại diện từ một số tổ chức theo dõi nhân quyền và một số hội đoàn người Việt hải ngoại cất tiếng nhắc nhở tổng thống Mỹ về những vi phạm các quyền căn bản của con người tại Việt Nam mà họ ghi nhận được.

    Thực trạng nhân quyền ở Việt Nam

    Sau diễn văn khai khai mạc của đại diện ban tổ chức buổi họp báo là nữ bác sĩ Nguyễn Thể Bình thuộc Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản, dân biểu Chris Smith của Đảng Cộng hòa Mỹ trình bày:
     
    "Chính quyền VN đã xóa bỏ các hứa hẹn, cam kết về nhân quyền, tự do  tuy các quyền của người dân đã được chính thức thừa nhận bởi luật pháp Việt Nam. Nhiều người bị bắt giữ chỉ vì những họat động liên quan đến tôn giáo, như linh mục Nguyễn Văn Lý.

    Hôm nay các nhà lập pháp, các đại diện các chính đảng Hoa Kỳ, và đại biểu nhiều tổ chức đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam họp mặt nơi này để  yêu cầu Tổng thống Bush lên tiếng một cách thẳng thắn, mạnh mẽ và cương quyết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc hội đàm tuần tới.
     
    Người dân Việt Nam có quyền được đối xử tốt hơn.  Họ phải được hưởng quyền tự do tôn giáo và các quyền khác."


    Các dân biểu Mỹ tham dự buổi họp cũng như các tổ chức nhân quyền của người Việt hải ngọai lên án rằng nhà cầm quyền Hà Nội trong năm qua đã gia tăng trấn áp các nhà họat động dân chủ  cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo.

    Với nhận định này, dân biểu Loretta Sanchez từ bang California nêu ý kiến rằng can thiệp của quốc tế là điều cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay:

    "Điều quan trọng là áp lực của bên ngoài, lên tiếng và đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tôn trọng nhân quyền.  Điều này giúp sức cho những người ở Việt Nam, đang đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ.  Thật không may là nhân quyền ở Việt Nam ngày càng ít được quan tâm.  Vì vậy vấn đề này sẽ tùy thuộc vào hành động của cộng đồng quốc tế, áp lực đòi hỏi Việt Nam cải thiện.

    Khi chính phủ Mỹ lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC và sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, chúng ta đã nghĩ rằng Việt Nam sẽ không cải sửa về vấn đề nhân quyền.  

    Việt Nam đàn áp bất cứ ai đang lên tiếng về vấn đề tự do thông tin, tự do ngôn luận, đồng thời sách nhiễu giới truyền thông, ví dụ trù dập nhà báo Nguyễn Hoàng Hải. Mỹ và quốc tế phải thấy điều đó.  Đó là tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam hiện nay.” 

    Kiến nghị lên Tổng thống Bush

    Cùng một quan điểm, dân biểu Frank Wolf  thuộc đảng Cộng Hòa từ bang Virginia mạnh mẽ phê phán rằng chính phủ Mỹ trong thời gian này có chiều hướng quan tâm nhiều về thương mại và kinh doanh với Việt Nam hơn, và không chú trọng đúng mức về nhân quyền.

    Cùng dự buổi họp báo là các dân biểu Zoe Lofgren, Frank Wolf và Ed Roy, bên cạnh đại diện của các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền như  Đảng Việt Tân và Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản.

    Nhân cuộc họp báo này, đông đảo tổ chức dân chủ, nhân quyền của người Việt hải ngoại gửi kiến nghị đến tổng thống Mỹ.  Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, trình bày:

    “Mười một hội đoàn đưa ra một bản lên tiếng gồm 5 điểm kêu gọi thế giới, bắt đầu với chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ để Việt Nam sớm có được những kiều điện tự do, dân chủ, nhân quyền.”

    Giám đốc Human Rights Watch, bà Sophie Richardson, cũng bày tỏ quan tâm về hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam, và đồng ý rằng tình hình cần được thay đổi.

    Đại diện Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ Leonard cho hay rằng tự do tôn giáo vẫn bị vi phạm vô cùng nghiêm trọng ở Việt Nam thời gian qua, vì vậy Tổng thống Mỹ cần lưu ý điều đó với lãnh đạo của Việt Nam. Và việc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC tức danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề tôn giáo nên được xét đến.
     
    Dân biểu Chris Smith, người từng có gần 30 năm tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ của Việt Nam, nói rằng ông sẽ tiếp tục các nỗ lực tranh đấu cho vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam cũng như về tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em Việt Nam.
     
    Các ý kiến đưa ra tại cuộc họp sẽ đuợc đạo đạt lên tổng thống George W. Bush trước khi ông tiếp thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng tại Nhà Trắng vào ngày 24 tháng 6 tới đây.

    (Nhã Trân tường trình từ Washington DC.)

    Họp báo tại Quốc Hội Mỹ về dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam

    Một nhóm dân biểu quan tâm đến dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam vừa tổ chức một cuộc họp báo tại trụ sở quốc hội Hoa Kỳ nhằm lên tiếng cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền, vấn đề tự do tôn giáo và nạn buôn người tại Việt Nam trước khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam hội kiến với Tổng thống Hoa Kỳ tại Tòa Bạch Ốc vào đầu tuần tới. Tấn Chương của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã dự cuộc họp báo và có bài tường trình sau đây.

    Theo thông báo của Tòa Bạch Ốc thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam sẽ hội kiến với Tổng thống Bush vào thứ ba tuần tới mà mục đích chính là nhằm tiếp tục tăng cường các mối quan hệ giữa hai nước, tuy nhiên các dân biểu tại cuộc họp báo mới đây ở trụ sở quốc hội Hoa Kỳ đã lên tiếng yêu cầu Tổng thống Bush phải đưa vấn đề nhân quyền của Việt Nam vào một trong những điểm cần chú tâm nhất trong nghị trình của cuộc hội kiến với thủ tướng Việt Nam.

    Dân biểu Christopher Smith của bang New Jersey, một trong các đại biểu chủ trì cuộc họp báo nói: “Đề nghị Tổng thống Bush trong cuộc gặp gỡ vào thứ ba tới đây với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nêu lên những quan tâm và thông hiểu sâu sắc của chúng ta về tình trạng vi phạm nhân quyền tiếp tục gia tăng tại Việt Nam; người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng nhiều quyền tự do hơn. Tổng thống Bush phải tạo áp lực đòi chính phủ Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng nhân quyền, các quyền cơ bản, và phải nỗ lực chấm dứt tệ nạn buôn người.”

    Dân biểu Lorreta Sanchez của Bang California đã lên tiếng chỉ trích rằng kể từ khi trở thành hội viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tự do và dân chủ tại Việt Nam đã không được cải thiện mà ngược lại đã trở nên xấu đi.
     
    Dân biểu Sanchez nói: “Thật đáng tiếc là tự do tại Việt Nam ngày càng bị hạn chế hơn, không giống như những gì mà chính phủ nước này đã hứa. Thành tích nhân quyền của Việt Nam đã xấu hơn một cách đáng kể trong thời gian qua. Tình trạng này có được lưu ý và sửa đổi hay không sẽ tùy thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực hành động của cộng đồng quốc tế và của chúng ta.”

    Một dự luật nhân quyền cho Việt Nam do dân biểu Chris Smith đưa ra đã được Hạ viện thông qua nhưng đã bị chặn lại tại Thượng viện hai lần. Dân biểu Ed Royce cho biết dự luật này sắp được đệ trình lên Thượng viện một lần nữa và ông thúc hối Thượng viện thông qua dự luật này.

    Dân biểu Royce nói: “Chúng ta cần phải giải thích cho Thượng viện hiểu rõ rằng đấu tranh đòi dân chủ tại Việt Nam không phải là phải là những hành động khủng bố, và dự luật nhân quyền đó cần phải được thông qua, và chúng tôi cũng yêu cầu Tổng thống Bush nêu lên vấn đề nhân quyền với Thủ tướng Việt Nam.”

    Trong khi đó dân biểu Frank Wolf mạnh mẽ chỉ trích rằng chính phủ của Tổng thống Bush chú trọng vào những quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều hơn là vấn đề dân chủ và nhân quyền.

    Dân biểu Wolf nói: “Lịch sử sẽ ghi nhận những gì mà chính phủ của Tổng thống Bush làm, lịch sử sẽ chứng kiến hành động của Tổng thống Bush và của Ngoại trưởng Condoleezza Rice vào tuần tới, lịch sử chứng kiến những gì mà đại sứ của Mỹ tại Việt Nam làm. Còn tính đến thời điểm này thì họ đã không làm được một cái gì cả! Chẳng được một cái gì cả! Điều mà họ quan tâm là 'làm ăn kinh tế, làm ăn và làm ăn.' Tôi nghĩ rằng chính phủ của ông Bush phải chịu trách nhiệm về việc này, bằng không thì chúng ta phải có một sự thay đổi hoàn toàn.”

    Sự thay đổi mà dân biểu Ed Royce ám chỉ có lẽ sẽ xuất hiện trước cuối năm nay khi nước Mỹ tổ chức cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11, thế nhưng dư luận đang đặt câu hỏi là trong tình huống này liệu Tổng thống Bush có sẵn lòng đưa vấn đề nhân quyền Việt Nam vào một trong những điểm quan trọng của nghị trình cuộc hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tuần tới hay không.

    Tấn Chương - tường tình từ trụ sở quốc hội ở thủ đô Washington.

    VOA


     

     

    June 05

    Nội dung Đối thoại Nhân quyền Việt-Mỹ : Báo CAND tung tin nhiễu ...

     

    Xem thêm bài "Phản ứng đối với báo Công an nhân dân phản biện đặc sứ Mỹ" ở đây.

    Nội dung Đối thoại Nhân quyền Việt-Mỹ

    Richard Finney & Trà Mi, RFA

    2008-06-05

    Cuộc đối thoại thường niên về Nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã diễn ra hôm cuối tháng Năm vừa qua tại Hà Nội. Kết quả ra sao? Nhận xét của Washington về cuộc gặp năm nay như thế nào?

    Nghe audio

    Thứ trưởng đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, ông David Kramer, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ đến Việt Nam tham gia đối thoại, đã dành cho đài Á Châu Tự Do buổi trao đổi đặc biệt sau khi ông hoàn tất chuyến đi.

