CÔNG LÝ's profileTÒA KHÂM SỨ HÀ NỘI : BIỂ...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    March 22

    Tản mạn về một vài dụng ngữ có hai chữ “dân tộc”

     
    Tản mạn về một vài dụng ngữ có hai chữ “dân tộc”
     
    Phong Uyên
     
    Gần đây, khi đọc những bài tranh luận, khảo luận trên các diễn đàn tiếng Việt, tôi không khỏi ngạc nhiên trước việc một vài dụng ngữ vốn thường chỉ được dùng để đề cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam nay đã được dùng một cách bừa bãi trong mọi lãnh vực tôn giáo, văn hoá và lịch sử. Đó là những dụng ngữ bao gồm danh từ “dân tộc”. Ngoài ra, khái niệm “dân tộc Việt” đã trở nên mang tính chất hoàn toàn sô vanh và được biến thành một tiêu chuẩn duy nhất để định đoạt sự chính đáng của một tôn giáo, của một sự kiện lịch sử hay một khám phá lịch sử. Những dụng ngữ mà tôi cho là đang bị lạm dụng trong lãnh vực tôn giáo là “nằm trong lòng dân tộc”, “đồng hành với dân tộc”, còn trong lãnh vực khảo luận lịch sử - văn hoá là “dân tộc [Việt]”. Sau đây, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ của tôi xung quanh hiện tượng này.


    1. “Nằm trong lòng dân tộc”

    Nhiều tác giả muốn đề cao Phật giáo đã nhấn mạnh rằng Phật giáo luôn luôn “nằm trong lòng dân tộc”. Tôi lại có cái tự hào là người dân Việt Nam có tư tưởng phóng khoáng về tôn giáo hơn so với nhiều dân tộc khác, trong đó phải kể đến các dân tộc Tây phương thời trung cổ hay đa số các dân tộc theo Hồi giáo thời nay: mọi tín ngưỡng đều được chấp nhận và sống hài hoà trong lòng xã hội người Việt. Một trong những thí dụ tiêu biểu là đạo Cao Đài. Trong lịch sử người Việt cũng chưa từng có chiến tranh tôn giáo, chưa từng có thánh chiến. Ngay cả trong thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo là các triều đại Lý, Trần, các vua chúa cũng không vì thế mà áp đặt đạo Phật thành một quốc giáo (religion d’état). Các vị vua đều tách rời tôn giáo với chính trị, và chỉ khi đã từ bỏ ngôi vị của mình mới xuất gia nương mình nơi cửa Phật. Vả lại Phật giáo cũng không có mục đích chinh phục “lòng” mỗi dân tộc hay tâm tình mỗi hạng người nào mà chỉ có một tôn chỉ là giác ngộ mọi chúng sinh.


    2. “Đồng hành với dân tộc”

    Dụng ngữ này mang nhiều màu sắc chính trị hơn và có ý muốn so sánh Phật giáo – vốn đã “đồng hành với dân tộc từ 2000 năm” qua – với Công giáo, là tôn giáo chỉ mới “đồng hành với dân tộc từ 27 năm nay” theo sự tính toán của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Như vậy, theo cách nói của Thủ tướng Dũng, “đồng hành với dân tộc” có nghĩa là đồng hành với chính quyền. Một tôn giáo như Công giáo hiện có 7–8 triệu tín đồ, vào Việt Nam đã gần 500 năm, không theo gót chân của kẻ chiếm đóng nào ngoài mấy giáo sĩ Bồ Đào Nha, đã đóng góp rất nhiều cho tư tưởng và văn hoá Việt Nam mà chỉ được một người đứng đầu giới chức coi là đồng hành cùng dân tộc trong một thời gian quá ngắn ngủi như vậy sao?

    Đứng về phương diện thuần tuý lịch sử, Phật giáo có thật sự đồng hành với dân tộc Việt từ 2000 năm trước không? “Từ 2000 năm trước” tức là từ khi Giao Chỉ còn là một quận của Nhà Hán và khi đạo Phật mới được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa; có thể do hoàn cảnh địa lý, Phật giáo đã tới Giao châu trước, tới lục địa Trung Quốc sau, nhưng nó đã mang tính chất Đại thừa đặc trưng của Trung Hoa ngay từ đầu. Mặc dầu trong số các vị cao tăng thời đó có thể có người gốc Giao Chỉ, song một điều không thể chối cãi được là Phật giáo ở đất Giao Chỉ thời đó là tôn giáo của kẻ thống trị, của người Trung Quốc, tương tự như Nho giáo. Trái lại, Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Tiểu thừa, được truyền vào các nước Á Đông khác như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam-bốt v.v... không thông qua một chính quyền chiếm đóng nào, có thể được coi là đồng hành với các dân tộc này ngay từ khởi đầu. Về phương diện lịch sử, nếu muốn nói cho thật chính xác thì phải nói rằng Phật giáo phiên bản Nhà Đường mới thật sự “đồng hành với dân tộc Việt Nam” từ thời Lý - Trần. Còn về phương diện tâm lý - ý thức dân tộc, “đồng hành với [một] dân tộc [nào đó]” là một khái niệm xa lạ với giáo lý nhà Phật. Từ bi hỉ xả không bao hàm ý nghĩa đồng hành với một dân tộc cụ thể nào.