    David-Kramer-250


    Tiếp chuyện với phóng viên RFA hôm 4-6, ông David Kramer cho biết: “Trong ba năm liên tiếp gần đây, Hoa kỳ có các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Việt Nam, vốn bị đình hoãn từ năm 2002 và tới năm 2006 thì đôi bên quyết định tái tục hoạt động này. Điều này cho thấy tín hiệu của sự cải thiện và phát triển bang giao song phương giữa Hà Nội và Washington.

    Cuộc gặp năm nay với Thứ trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng diễn ra nguyên cả ngày 29/5/2008, bàn về nhiều vấn đề kể cả những vấn đề nhạy cảm. Tôi hoan nghênh phía Việt Nam đã tiến hành cuộc đối thoại này trong tinh thần xây dựng và thẳng thắn, không có vấn đề nào gọi là “quá giới hạn cho phép thảo luận.”

    Có những lĩnh vực đôi bên hứa hẹn sẽ thực hiện và chúng tôi đang chờ đợi những điều cam kết sẽ đựơc tiến hành trong vài tháng tới.”  

    Các vấn đề Hoa Kỳ quan tâm

    RFA: Ông có thể cho biết những mối quan tâm chính mà phía Hoa Kỳ nêu lên trong kỳ gặp gỡ năm nay và phản hồi của phía Việt Nam ra sao?

    Thứ trưởng David Kramer: Những vấn đề nêu lên trong nghị trình làm việc bao gồm tự do tôn giáo, tự do báo chí, tù nhân lương tâm, luật pháp, và các lĩnh vực hợp tác quốc tế. Phía Việt Nam thì đề cập đến vấn đề chất độc màu da cam.

    Liên quan đến tự do báo chí thì chúng tôi cũng đề nghị Việt Nam cho phép phóng viên hoạt động tại TPHCM và nhận đựơc tín hiệu rằng điều này có thể xảy ra. Chúng tôi cho rằng đây là một bước tiến tích cực của phía Việt Nam.

    Chúng tôi cũng có đề cập đến trường hợp của hai nhà báo mới bị bắt giam vì các bài viết phanh khui vụ scandal tham nhũng vì chúng tôi cho rằng trường hợp của hai phóng viên này có thể sẽ gây nên ảnh hưởng không tốt cho giới báo chí tại Việt Nam vốn chỉ được tường trình trong khuôn khổ nhà nước cho phép.

    RFA: Trước khi phái đoàn Bộ ngoại giao Hoa Kỳ khởi hành chuyến đi đối thoại nhân quyền với Việt Nam, một số tổ chức tranh đấu dân chủ của người Việt hải ngoại đã tiếp xúc với đại diện Bộ Ngoại giao để trình bày thông tin cũng như đưa ra những đề nghị. Những mối quan tâm ấy có được đặt lên bàn thương thuyết với Hà Nội không, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Đây là một điều thông thường. Chúng tôi cũng gặp gỡ với các phái đoàn đấu tranh dân chủ cho Trung Quốc trước khi chúng tôi đến Bắc Kinh đối thoại nhân quyền. Và chúng tôi cũng làm điều tương tự trước khi đi Việt Nam và tôi nghĩ rằng thật hữu ích khi các điều quan ngại ấy được nêu lên.

    Phản hồi của Việt Nam

    RFA: Phản hồi của phía Việt Nam năm nay có gì khác hơn so với những năm trước hay không, có đáp ứng sự kỳ vọng của phía Mỹ, hay có gì bất ngờ ngạc nhiên hay chăng, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Tôi không tham dự các buổi đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ các năm trước đây nên tôi khó mà so sánh được. Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng chính phủ Việt Nam tỏ ra rất cộng tác trong các vấn đề đưa ra thảo luận. Và họ cũng cam kết sẽ nghiêm túc xem xét danh sách các tù nhân lương tâm mà chúng tôi đưa ra. Theo tôi, đó là những bước rất đáng khích lệ.

    Thủ tướng Việt Nam dự định thăm Hoa Kỳ trong thời gian tới, và chúng tôi khuyến khích Hà Nội nên có những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền trước chuyến đi này. Đây không phải là điều kiện của chuyến đi, mà dĩ nhiên nó sẽ tạo điều kiện cho một chuyến công du tốt đẹp hơn.

    RFA: Về mặt cải thiện luật pháp, Hà Nội có ý mời chuyên gia hay cố vấn từ Hoa Kỳ hỗ trợ trong công tác này hay không?

    Thứ trưởng David Kramer: Tôi cho rằng điều cả đôi bên đang hướng tới có lẽ là trao đổi quan điểm ở cấp chuyên gia, qua đó, Hoa Kỳ có thể tư vấn, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho phía Việt Nam. Thế nhưng chúng ta cũng cần phải lưu ý đến các điều kiện đặc biệt của Việt Nam.

    Cho nên đây không phải là điều mà chúng tôi kỳ vọng áp đặt lên Hà Nội mà chỉ có thể trao đổi kinh nghiệm và tư vấn hữu ích cho họ mà thôi.

    RFA: Ủy ban Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế đang kêu gọi mạnh mẽ việc đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo. Ý kiến của ông như thế nào?

    Thứ trưởng David Kramer: Đại sứ Hoa Kỳ đặc trách về tôn giáo, John Hansford, không cùng tham dự cuộc đối thoại nhân quyền tại Việt Nam với tôi, nhưng chúng tôi đã thảo luận với nhau về chuyến đi này và ông có gửi đại diện của văn phòng ông đi Việt Nam với tôi trong cuộc đối thoại này.

    Theo tôi, về mặt tự do tôn giáo, trong những năm qua, Việt Nam đã thể hiện vài tiến bộ. Nói như vậy không có nghĩa là tình trạng tự do tôn giáo của Việt Nam đã hoàn thiện, nhưng với những tiến bộ đó, tôi nghĩ rằng Việt Nam xứng đáng được bỏ tên ra khỏi danh sách này.

    Tôi cho rằng văn phòng của đại sứ Hansford đã quyết định đúng. Chúng ta cần phải công nhận những tiến bộ đã đạt được.

    Đại diện Hoa Kỳ xin lỗi Việt Nam?

    RFA: Báo Công an Nhân dân ở Việt Nam đăng tải rằng trong buổi đối thoại này, phái đoàn Hoa Kỳ đã xin lỗi Việt Nam vì một số thông tin không chính xác. Thực hư việc này ra sao, thưa ông?

    Thứ trưởng David Kramer: Việc này liên quan đến nội dung thảo luận về thời điểm nào trong thời hạn thụ án thì tù nhân tại Việt Nam có thể được hưởng ân xá. Theo thông tin chúng tôi ghi nhận được thì một người tù có thể được hưởng đặc xá sau khi đã thi hành 1/3 bản án.

    Tại buổi họp chúng tôi được họ cho biết là phải sau 2/3 thời gian thụ án mới được ân xá. Sau đó, chúng tôi có nghiên cứu lại thông tin dựa trên quyết định đặc xá của chủ tịch nước và dựa trên luật pháp của Việt Nam, thì quả đúng là sau 1/3 thời gian chấp hành án thì tù nhân có thể được ân xá.

    Như vậy, thông tin chúng tôi đưa ra ngay từ đầu là đúng, nhưng chúng tôi đã tôn trọng phản biện của Hà Nội khi họ khẳng định là phải 2/3 thời gian thụ án.

    Sau cuộc đối thoại, chúng tôi đã gửi văn bản khẳng định rằng những thông tin chúng tôi ghi nhận qua các tài liệu của nhà nước Việt Nam cho thấy thời điểm có thể được đặc xá là sau 1/3 thời hạn thụ án.

    Tóm lại, cho dù trong buổi gặp gỡ chúng tôi có nói rằng nếu chúng tôi có nhầm lẫn trong vấn đề cụ thể này thì chúng tôi xin lỗi, nhưng hoá ra chúng tôi đã đúng. Chúng tôi đang chờ hồi âm của phía Hà Nội về việc này ra sao.

    RFA: Xin chân thành cảm ơn ông David Kramer, Thứ trưởng Trưởng đặc trách về dân chủ, nhân quyền, và lao động Hoa Kỳ đã dành cho đài Á Châu Tự Do buổi nói chuyện đặc biệt này.

    May 28

    Nhân quyền VN 'không biến chuyển'

     
     
    Điểm nhấn:
     
    “Tăng trưởng 8-9% liệu có ý nghĩa gì nếu như cuộc sống người dân ngày càng kém đi và người nghèo ngày càng nghèo hơn?” (Thanh Niên, BBC)
     
    Chính phủ bất lực của TT Nguyễn Tấn Dũng HÃY TỪ CHỨC để dân được nhờ.
     
     
    Nhân quyền VN 'không biến chuyển'
     
    Tổ chức Ân xá Quốc tế nói nhân quyền Việt Nam vẫn chưa được cải thiện bất chấp việc hai nhà hoạt động dân chủ được tự do.

    Báo cáo 2008 của Ân xá Quốc tế (Amnesty International) nói trong suốt năm 2007 ''tự do thể hiện ý kiến và hội họp vẫn tiếp tục bị kiểm soát chặt chẽ.''

     LeThiCongNhan150Nguyễn Văn Hải chaly203

    Ân xá Quốc tế nói nhiều nhà hoạt động dân chủ Việt Nam vẫn bị xử bất công (Ls Lê Thị Công Nhân, Điếu Cày (blog CL&ST) và Lm Nguyễn Văn Lý)

    Đây là một trong các tổ chức theo dõi nhân quyền hàng đầu trên thế giới.

    Mặc dù vậy, Việt Nam đã trả tự do cho hai nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Vũ Bình và Lê Quốc Quân.

    Việc trả tự do này diễn ra ngay trước chuyến thăm của Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết tới Hoa Kỳ hồi tháng Sáu năm 2007.

    Trước đó ba tháng, Hà Nội đã hủy bỏ nghị định 31/CP về quản chế hành chính.

    Âm mưu lật đổ'

    Sau Hội nghị Thượng đỉnh APEC ở Hà Nội và sau khi ký kết nhiều hiệp định thương mại trong đó có hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam bị cáo buộc đã tăng cường trấn áp việc thể hiện ý kiến một cách hòa bình và hoạt động hội họp.

    Ân xá Quốc tế viết trong phúc trình: ''Ít nhất 35 người, trong số đó có luật sư, thành viên nghiệp đoàn, lãnh đạo tôn giáo và bất đồng chính kiến trên mạng internet, đã bị bắt trong giai đoạn từ tháng 11/2006 tới cuối năm 2007.''

    Theo tổ chức này, hầu hết số người bị bắt có liên hệ với Khối 8406, phong trào đòi thay đổi chính trị và tôn trọng quyền con người ở Việt Nam.

    Trong số đó có linh mục Nguyễn Văn Lý, người đã bị kết án tám năm tù giam vì ''tuyên truyền chống nhà nước'' trong một phiên xử mà ông đã bị bịt miệng.

     index_1Vl07

    Sinh viên Nam bị công an đán áp. (những bức hình trong bài này, trừ bức hình Cha Lý, không phải của BBC)

    Một sáng lập viên khác của Khối 8406, luật sư Nguyễn Văn Đài đã bị kết án năm năm tù, sau giảm xuống còn bốn năm sau khi xử phúc thẩm.

    Một luật sư khác bà Lê Thị Công Nhân, người cùng ông Đài tổ chức các hội thảo về nhân quyền cũng bị kết án bốn năm, sau giảm xuống ba năm.

    Trong số các vụ bắt bớ khác có vụ sáu người, trong đó có hai công dân Mỹ và một công dân Thái vốn gần đây bị đưa ra xét xử.

    Họ bị bắt vì mang truyền đơn ''lật đổ'' vào Việt Nam hồi tháng 11/2007.

    BBC

    May 13

    Tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị xử phạt, hành hung

     

    Tín đồ Tin Lành ở Thanh Hóa bị xử phạt, hành hung

    Việt Hùng, phóng viên đài RFA

    2008-05-12

    Liên tiếp trong tháng 4 năm 2008 các tín đồ Tin Lành thuộc Hội thánh Phúc Âm toàn vẹn Việt Nam tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã gặp khó khăn với các cấp chính quyền trong việc nhóm họp thờ phượng Chúa. Thậm chí có những lời cáo buộc từ Hội thánh Phúc Âm Toàn vẹn Việt Nam về việc các tín đồ bị đánh.

    Nghe audio ở đây.

    Mục sư quản nhiệm Nguyễn Trung Tôn thuật lại trong câu chuyện với Việt Hùng của Ban Việt ngữ như sau:

     TinLanh_ThanhHoa_305

    Trong văn bản chính quyền Xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính tín đồ Tin Lành Lê Thị Sang dựa trên hành vi “ cầu nguyện, đọc kinh thánh ( Đạo Tin lành) “. Bản sao do MS Nguyễn Trung Tôn cung cấp.

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Chúng tôi sinh hoạt ở Hội thánh Phúc Âm Toàn vẹn Việt Nam sự việc xảy ra thì nhiều lắm. Nhưng nói riêng tại Hội thánh tại Quảng Yên là Hội thánh do tôi trực tiếp quản nhiệm đã xảy ra vụ việc vào ngày 20-4 Trưởng công an xã là ông Lê Quang Kỳ cùng với nhiều công an khác đến ngăn cản buổi nhóm cầu nguyện của chúng tôi. Hôm đó họ bắt 15 người cùng gia đình chúng tôi đến Uỷ ban Nhân dân xã. Tại đây họ đưa ra những lời lẽ thô bạo, ép buộc chửi mắng tín đồ.

    Sau đó họ cho về và đưa ra quyết định xử phạt hành chính với lý do chúng tôi nhóm cầu nguyện đọc Kinh Thánh, sinh hoạt đạo Tin Lành.

    Sau đó đến ngày Chủ Nhật 27-4 họ lại xông vào nhà chúng tôi. Hôm đó chúng tôi khóa cổng ngõ không cho ai vào, khi chúng tôi đang cầu nguyện thì công an họ vượt tường leo vào phá cổng nhà tôi, ông Trưởng công an xã Lê Quang Kỳ vỗ ngực nói “ông ấy là luật pháp, ông ấy muốn làm gì thì làm trong gia đình tôi…”

    Họ bắt tất cả các tín đồ và gia đình tôi lên Nhà Văn hóa của xã Quảng Yên, và tại đây họ đã đánh đập các tín đồ. Hôm đó họ đánh cháu Nguyễn Xuân Thiệu và anh Nguyễn Xuân Thành và những người khác nữa. Và tại đây họ ra quyết định bằng miệng ông Lê Quang Kỳ phạt mỗi tín đồ 100 ngàn đồng VN, chỉ là quyết định miệng vậy thôi chứ không có văn bản giấy tờ gì.

    Liên tục từ ngày 20-04 cho đến nay các cấp chính quyền vẫn phát trên loa phóng thanh của xã, họ gọi chúng tôi là đồng bọn sinh hoạt Tôn giáo trái phép do Nguyễn Trung Tôn cầm đầu.

    Trên thực tế vào tháng 4-2007 tôi đã làm đơn đăng ký xin sinh hoạt tôn giáo theo tinh thần công văn 177 của Ban Tôn giáo chính phủ cũng như chỉ thị 01 của thời Thủ tướng Phan Văn Khải, nhưng chính quyền xã vẫn không chấp nhận đơn đăng ký sinh hoạt của chúng tôi.

    Khi tôi hỏi ông Lê Quang Kỳ chúng tôi nhóm sinh hoạt đạo Tin Lành như vậy, các ông nói sai thì tại sao các ông không hướng dẫn cho chúng tôi sinh hoạt thì họ nói việc này do cấp tỉnh chỉ đạo, còn ở xã họ cứ thấy nhóm lại là họ bắt.

    Việt Hùng: Nhưng trên thực tế đã có một số Hội nhánh thuộc Hội thánh Phúc Âm toàn vẹn Viet Nam ở Thanh Hóa đã được phép sinh hoạt?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Trên thực tế các điểm nhóm khác không gửi đơn đăng ký nhưng vẫn sinh hoạt rất bình thường.

    Việt Hùng: Các cấp chính quyền ngăn cản việc cầu nguyện của các tín đồ Tin Lành phải chăng là vì mục sư quản nhiệm là mục sư ký tên tham gia Khối 8406?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Trên thực tế thì không cần phải thắc mắc nữa vì trên thực tế căn cứ theo Biên bản vi phạm hành chánh do ông Lê Quang Kỳ đã ban hành và ký, lý do chính quyền đưa ra là đọc Kinh Thánh, cầu nguyện sinh hoạt đạo Tin Lành. Chính quyền ra những quyết định như vật thì không có gì phải thắc mắc nữa là Việt Nam các cấp chính quyền địa phương vẫn tiếp tục bắt bớ và ngăn chặn cấm các tín đồ không được sinh hoạt đạo Tin Lành là rõ ràng cụ thể có chữ ký và con dấu chính quyền đóng mà.

    Việt Hùng: Mục sư nói tại công an xã Quảng Yên công an đã hành hung một số tín đồ?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Họ đánh và đấm vào bụng, vào vai và người.

    Việt Hùng: Họ hành hung như vậy là có sự chứng kiến của tất cả các tín đồ khác hay sao?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Vâng trước mặt các tín đồ và ngay trên đường vừa ra khỏi nhà tôi lên Ủy ban Nhân dân là họ đánh ngay trên đường đi, họ đánh ngay trên đường đi có những người dân họ cũng nhìn thấy, họ cũng có thể lên tiếng với đài RFA và trả lời một cách khách quan.

    Việt Hùng: Trở lại việc khi những chuyện đó xảy ra mục sư có thông báo sự việc xảy ra với cấp cao hơn công an xã Quảng Yên hay không?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Trên thực tế ngay sau khi xảy ra vụ việc ngày 20-4 thì tôi cũng gọi điện báo cho công an PA 38 và công an ở PA 35 thuộc phòng An ninh chính trị 1 và An ninh chính trị 4 ở tỉnh Thanh Hóa. Họ không có đánh giấy mời nhưng họ có mời tôi đi gặp gỡ nói chuyện. Khi gặp nói chuyện thì họ cũng “tế nhị” nói đây là cuộc gặp gỡ nói chuyện chứ không phải là công việc, nhưng trên thực tế thì họ cũng muốn làm cho tôi dịu đi, có một số người khuyên chúng tôi là để cho họ dàn xếp cho ổn thỏa.

    Cuộc gặp gỡ diễn ra tại nhà ông mục sư Trần Văn Kỳ, giáo hạt trưởng của chúng tôi ở Thanh Hóa gặp với công an PA 38 và một lần gặp tại Sở công an Thanh Hóa với công an PA 35, nhưng người này thì yêu cầu tôi không nêu tên ông ta. Ông ta nói sẽ sắp xếp công việc cho ổn thỏa nhưng mà sau ngày 20-4 thì lại xảy ra vụ nữa vào ngày 27-4. Sáng ngày 27-4 thì họ (công an) đón đường, chúng tôi có điện cho công an tỉnh thì họ trả lời là bây giờ công an tỉnh không thể can thiệp được. Công an tỉnh nói là tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh, video về những việc làm sai trái của công an xã rồi gửi cho họ. Tôi cũng ghi lại những hình ảnh xảy ra trong ngày 27-4 và hôm sau nữa là ngày 28-4.

    Sáng ngày 28-4 sau khi tôi gửi đơn đi các nơi trình bày về việc xảy ra ngày hôm trước thì chiều ngày 28-4 thì anh Đàm Văn Hà, công an phụ trách thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên đến nhà tôi dùng đất đá ném vào nhà tôi, khi mẹ tôi ra hỏi anh ấy lý do tại sao ném đất đá vào nhà tôi thì anh ta đã xông thẳng vào buồng của tôi để đánh tôi, tôi đã dùng video camera để quay lại những hình ảnh đó thì anh ta còn định lao vào định cướp máy của tôi.

    Việt Hùng: Theo chúng tôi ghi nhận chiều ngày thứ Ba mùng 6 tháng 5 tính theo giờ Việt Nam mục sư có cuộc tiếp xúc với Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội, mục sư có thể nói rõ hơn về cuộc gặp gỡ đó.

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Hôm nay vào lúc 2 giờ chiều đến 3 giờ chiều ngày thứ Ba (06-5) chúng tôi đã có cuộc tiếp xúc với bà Jane Bocklage, Bí thư thứ hai Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội. Trong cuộc gặp gỡ bà Jane Blockleg đã hỏi tôi về những gì đã xảy ra và tôi cũng đưa cho bà một vài đơn khiếu nại, tường trình cũng như một vài cuốn băng video hình ảnh công an xông vào nhà tôi đập phá, đánh đập bắt các tín đồ.

    Bà Jane Bocklage có hứa là sẽ đưa những bằng chứng này ra cho Ban Tôn giáo Chính phủ cũng như chính phủ Việt Nam để xem ý kiến của chính phủ Việt Nam như thế nào? Bà nói nếu có thể sắp xếp được thì bà sẽ về thăm tỉnh Thanh Hóa và thăm Hội thánh của chúng tôi.

    Việt Hùng: Về phía các cấp chính quyền họ có biết mục sư có những buổi tiếp xúc với Tòa Đại sứ Hoa Kỳ?

    Mục sư Nguyễn Trung Tôn: Họ có biết, trong chừng mực nào đó thì công an tỉnh Thanh Hóa thường hay ghé nhà tôi như có ý thân mật, tạo mối quan hệ nào đó thì tôi không biết. Về phía tôi, tôi cũng nói thẳng cho họ biết về mối quan hệ của với anh em trong Khối 8406, những Tổ chức quốc tế hay những lần tôi đi gặp Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Tôi vẫn thường trao đổi với các vị đó chứ tôi làm việc công khai chứ đâu có lén lút gì đâu.

     
    May 12

    Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin Stalinist để trở về với Dân chủ Xã hội có phản bội Marx không?

     
    Phong Uyên
     
    Từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin Stalinist để trở về với Dân chủ Xã hội có phản bội Marx không?
     
    Từ hơn nửa thế kỷ nay chủ nghĩa Marx-Lenin đã trở thành quốc giáo, được khẳng định trong Hiến pháp và hiện đang chiếm mười lăm phần trăm thời trình bắt buộc của mỗi sinh viên đại học. Thời trung cổ, môn Thần học Công giáo bị bắt buộc phải được giảng dậy ở Đại học Sorbonne cho sinh viên toàn cõi châu Âu cũng không chiếm một thời lượng lớn như vậy.

    Trừ các vị tiến sĩ trong Ban Tuyên giáo Trung ương, ai cũng biết rằng vào năm 1924, Stalin đã tự bầy đặt ra chủ nghĩa Marx-Lenin này để củng cố quyền thế của mình. Thật ra, ngay cả cái mà hiện nay đang được gọi là “chủ nghĩa Marx” (Marxisme) cũng không phải do chính Marx đề xướng từ nguyên thuỷ; về điều này Marx đã từng nói “tôi không phải là người Marxist.” Chỉ có một học thuyết được Marx và Engels trình bầy trong bản Tuyên ngôn Cộng sản và trong cuốn Tư bản luận. (Trong bài viết này, những tư tưởng của Marx và Engels trong hai trước tác đó sẽ được tạm gọi là ‘học thuyết Marx-Engels’.) Học thuyết này được Engels hoàn chỉnh thành một chủ nghĩa gọi là Dân chủ Xã hội vào năm 1889, sáu năm sau khi Marx mất.

    La Thành, trong bài viết mới đây
    “Cuộc hẹn mới của dân chủ?”, có đề nghị đối lập dân chủ nên chọn Dân chủ Xã hội làm mô hình để thúc đẩy phong trào dân chủ tiến triển và đi đến sự đồng thuận. Tôi xin bổ sung thêm là mô hình này cũng có khả năng thuyết phục các nhà lãnh đạo có tư tưởng tiến bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi hoàn toàn có thể chứng minh được rằng nó không phản bội Marx. Đây không phải là việc khó: chỉ cần ôn lại những diễn tiến trong việc triển khai học thuyết Marx-Engels từ khi có bản Tuyên ngôn Cộng sản năm 1848 cho tới khi Engels mất (1895).

    Trước hết tôi thấy cần phải nhắc lại là trong thân thế và sự nghiệp của Marx và Engels có nhiều mối liên quan mật thiết giải thích sự thành hình sau này của chủ nghĩa Dân chủ Xã hội:
    • Marx, Engels đều sinh ở Rhénanie [1] thuộc Pháp từ Cách mạng 1789 cho tới 1815, nên Marx và Engels đều chịu ảnh hưởng bởi văn hoá và tri thức Pháp cũng như bởi những truyền thống cách mạng và tư tưởng của xã hội Pháp.
    • Marx, Engels đều là những trí thức tư sản: Engels xuất thân trong một gia đình tư bản [siêu quốc gia] ngành dệt; Marx là hậu duệ của một dòng tộc Do Thái đã nhiều đời làm giáo sĩ, lại kết hôn với một phụ nữ thuộc dòng dõi quý tộc Phổ. Cả hai đều được giáo dục theo chuẩn mực của những gia đình thượng lưu Âu châu thời ấy, lấy văn minh Hi Lạp, La Mã và văn hoá Pháp làm căn bản.
    • Marx là một nhà trí thức “tháp ngà”, một lí thuyết gia từng có cơ hội trở thành giáo sư kinh tế Đại học Bonn. Ông sống một cuộc sống xa thực tế, không có khả năng đáp ứng được những nhu cầu hàng ngày cho một gia đình đông con và người vợ quí phái. Marx đã từng than: “Là một nhà kinh tế, vậy mà tôi không lo nổi kinh tế cho chính bản thân mình.”
    • Engels là người thực tiễn, vẫn tiếp tục chức vụ trong ban giám đốc cơ xưởng của gia đình ở Manchester, dùng lợi tức “tư bản” để có phương tiện tài chính phổ biến ý tưởng “cách mạng” và chu cấp cho Marx. Engels cũng là người có nhiều tiếp xúc với những tầng lớp lao động hơn Marx, một phần vì nghề nghiệp, một phần vì có người bạn đời là một nữ công nhân [2] . Vì thân cận với giới bình dân nên Engels hay dùng thể văn bút chiến, viết những bài đọc dễ hiểu, gần gũi và dễ khích động giai cấp cần lao hơn Marx.
    Có thể nói Marx là một nhà triết học đã “dấn thân” thành một lý thuyết gia kinh tế chính trị. Vì vậy cần phải phân biệt rõ ràng hai phần trong hệ tư tưởng của Marx là Triết học và Kinh tế học Chính trị (political economics).

    Triết học Marx:

    Từ thời cổ Hi Lạp cho tới ngày nay, trong triết học vẫn có hai xu hướng: xu hướng “duy vật” (matérialisme) với Democrite, Epicure, và xu hướng “duy tâm” (idéalisme) theo Platon. Trung thành với những ý tưởng đã được bảo vệ trong luận án của mình, Marx tiếp tục truyền thống triết học duy vật, nhưng cái độc đáo của Marx là đã gắn triết học duy vật với biện chứng pháp của Hegel. Có điều là phép biện chứng Hegel chỉ là biến thể của phép biện chứng “duy tâm” Platon. Để khắc phục mâu thuẫn “duy vật” / “duy tâm”, Marx đưa ra khái niệm “duy vật lịch sử”, hàm nghĩa là những hiện tượng lịch sử tuy không phải là vật chất nhưng phát sinh từ vật chất. Tóm lại, triết lý của Marx về lịch sử là lý thuyết duy vật [về một đối tượng] phi vật chất.

    Cũng như mọi triết gia từ thượng cổ tới nay như Aristote, Platon, Descartes, Spinoza, Kant, Hegel, Sartre v.v... Marx sẽ có chỗ đứng đời đời trong triết học. Comte-Sponville, một nhà triết học duy vật Pháp, khi tranh luận với nhà khoa học Jean Staune đã nói: “Một lí thuyết khoa học có thể chỉ mấy chục năm là đã lỗi thời và bị quên lãng; một lí thuyết triết học vẫn luôn luôn có giá trị vì không ai có thể phản bác được.”

    Kinh tế học Chính trị của Marx:

    Căn bản tư tưởng kinh tế chính trị của Marx nằm trong hai tác phẩm nổi tiếng là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảnTư bản luận. Những khám phá mới đây cho thấy trong hai tác phẩm này khó mà phân biệt được phần nào là của Marx, phần nào là của Engels.

    Năm 1847, Marx thảo một bản pamphlet (một thể văn đả kích), trong đó Marx lặp lại gần như toàn diện những nguyên lý cộng sản chủ nghĩa của Engels. Engels góp ý với Marx là phải trình bầy làm sao cho dễ hiểu và phải tìm một nhan đề thật kêu để lôi cuốn. Bài “đả kích” (pamphlet) được biến thành một “tuyên ngôn” (manifeste): Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tiếng Anh The Manifesto of the Communist Party, tiếng Đức Manifest der Kommunistischen Partei). Thật ra thời đó chưa có đảng cộng sản nào mà chỉ có “Liên đoàn Những người Cộng sản” (Ligue des Communistes), mà tên đầu tiên là “Liên đoàn Những người Công chính” (Ligue des Justes). Ngay cả câu “Vô sản mọi xứ trên toàn cầu hãy hợp nhất lại!” cũng là theo ý của Engels, chứ mới đầu Marx chỉ muốn đưa ra châm ngôn “Mọi người đều là anh em!” Có lẽ Marx đã chịu ảnh hưởng của phương châm “Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ” từ hồi Cách mạng Pháp.

    Bắt đầu từ 1865, Marx đã bỏ rất nhiều công sức viết cuốn Tư bản luận. Nhưng chỉ có tập đầu xuất bản năm 1875 (và được dịch từ đây ra tiếng Pháp) là có sự kiểm tra của Marx. Tập II và tập III được biên soạn bởi Engels: tập II xuất bản năm 1885, tập III năm 1894. Tập IV do Karl Kautsky biên tập và xuất bản năm 1905–1910. Tuy nhiên, mới đây người ta đã công bố các tập sau của bộ Tư bản luận mà David Ryazanov (một học giả Mác-xít theo Bôn-sê-vích đã bị Stalin xử bắn năm 1938) dịch từ bản thảo viết tay của Marx: có rất nhiều khác biệt khi so sánh với các tập Tư bản luận mà Engels biên soạn, thậm chí nhiều đoạn đã bị thay đổi. Điều này khiến ta có thể đặt câu hỏi trong bộ Tư bản luận mà ta biết hiện giờ phần nào thật sự do Marx viết, phần nào do Engels tu bổ, đổi nghĩa? Cũng cần nói thêm là bộ Tư bản luận xuất bản ở Liên Xô từ thời Stalin, và có lẽ bây giờ vẫn còn được diễn giảng ở Việt Nam qua bản dịch của Nhà xuất bản “Tiến bộ” Moskva, sau này được Nhà xuất bản “Sự Thật” (nay là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) nối bản, chỉ là một version đã bị chỉnh lý lại theo ý Stalin.

    Qua những phát hiện trên, ta có thể kết luận rằng phần triết học trong tư tưởng Marx là hoàn toàn của Marx. Nhưng những khái niệm về kinh tế chính trị là tài sản chung của hai người – Marx và Engels.

    Sau khi Marx mất, lí thuyết Kinh tế Chính trị đã được Engels sử dụng như một công cụ đấu tranh, và khi chủ xướng Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (l’Internationale Socialiste), hay còn gọi là Đệ nhị Quốc tế, Engels đã biến nó thành Chủ nghĩa Dân chủ Xã hội (Social-Démocratie, Social Democracy) để đấu tranh với chủ nghĩa tư bản. Đệ nhị Quốc tế có mục đích hợp nhất mọi tổ chức như các công đoàn, các Đảng Xã hội mỗi nước để kiến tạo một lực lượng quốc tế mỗi ngày một lớn mạnh có đủ sức mạnh đương đầu, đấu tranh trực diện với giới chủ tư bản siêu quốc gia. Các công đoàn có nhiệm vụ đấu tranh kinh tế, chống áp bức bóc lột, giành quyền lợi kinh tế cho giới cần lao. Các Đảng Xã hội (les parties socialistes, socialist parties) có nhiệm vụ đấu tranh chính trị, đòi công bằng xã hội và các quyền tự do dân chủ. Đến một lúc nào đó, cuộc đấu tranh trên hai mặt trận (kinh tế và chính trị) này đòi hỏi các Đảng Xã hội phải thay đổi tôn chỉ, trở thành các đảng Dân chủ Xã hội, có tư cách các phân bộ của một tổ chức duy nhất là Đệ nhị Quốc tế, tỷ như Đảng Xã hội Pháp còn mang tên là SFIO (‘Phân bộ Pháp của Công nhân Quốc tế’), hay như – cho tới năm 1919 – Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga (PSDOR, cánh Bôn-sê-vích) do Lenin thủ lãnh vẫn là một phân bộ của Đệ nhị Quốc tế. Năm 1919, Lenin đổi tên Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga (cánh Bôn-sê-vích) thành Đảng Cộng sản (Bôn-sê-vích) Toàn Nga, đồng thời thành lập Quốc tế Cộng sản (hay Đệ tam Quốc tế) gồm những người thuộc phái Bôn-sê-vích và những người đã li khai các đảng Dân chủ - Xã Hội các nước. Tuy nhiên, đến năm 1921, sau một cuộc nội chiến kéo dài ba năm và nền kinh tế kiệt quệ, Lenin đã quay trở lại một hình thức kinh tế tư bản giới hạn bằng “Chính sách Kinh tế Mới” (NEP) mà nếu phân tích kỹ, có thể coi nó như một biểu hiện của Chủ nghĩa Dân chủ - Xã hội.

    Cũng cần nhắc lại là trước khi mất, Lenin đã để lại di chúc nói rõ Stalin là con người tàn bạo, cần phải kiếm người khác thay thế. Năm 1924, sau khi thâu tóm được quyền bính, Stalin đã mượn danh Marx ghép với tên Lenin để đặt tên cho chủ nghĩa của mình. Cái gọi là “chủ nghĩa Marx-Lenin” chính là và chỉ là chủ nghĩa Stalin. Chính những người Mác-xít theo Lenin khi trước đã chống lại cái chủ nghĩa giả hiệu này vì thấy rõ đó chỉ là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước tập trung mọi quyền hành trong tay một nhóm người. Tất nhiên là những người chống đối kia đều bị thanh trừng. Tất cả những gì Lenin đã làm đều lần lần bị Stalin dẹp bỏ: Stalin gọi ‘Komintern’ (cách gọi tắt của Quốc tế Cộng sản) là một “cửa tiệm”, biến Komintern thành một thiết chế chỉ có nhiệm vụ kiểm soát và thanh trừng các lãnh tụ cộng sản nước ngoài bị nghi ngờ là không phục tùng mình. Cái “cửa tiệm” này cũng bị dẹp luôn năm 1943. Chính sách NEP của Lenin bị chính thức bãi bỏ từ năm 1928. Chế độ bao cấp phát phiếu được tái lập.

    Các chế độ cộng sản ở Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam đều chỉ là những biến thái của chế độ Stalin; cho tới ngày nay những chế độ này vẫn luôn luôn hãnh diện là đang ngoan cường kiên trì theo chủ nghĩa Marx-Lenin tức chủ nghĩa Stalin.


    Các nền Dân chủ - Xã hội ở các nước Tây Âu là thừa kế chính thống Marx-Engels

    Nói là “thừa kế chính thống”, vì chính Engels đã sáng lập ra các đảng Dân chủ - Xã hội.

    Có thể coi cương lĩnh của Chủ nghĩa Dân chủ - Xã hội là bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Cách mạng Pháp năm 1879. “Nhân quyền” này phải được hiểu theo nghĩa rộng là nhu cầu căn bản về vật chất và tinh thần của mỗi con người phải được bảo đảm.

    Chính Engels, trước khi mất năm 1895, trong “Lời tựa” lần tái bản cuốn Đấu tranh giai cấp ở Pháp của Marx, sau khi phân tích những hình thức đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân từ 1848 đến 1871 đã nhấn mạnh là cần phải thay đổi cách đấu tranh vì thời đại đã thay đổi: các tập đoàn tư bản, các công đoàn và các đảng công nhân đều phát triển ngang tầm nhau, không thể tiếp tục đấu tranh một mất một còn được. Từ đó các đảng Dân chủ Xã hội đã lần lần từ bỏ chủ trương đấu tranh bạo động để đi theo con đường tranh đấu ôn hoà từng bước một:

    Về mặt xã hội, tập hợp công nhân trong những tổ chức, những công đoàn có đủ sức mạnh bắt buộc giới chủ nhân phải chấp thuận những yêu cầu lương bổng, điều kiện làm việc của mỗi người công nhân và những cải thiện đó phải được bảo đảm bởi những công ước tập thể.

    Về mặt chính trị, các đảng Dân chủ - Xã hội chấp nhận thể chế đại nghị, cử đại diện của mình thông qua bầu cử, kể cả ở những cấp bậc thấp nhất. Và nếu giành được đa số trong quốc hội thì sẽ trực tiếp nắm quyền chính trị. Còn nếu không thì cũng sẽ làm áp lực để cải tổ các cơ chế xã hội, chính sách đóng góp chi thu, chính sách thu thuế theo lũy tiến để phân phối lại lợi tức một cách công bằng hơn, thông qua các hình thức trợ cấp, giảm thuế, miễn chi phí cho những tầng lớp cần lao. Nhờ vậy mà chênh lệch giầu nghèo trong các chế độ Dân chủ - Xã hội không quá lớn, mặc dầu thể chế không hề bãi bỏ tự do kinh doanh. Trong những chế độ này, vai trò của Nhà nước – làm trọng tài xã hội, giám sát thị trường kinh tế, truy thu và phân phối lợi tức qua thuế má – cũng rất quan trọng.

    Sau Hội nghị Bad Godesberg năm 1959, Đảng Dân chủ - Xã hội Đức (SPD) đã thông qua Cương lĩnh Godesberg nổi tiếng, chính thức từ bỏ tư tưởng kinh tế chính trị Mác-xít đã quá lỗi thời.
    [3] Đa số các đảng Dân chủ - Xã hội Âu Tây cũng đã theo gương, cắt đứt lần lần mọi ràng buộc với tư tưởng kinh tế thuần Marx. Vả lại xã hội cũng trở thành phức tạp với nhiều thành phần, nhiều lobbies chống đối nhau chứ không phải chỉ có hai giai cấp như hồi tiền tư bản và chủ nghĩa tư bản giai đoạn đầu. Vì vậy các đảng Dân chủ - Xã hội lần lần trở thành đảng trọng tài của mọi tầng lớp nhân dân chứ không phải chỉ là đảng của giai cấp thợ thuyền. Có thể nói bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX, ý tưởng Dân chủ - Xã hội là động cơ của những cải cách ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, cũng như ở Nhật Bản và Úc... Các thể chế Dân chủ - Xã hội này cũng chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết Keynes, dành cho nhà nước quyền can thiệp tạm thời về kinh tế để điều chỉnh những cực đoan thái quá trong kinh tế thị trường tự do.

    Nếu các vị tiến sĩ trong Ban Tuyên giáo Trung ương chịu khó đọc lại Marx, Engels, Keynes..., vứt bỏ được những gì các vị đã học thuộc lòng về “chủ nghĩa Marx-Lenin” của Stalin qua những “kinh điển” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, thì các vị có thể trở về với học thuyết Marx-Engels chính thống để, không những không phản bội Marx, mà còn mang lại phúc đức cho đất nước Việt Nam. Đi theo con đường Dân chủ - Xã hội, tên Đảng sẽ là Đảng Dân chủ - Xã hội Việt Nam, làm thoả vong linh Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ đã bị Lê Duẩn bức tử khi trước. Đảng Dân chủ - Xã hội Việt Nam sẽ hoàn toàn có cơ hội gia nhập Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (l’Internationale Socialiste) – liên minh toàn thế giới của các đảng Dân chủ Xã hội – để có thêm sự hậu thuẫn vô giá của phong trào Dân chủ Xã hội quốc tế, thoát khỏi nỗi tủi nhục từ bao lâu nay bị coi là một phân bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
    [4]

    Đây cũng là một cơ hội để có thể lấy lại tên nước: chỉ cần thay từ “Chủ nghĩa” trong quốc hiệu hiện nay bằng từ “Dân chủ”, tên nước sẽ là Cộng hoà Dân chủ Xã hội Việt Nam, đồng thời là sự “hoà giải” tên nước hợp pháp trước đây của miền Nam (Việt Nam Cộng hoà) với tên nước ban đầu của Hồ Chí Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà).


    © 2008 talawas

    [1]Rhénanie (tiếng Pháp), Rhineland (tiếng Anh) hay Rheinland (tiếng Đức) là tên gọi chung của phần lãnh thổ phía Tây nước Đức ngày nay nằm ở hai bên bờ sông Rhine (t. Đức Rhein). Đây là vùng đất có lịch sử địa hành chính và địa chính trị khá phức tạp. Trước thế kỷ XIX, các lãnh địa nằm trong vùng này chịu ít nhiều ảnh hưởng của Pháp. Sau khi đế chế của Napoléon tan rã (1815), các lãnh địa nói tiếng Đức trong vùng này được sáp nhập vào Vương quốc Phổ. Các thành phố Trier (quê hương của K. Marx) và Barmen (quê hương của F. Engels) đều nằm trong vùng này. (Các chú thích đều của talawas.)
    [2]Có vẻ như Engels chưa bao giờ kết hôn. Ông lần lượt yêu và chung sống với hai chị em nhà Burns, người Ireland, là Mary (chết năm 1863) và Lydia (hay Lizzy, 1827–1878). Sau khi chuyển từ Manchester (nơi có công xưởng của cha mình) đến sống ở London (từ 1870 cho đến lúc chết, 1895), Engels thường nói về Lizzy Burns như là vợ ông.
    [3]Hội nghị Bad Godesberg (Bad Godesberg Convention): Một hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng Dân chủ - Xã hội Đức (tiếng Đức Sozialdemokratische Partei Deutschlands – SPD) nhóm họp vào tháng Mười Một năm 1959 tại Bad Godesberg, một quận của thành phố Bonn, khi đó đang là thủ đô của Cộng hoà Liên bang Đức trong điều kiện nước Đức đang bị chia cắt. Trong hội nghị lịch sử này, các đại biểu của SPD đã thông qua Cương lĩnh Godesberg (tiếng Đức Godesberger Programm), vào ngày 15.11.1959, thẳng thừng từ bỏ toàn bộ các nguyên lý Marxist đã từng là ý thức hệ của đảng này. Trong quá trình tái thống nhất nước Đức, SPD đã sáp nhập với Đảng Dân chủ - Xã hội tái lập của Đông Đức, đồng thời thay thế Cương lĩnh Godesberg bằng Cương lĩnh Berlin, thông qua ngày 20.12.1989 tại một đại hội của đảng.
    [4]Có thể lưu ý thêm tác giả Phong Uyên và độc giả talawas rằng ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay cũng đang “thám hiểm” con đường Dân chủ - Xã hội như một lộ trình tới tương lai của Trung Quốc. Hãy tham khảo bài báo “Lộ trình Hồ Cẩm Đào tới tương lai của Trung Quốc”, đã đăng trên talawas, của Giáo sư Khoa học Chính trị Đại học Nottingham Trịnh Vĩnh Niên.
     
     
     
     
     
    May 09

    Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008

     

    Điểm nhấn:

    “Tất cả các thành viên của Liên Hiệp Quốc phải tôn trọng tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Việt Nam, nước nay là thành viên của Hội đồng Bảo an, cần phải nêu ví dụ trong lĩnh vực này nhưng không phải ví dụ về những nước tệ nhất”. (Elaine Pearson, Human Rights Watch. Nguồn : BBC)

      “It is a travesty that Vietnam has been allowed to host a major international Buddhist celebration while its state policy is political control of every religious organization –Vietnam continues to systematically imprison and persecute independent Buddhists as well as followers of other religions,” said Elaine Pearson, deputy Asia director at Human Rights Watch. “All members of the United Nations must respect freedom of religious belief and worship. Vietnam, now a member of the Security Council, should be exemplary – not among the worst – in this regard.”  (Elaine Pearson, Human Rights Watch)

     

    Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008

    Ngày Nhân quyền cho Việt Nam lần thứ 14 vừa được cử hành trọng thể hôm qua tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ với sự tham dự đông đảo của những nhà lập pháp Mỹ và đại diện các cộng đồng Việt Nam cùng những tổ chức vận động cho các quyền tự do cơ bản của người dân tại Việt Nam. Sau đây là tường thuật của Phái viên Lê Dân .

    Ngày Nhân quyền cho Việt Nam phát xuất từ Nghị quyết của Quốc hội Hoa Kỳ và được nguyên Tổng thống Bill Clinton ký thành sắc luật mang số 103- 258 vào ngày 25 tháng Năm năm 1994.

    Sắc luật quy định rằng ngày 11 tháng Năm năm 1994 được đặt làm “Ngày Nhân quyền cho Việt Nam” nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực của Phong trào Bất bạo động đấu tranh cho Nhân quyền tại Việt Nam. Tổng thống Hoa Kỳ cho phép và yêu cầu ra tuyên cáo kêu gọi dân chúng Mỹ hàng năm tổ chức kỷ niệm với những hoạt động thích hợp.

    Năm nay, lễ kỷ niệm lần thứ 14 được tổ chức được sự bảo trợ của rất đông các nhà lập pháp Hoa Kỳ như các thượng nghị sĩ Sam Brownback và Barbara Boxer, các dân biểu Tom Davis, Zoe Lofgren, Jim Moran, Chris Smith, Ed Royce, Loretta Sanchez...

    Ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ AFL-CIO, Hàn lâm viện Khoa học Mỹ, Viện Hỗ trợ Dân chủ Hoa Kỳ… cùng một số các tổ chức của những nước láng giềng với Việt Nam như Sáng hội Nghiên cứu Lao Cải Trung Quốc, Liên đoàn Miến Điện, Phong trào Dân chủ Lào Lansang, Hội Phật giáo Cambodia… và các cộng đồng, hội đoàn người Việt ở khắp nước Mỹ và trên thế giới.

    Những năm trước, về phía Việt Nam vẫn có sự tham dự đông đảo của các nhân vật và tổ chức nặng lòng với đồng bào trong nước như Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản, Ủy ban Bảo vệ Nhân quyền Việt Nam....Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân cho hay năm nay lễ kỷ niệm có một số mặt được thay đổi theo chiều hướng tích cực.

    Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân nói: “Lễ kỷ niệm lần thứ 14 Ngày Nhân quyền năm nay có một số điểm đặc biệt. Đó là lần thứ nhất các anh em trẻ đứng ra nhận lãnh trách nhiệm tổ chức, nên chúng tôi trở thành những người ủng hộ và dứng ra yểm trợ cho các em trẻ thôi. Cái thứ hai là lần đầu tiên bộ Ngoại giao có cử đại diện chính thức của họ đến phát biểu ý kiến và ngồi vào thuyết trình đoàn trong cuộc hội thảo buổi chiều về vấn đề dân chủ và nhân quyền tại Á châu. Thứ ba, là cũng lần đầu tiên có những phái đoàn Tây Tạng, Pháp luân công, Miến Điện, phái đoàn Trung Hoa, phái đoàn Lào đến tham dự.

    Trưởng ban Tổ chức lễ kỷ niệm năm nay là một người trẻ, bác sĩ Nguyễn Thể Bình.

    Bác sĩ Bình nói: “Hôm nay là ngày mùng 8 tháng Năm, tổ chức lần thứ 14 Ngày Nhân quyền cho Việt Nam. Đây là một ngày rất quan trọng, được nước Mỹ công nhận, được Tổng thống Clinton công nhận vào năm 1994. Tới nay, hàng năm chúng ta đều tổ chức ngày lễ này rất long trọng. Đặc biệt năm nay có các anh em trẻ đứng ra tổ chức và được sự ủng hộ rất nồng nhiệt của các cộng đồng Việt Nam.”
     
    Ngày Nhân quyền Việt Nam năm 2008 được tổ chức làm hai phần. Buổi sáng là lễ kỷ niệm diễn ra tại tòa nhà Russell của Thượng viện Mỹ, với những bài phát biểu của thượng nghị sĩ Sam Brownback, các dân biểu Zoe Lofgren, Ed Royce, Chris Smith, Frank Wolf, các đại diện tổ chức, đoàn thể quốc tế và Việt Nam.
     
    Buổi chiều là phần hội thảo, tổ chức tại tòa nhà Rayburn của Hạ viện Mỹ với phần phát biểu của dân biểu Tom Davis. Được đặc biệt chú ý là phần thảo luận của ông Michael Orona, đại diện bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa viếng thăm và làm việc với chính phủ Việt Nam về nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo. Kế đến là phần tham luận của bà Sophie Richardson, đại diện Human Rights Watch, ông T. Kumar đại diện Amnesty International, ông Scott Flipse đại diện Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế, và nhiều tham luận viên khác.

    Bên lề buổi lễ, trả lời phỏng vấn của báo chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua và các triển vọng cho năm tới, dân biểu Chris Smith khẳng định là nhà cầm quyền Việt Nam không thể cứ tiếp tục các hành động vi phạm quyền con người mà không phải chịu hậu quả gì.

    Dân biểu Chris Smith nói “Những người bị Hà Nội giam cầm, kết án vừa qua, chỉ là những người yêu chuộng dân chủ và muốn bảo vệ nhân quyền.
    Ông nhận định: “Vậy mà nhà cầm quyền cho họ là chống lại nước Việt Nam. Tôi muốn khẳng định ngược lại, họ yêu đất nước họ. Họ yêu vô cùng và họ muốn mọi người được hưởng những gì mà mọi công dân khác trên thế giới được hưởng, như tự do và dân chủ. Thế nhưng không may là chính phủ lại không cho phép họ làm như vậy"

    Điểm được chú ý nhiều nhất tại lễ kỷ niệm Ngày Nhân quyền Việt Nam 2008 là sự tham dự của nhiều người trẻ. Một phụ nữ đến từ Canada là bác sĩ Kim Ngọc.

    Bác sĩ Kim Ngọc nói: “Tôi tên là Ngô thị Kim Ngọc, là bác sĩ tại Toronto.  Hôm nay tôi và gia đình đến góp phần cho Ngày Nhân quyền cho Việt Nam. Tôi mới tốt nghiệp năm 2007.

    Phái viên Lê Dân: “Cô còn rất trẻ, lý do nào thúc đẩy cô đến với Ngày Nhân quyền cho Việt Nam ?”

    Bác sĩ Kim Ngoc nói: “Lý do thúc đẩy là vì tôi rất được may mắn sinh ra tại Canada. Từ bé tới lớn, lúc nào tôi cũng có tự do, nhân quyền. Những vấn đề đó đối với tôi từ bé không cần phải suy nghĩ đến. Sau này lớn lên mới biết được là ở bên Việt Nam có rất nhiều người từ ngày sinh đã không có được nhân quyền, tự do. Suy nghĩ như thế nào, từ vấn đề nhỏ, cho tới vấn đề lớn, vẫn phải cẩn thận, không được ăn nói tự do, nên tôi cảm thấy cái đó rất là không công bằng.”

    Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, chủ tịch Ủy ban Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản đã phát biểu về triển vọng của nhân quyền, tức các quyền tự do cơ bản của con người, và những nỗ lực đấu tranh đòi dân chủ, tự do trong nước,

    Bác sĩ Quân nói: “Phó Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương trong chuyến đến thăm bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã khẳng định, thứ nhất là chính phủ Mỹ không chấp nhận dân chủ từ ngoài đưa vào, dĩ nhiên chắc chắn là không có chuyện đó. Thứ hai là họ cũng không chấp nhận dân chủ từ trên đưa xuống, có nghĩa là dân chủ giả tạo do chính quyền dựng ra. Họ nói là tất cả mọi sự đòi hỏi phải xuất phát từ dân chúng.”

    VOA

    May 04

    Nhận định của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam

     

    Nhận định của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    2008-05-03

    Phúc trình thường niên của Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế USCIRF công bố sáng 2/5/2008 tại Washington DC đề nghị đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC. Nguyên do vì sao? Quan điểm của Ủy ban này về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam hiện nay như thế nào?

    Nghe audio ở đây.

    Felice-Gaer-200Nguyen-Van-Ly-250

    Bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc USCIRF. Photo do bà Gaer cung cấp. Linh mục Nguyễn Văn Lý tại phiên toà án xét xử ở Thừa Thiên Huế, hôm 30-3-2007. AFP PHOTO .

    Trà Mi có cuộc trao đổi với bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc USCIRF, người từng 2 lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch và 2 lần làm Phó Chủ tịch của Ủy ban này. Bà Gaer nhấn mạnh:

    Bà Felice Gaer: Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế đề nghị nên tái tục việc đưa tên Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần được đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo, tức danh sách CPC. Chúng tôi nhận thấy tình hình tự do tôn giáo tại đây thật sự không ổn định.

    Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 10 năm ngoái, phái đoàn Ủy ban chúng tôi ghi nhận rằng Hà Nội vẫn còn giam cầm nhiều tù nhân tôn giáo, giới chức địa phương vẫn áp dụng các biện pháp phân biệt và cấm cản một cách bất hợp lý và xâm phạm đến tự do cá nhân của công dân.

    Ngoài ra, chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm trước sự đàn áp mạnh tay của nhà nước Việt Nam đối với những ai tranh đấu cho nhân quyền và cổ võ quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, và tự do tôn giáo.

    Đi ngược với các cam kết quốc tế

    Trà Mi: Xin bà cho biết thông điệp chính của đề nghị này là gì và việc đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo CPC sẽ giúp ích như thế nào đối với hiện tình tại Việt Nam?

    Bà Felice Gaer: Chúng tôi cho rằng vạch trần sự thật và tiếp tục gây áp lực lên chính phủ Việt Nam là điều rất quan trọng để giúp cải thiện tình hình tại đây. Thật không thể tưởng tượng nổi là ngay sau khi Hà Nội được bỏ tên ra khỏi danh sách CPC và trở thành hội viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, thì họ lập tức quay lại đàn áp các lãnh tụ tôn giáo, các nhà dân chủ, đồng thời thực hiện hàng loạt các hành động đi ngược lại với những gì đã cam kết.

    Trà Mi: Nhưng Việt Nam phản biện rằng không có ai bị bắt bớ hay tù đày vì thực hành nhân quyền hay quyền tự do tôn giáo, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật mới bị trừng trị mà thôi. Vậy theo bà, giải pháp nào cho sự khác biệt về quan điểm giữa Hà Nội và các lực lượng bảo vệ nhân quyền?

    Bà Felice Gaer: Trước tiên, chúng tôi xác định tối thiểu có ít nhất 23 tù nhân tôn giáo cần quan tâm tại Việt Nam hiện nay. Hơn thế nữa, chúng tôi nhận thấy có gút mắc trong khái niệm của nhà nước Việt Nam về tù nhân lương tâm.

    Cần hiểu rõ thế nào là các nhân quyền căn bản của công dân, đó là điều hết sức quan trọng. Những người như linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, các tù nhân tín đồ Hoà Hảo, Cao Đài, cộng đồng Phật giáo người Khơme, các lãnh tụ tôn giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, v.v.. thật ra họ bị giam cầm vì những lý do liên quan đến niềm tin tín ngưỡng cũng như quan điểm về nhân quyền và tự do tôn giáo mà thôi.

    Nhà nước Việt Nam nên chấm dứt ngay việc tù đày hoặc quản thúc tại gia đối với những người này vì họ đã bị bắt bớ phi pháp, nhân quyền của họ bị chà đạp bởi các phiên toà bất công, vô lý.

    Luật pháp không phải là công cụ để đàn áp

    Trà Mi: Đó là quan điểm của các tổ chức bảo vệ nhân quyền, thế nhưng, dưới cái nhìn của chính quyền Hà Nội, những người này là những thành phần vi phạm pháp luật. Làm cách nào có thể thu hẹp sự khác biệt về quan điểm trong lĩnh vực này, thưa bà?

    Bà Felice Gaer: Vậy thì chúng ta cần phải nhìn lại chính cái luật pháp ấy. Luật mà không cho phép người dân thực hành các quyền con người căn bản được cả thế giới công nhận thì chính cái luật ấy đã có vấn đề.

    Khi nói những người này vi phạm pháp luật, họ nên nhìn lại chính cái pháp luật của họ đặt ra như thế nào. Họ phải xem dân như con người, với đầy đủ các nhân quyền căn bản.

    Luật pháp không phải là công cụ để đàn áp, mà là phương tiện để duy trì trật tự xã hội và bảo đảm người dân sống trên mức tiêu chuẩn cơ bản chứ không phải dưới mức tiêu chuẩn cơ bản.

    Trà Mi: Sau các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên giữa Washington và Hà Nội, có những tiến bộ hay trì trệ gì đáng lưu ý hay không, thưa bà?

    Bà Felice Gaer: Ngài đại sứ Mỹ tại Việt Nam đã nói đây là một ví dụ thành công nhất trong nhiệm kỳ của ông, rằng kết quả không phải từ các cuộc đối thoại song phương mà từ các thỏa thuận ràng buộc đạt được là những sự cải thiện lớn nhất mà ông đã từng thấy.

    Rõ ràng Hà Nội có cải thiện nhưng theo quan điểm của Ủy ban chúng tôi là những biện pháp mà nhà nước Việt Nam áp dụng là không đúng đắn và hiện giờ vẫn còn quá sớm để công bố rằng chính phủ Hà Nội nghiêm chỉnh tôn trọng tự do tôn giáo, ngược lại, họ vẫn duy trì sự kềm kẹp chặt chẽ đối với các cộng đồng tôn giáo khác nhau trong nước.

    Những gì chúng tôi chứng kiến trong chuyến đi thực tế Việt Nam vừa rồi cho thấy họ vẫn kiểm soát nghiêm ngặt sự tự do và các quyền căn bản của người dân. Chẳng hạn như những người chúng tôi có dịp tiếp xúc để hỏi chuyện, tất cả họ đều bị chính quyền cảnh cáo trước khi đi gặp chúng tôi, bị đe doạ, rồi bị công an thẩm vấn, sách nhiễu sau khi gặp chúng tôi.

    Mặc dù chúng tôi rất cảm kích chính quyền Việt Nam vì họ đã cho phép chúng tôi thực hiện chuyến thăm này, nhưng chúng tôi mong muốn nhìn thấy nhiều sự tiến bộ đáng kể hơn nữa.

    Điều trần về Nhân quyền ở Việt Nam

    Trà Mi: Tuần tới tại Quốc hội Mỹ sẽ diễn ra buổi điều trần về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Thông điệp mà Ủy ban sẽ mang tới nhân dịp này là gì, có những điểm nào đáng chú ý mà bà muốn chia sẻ bây giờ không?

    Bà Felice Gaer: Chúng tôi dự định sẽ nêu lên nhiều điều, rằng tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn còn nhập nhằng. Có biểu hiện dễ thở đối với một vài cộng đồng tôn giáo nhưng nhiều nơi lại vẫn tiếp tục bị khó khăn như trước. Luật nhà nước không được thực thi nghiêm túc tại các cấp địa phương.

    Hiện vẫn còn quá nhiều vi phạm và hạn chế quyền tự do tôn giáo, đặc biệt là việc cầm tù công dân với các lý do có liên quan đến hoạt động tôn giáo hay cổ võ tự do tôn giáo, và tranh đấu cho nhân quyền.

    Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới nơi mà nhà nước có quyền cho phép hay cấm đoán quyền tự do của người dân.

    Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn bà Felice Gaer, Ủy viên Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

    (Trên đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Trà Mi với bà Felice Gaer, Ủy viên thuộc Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế. Phần chuyển ngữ lời bà Felice Gaer do Thy Nga trình bày).

    May 03

    Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC

     

    Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC

    Nhã Trân, phóng viên đài RFA

     
    2008-05-02

    Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ hôm thứ Sáu công bố phúc trình về tình hình tôn giáo trên toàn thế giới năm 2008 và kiến nghị Ngoại trưởng Condoleeza Rice về vấn đề các quốc gia cần quan tâm đặc biệt.

       boomp3.com

    nghe audio ở đây.

    Trong phần nói về Việt Nam, đưa ra tại cuộc họp báo ngày 2 tháng 5 ở Washington, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ cho biết tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam năm qua vẫn tệ hại. Số tín đồ bị trù dập tuy có giảm nhưng các hành động sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm, và phạt vẫn thường xuyên diễn ra, cho thấy nhà cầm quyền tiếp tục giới hạn tự do tôn giáo của dân chúng.

    JohnHanfordVnReligious200LorettaSanchezChrisSmith305

    Đặc sứ John Hanford trình bày trước tiểu ban nhân quyền Hạ Viện về vấn đề tự do tín ngưỡng ở Việt Nam hôm thứ Năm 6-12-2007.  / Dân biểu Loretta Sanchez và Dân biểu Chris Smith tại buổi điều trần “Những mối quan tâm về tình trạng Nhân quyền ở Việt Nam” ở Hạ viện Mỹ chiều thứ Ba hôm 6-11-2007. Photo RFA/ Thanh Truc.

    Gặp nhiều khó khăn

    Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ cho hay các tôn giáo trong năm rồi đã gặp nhiều khó khăn. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục bị trù dập và bị lên án là một tổ chức chính trị. Các quyền tự do di chuyển, bày tỏ ý kiến, hội họp vẫn bị giới hạn. Tăng ni và những người có liên hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị công an thường xuyên sách nhiễu và điều tra lấy cung. 12 tu sĩ lãnh đạo của giáo hội vẫn còn bị đặt trong tình trạng quản chế.

    Hà Nội cũng tiếp tục cấm đoán và gây cản trở cho các hoạt động tôn giáo của những giáo phái khác như Cao Đài, Hoà Hảo, các nhóm Phật Giáo Khmer tại vùng ĐBSCL. Nhà cầm quyền ra sức điều khiển, kiểm soát các buổi tế tự, cầu kinh, và quyết định việc lựa chọn thành phần lãnh đạo của đạo Cao Đài; theo dõi, thẩm vấn và bắt giam các nhà sư người Khmer khi họ có các cuộc phản đối ôn hoà tại Cambodia cũng như Việt Nam, và kềm hãm sự truyền bá ngôn ngữ, văn hoá của họ; tuyên án nhiều năm tù đối với những tín đồ Hoà Hảo tuyệt thực bất bạo động để bày tỏ bất mãn trước sự đàn áp của chính quyền và việc bắt giữ một số tín hữu từ năm 2005.

    Chính quyền Việt Nam, theo nhận định của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, đã đặt ra những luật lệ nhằm giới hạn hoạt động của các tôn giáo. Việc tế tự, nghi lễ phải đựơc các quan chức cho phép, phải mất nhiều thời gian mới được thông qua và nếu bị từ chối sẽ không được tái cứu xét. Chính quyền địa phương thường có những yêu sách gây khó dễ như đòi phải có danh sách của tín đồ, tuy điều này không hề có trong luật định.

    Luật buộc đăng ký bị áp dụng sai lạc, và nhiều nhóm tôn giáo bị từ chối không được hoạt động, như các nhóm Cao Đài, Hoà Hảo, Mennonite, Baptist, Tin Lành ở vùng ĐBSCL, Tây Nguyên và các tỉnh phía Tây Bắc. Có những làng theo đạo Tin Lành bị đối xử phân biệt, không được hưởng các qui chế về y tế, nhà cửa, giáo dục và các trợ giúp của quốc tế, đồng thời chính quyền đe doạ cắt mọi phúc lợi xã hội nếu cha mẹ không khuyên con cái bỏ đạo.

    Trước các tố giác của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ,bà Ngô Thị Hiền, Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam, trụ sở tại Mỹ, có nhận định rằng: Chúng tôi nhận thấy những nhận xét của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế rất là chính xác. Tôn giáo tại Việt Nam đang bị đàn áp.

    Thiếu tính minh bạch và độc lập

    Sau khi nhận định về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong năm 2007, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ kết luận rằng Hà Nội đã không giữ các cam kết về tôn trọng quyền tự do tôn giáo, còn hệ thống luật pháp, bộ máy tư pháp của Việt Nam thì thiếu tính minh bạch và độc lập.

    Dựa trên những bằng chứng vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa kỳ yêu cầu chính phủ Mỹ có thái độ đối với nhà cầm quyền Hà Nội.

    Chính quyền Bush được thúc giục đòi nhà cầm quyền Việt Nam cải thiện tức khắc để chấm dứt mọi sự trù dập đàn áp, giảm bớt các giới hạn về hoạt động của các giáo phái. Washington phải cho Hà Nội hiểu rõ rằng tôn trọng tự do tôn giáo là điều thiết yếu trong việc phát triển bang giao giữa hai nước. Nhà cầm quyền Hà Nội phải sửa đổi các sắc luật về tôn giáo, ban hành từ năm 2004, để chính sách về tôn giáo của Việt Nam theo đúng tinh thần, mẫu mực của quốc tế, kết thúc sự lạm dụng của giới chức địa phương trong việc đàn áp tôn giáo.

    Các yêu cầu chính yếu

    Các yêu cầu chính yếu của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ gồm việc đòi Hà Nội trả tự do cho mọi tù nhân tôn giáo: Đại lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, Đức Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phan Văn Lợi, tín đồ các đạo Cao Đài, Hoà Hảo, các nhóm sắc tộc thiểu số vùng Tây Nguyên và các tỉnhTây Bắc, các sư sãi Phật Giáo Khmer, và các tù nhân lương tâm như Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân.

    Washington cũng được kêu gọi giúp đỡ Hà Nội phát triển sự bảo vệ quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam, bằng cách thực thi những chính sách thích hợp như tiến hành chương trình phát triển các nhóm sắc tộc thiểu số, lâu nay bị đàn áp về tôn giáo và bị tước đoạt đất đai; tái phân bổ một số tài trợ cho các chương trình xã hội.

    Bày tỏ quan điểm về kiến nghị của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam tại Mỹ, bà Ngô Thị Hiền, lên tiếng với Đài Á Châu Tự Do: Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ để đặt Việt Nam vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt, vì tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam không tiến triển đúng theo mức định như mọi người mong đợi.

    Nhã Trân tường trình từ Washington.

    Thông tin trên mạng:

    May 2, 2008: USCIRF Names 11 Countries of Particular Concern, Keeps Vietnam on List

    USCIRF 2008 Annual Report

     

    USCIRF thúc chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách “quan tâm đặc biệt”

    WASHINGTON DC. 2-5 (TH).- Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ (USCIRF) đốc thúc chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt” (CPC) vì các cuộc đàn áp hoặc giới hạn tự do tôn giáo vẫn diễn ra rất thường tại Việt Nam.

    Cuối năm 2006, chính phủ Mỹ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách này trước khi có cuộc hội nghị Thượng Ðình Diễn Ðàn Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (tháng 11, 2006) mở đường cho CSVN gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào đầu năm sau. Dịp này USCIRF đã khuyến cáo chính phủ không nên làm như vậy.

    USCIRF (U.S. Commission on International Religeous Freedom) là một tổ chức điều hành độc lập được thành lập theo một đạo luật, trong đó một nửa (5) thành viên do chính phủ và một nửa (5) thành viên do Quốc Hội đề cử. Hàng năm tổ chức này đưa ra các phúc trình và khuyến cáo cho chính phủ và quốc hội về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới.

    Việt Nam xứng đáng được cư xử như một nước vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng vì “có quá nhiều đàn áp và giới hạn quyền tự do tôn giáo” vẫn xảy ra dù chính phủ đã lấy tên (VN) ra khỏi danh sách CPC nhờ Hà Nội đưa ra một số chỉ thị lệch lạc cải cách chính sách đối với các tôn giáo, USCIRF nói trong bản phúc trình thường niên.

    “Bắt giữ, bỏ tù, phân biệt đối xử và các giới hạn khác tiếp tục, vi phạm quyền tự do tôn giáo vẫn được các viên chức nhà nước các địa phương cứng đầu thực hiện và được nhà cầm quyền trung ương khuyến khích đối với các lãnh tụ tôn giáo bị tình nghi là có mưu đồ chính trị.” Bản phúc trình của USCIRF gửi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Condoleezza Rice viết như vậy.

    Hồi cuối năm ngoái tin tức phổ biến trên VietCatholic News cho thấy nhà cầm quyền các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu vẫn cấm đạo Công Giáo. Linh mục bị cấm dâng thánh lễ trong khi tín đồ thì bị cấm theo đạo.

    Tại khu vực Tây Nguyên, Tổ Chức Người Thượng ở Hoa Kỳ, thường xuyên đưa ra các bản tường trình cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn cấm đoán các hội thánh Tin Lành tư gia hoạt động qua các vụ bắt giữ, đánh đập, bỏ tù. Dịp lễ Phục Sinh vừa qua, hàng ngàn người Thượng cũng đã biểu tình ở các buôn làng đòi quyền tự do tôn giáo bên cạnh chuyện đòi lại đất canh tác đã bị nhà nứơc cướp đoạt.

    Các giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy, Cao Ðài vẫn tiếp tục bị khủng bố dưới nhiều hình thức. Bản tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế thường đăng các bản tin thông báo các hành động khủng bố, đàn áp giáo hội này.

    Dù có các bằng chứng hiển nhiên như vậy, Tom Casey, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ nói rằng Hoa Thịnh Ðốn đang cùng với Hà Nội giải quyết các vấn đề còn tồn tại. Ông nói rằng: “Các hành động mà nhà cầm quyền CSVN thực hiện đã giải tỏa một số trong những điều chúng ta quan tâm cho nên họ không đáng được đưa trở lại danh sách CPC.”

    Trước bản phúc trình của USCIRF, Tòa đại sứ CSVN ở Hoa Thịnh Ðốn chưa đưa ra lời bình luận. Thông thường Hà Nội đều phủ nhận các cáo buộc liên quan đến tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền. Chế độ Hà Nội luôn luôn chối là không hề bỏ tù ai vì lý do tôn giáo hay chính trị.

    Bản phúc trình của USCIRF cũng khuyến cáo chính phủ nên cho vào danh sách CPC cả PakistanTurkmenistan.

    Trên nguyên tắc và theo luật, khi bị bỏ vào danh sách CPC, chính phủ Hoa Kỳ sẽ có các biện pháp chế tài, đặc biệt là giới hạn hoạt động thương mại, viện trợ. Tuy nhiên cho tới nay chưa thấy Hoa Thịnh Ðốn có hành động cụ thể nào với chuyện này.

    Hiện có 8 nước trên thế giới đang trong danh sách CPC là Trung Quốc, Eritrea, Iran, Myanmar, Bắc Hàn, Saudi Arabia, Sudan và Uzbekistan.

     

    Người Việt