    3. “Dân tộc Việt Nam”

    Đã xa rồi cái thời từ “nhân dân” là từ thông dụng nhất vì bao hàm ý nghĩa cách mạng xã hội và đấu tranh giai cấp, và để đề cao những tổ chức trực thuộc Đảng hay tổ chức ngoại vi của Đảng như Quân đội Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, v.v... Dụng ngữ “dân tộc Việt Nam” đã lần lần thay thế hai chữ “nhân dân” từ khi cuộc chiến tranh chống Mỹ được phát động, với mục đích tăng cường lòng ái quốc và ý chí thống nhất đất nước của mỗi người dân Việt. Thế rồi “dân tộc Việt Nam” trở thành một ý niệm mỗi ngày một lớn rộng, bao trùm lên các truyền thuyết, nền văn minh và đặc biệt là văn hoá chính trị của “chủng tộc” Việt Nam. Sau cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, dụng ngữ này còn mang thêm dụng ý đối lập với chủng tộc Trung Hoa và chối từ văn hoá Hán. Lấy tiêu chuẩn “chủng tộc” để đo lường mọi nhận định, một số nhà nghiên cứu về cổ sử Việt Nam đã không coi trọng tư duy khách quan và tư duy phân tích trong các khảo luận mà chỉ thiên về lập luận chủ quan. Đó là nhận xét chung của những độc giả như tôi, vốn quen đọc những bài khảo luận của nước ngoài.

    Để cụ thể hơn, tôi xin lấy làm thí dụ loạt bài “Những phát hiện chấn động mới đây của thiền sư Lê Mạnh Thát” đăng trên Thanh Niên Online những số gần đây:
    • Mậu Tử, người viết cuốn Lý hoặc Luận hồi thế kỷ thứ II (198), là người Việt Nam.
    • Tăng Khương Hội, người viết Lục độ tập kinh vào khoảng thế kỷ thứ II và truyền bá đạo Phật sang Tàu, là người Việt Nam.
    • Pháp sư Đạo Cao, người viết sáu lá thư gửi sứ quân Lý Miễu đất Giao châu vào thời Nam - Bắc triều Trung Quốc (435–440), là người Việt Nam.
    Tôi thì chỉ thấy sự kiện thiền sư Lê Mạnh Thát đã khám phá ra sáu lá thư của Đạo Cao là có thể được coi là một phát hiện. Những “phát hiện” mà ký giả Hoàng Hải Vân của báo Thanh Niên đề cao chỉ là những suy đoán, theo lô gích sau:
    • Không thấy tên tuổi lý lịch Đạo Cao trong số những tác giả người Tàu, người Nhật, người Triều Tiên thì tất nhiên Đạo Cao phải là người Việt Nam...
    • Vì lối viết tiếng Hán khác với lối viết của người Hán chính cống,Tăng Khương Hội, Mậu Tử phải là người Việt.
    • Đã là người Việt thì tất nhiên phải viết bằng tiếng Việt, trước khi dịch trước tác ra chữ Hán.
    Khẳng định: Chữ viết Việt đã có từ thời đó.

    Nhưng có một khẳng định khác, quan trọng và “chấn động” hơn cả là: sứ quân Lý Miễu chính là một vị vua Việt Nam.

    Đây mới thật là một suy luận phi thường vì từ những cái “không” đã sinh ra cái “có” là Lý Miễu: “toàn bộ những chức danh tương đương với sứ quân Trung Quốc cử sang cũng không có tên Lý Miễu, sử sách Việt Nam cũng không. Kết luận: Lý Miễu chính là một vị vua của Việt Nam” (!!!).

    Bắt đầu từ đây lập luận trở thành thuần túy chủ quan:
    • Có triều đại Lý Miễu thì không có chuyện Tàu đô hộ liên tục 1000 năm;
    • không có An Dương Vương cũng chẳng có Triệu Đà;
    • nhà nước Hùng vương “đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học...”
    Cách đây ít nhất là 3000 năm mà Việt Nam đã có một nhà nước như vậy thì trong lịch sử loài người chỉ có nhà nước Cổ Ai Cập mới có thể sánh ngang được. Trung Quốc mới lập quốc từ đời Nhà Hán nghĩa là mới 2000 năm còn thua xa Việt Nam!

    Tôi không hiểu vì sao trong thời buổi hội nhập này vẫn có người còn duy trì tư duy chủng tộc: cho tới bây giờ có ai biết đất Giao châu cách đây 2000 năm có những chủng tộc nào, và người Việt Nam thời nay liệu có cùng một chủng tộc với những bộ lạc Việt thời đó không? Thử so sánh người Việt cách đây 2000 năm với người Gaulois cùng thời dưới nền đô hộ La Mã: cách đây 1500 năm người Francs từ Đức qua xâm chiếm đất Gaulois và lập ra nước Pháp. Việc vua chúa Pháp có thuộc dòng dõi người Francs hoặc chủng Gaulois cổ hay không, và chủng tộc này còn hay mất, hay đã hoà trộn với các chủng tộc khác, chẳng có nhà sử học Pháp nào, dù sô vanh đến mấy, đặt vấn đề. Cũng vậy, việc Mậu Tử, Tăng Khương Hội, Đạo Cao là người gốc Hán hay gốc Bách Việt, hay gốc người Mường Cao Bằng - Bắc Kạn đâu có thành vấn đề, và cũng làm sao có thể hay biết? Một khi viết sách, viết kinh kệ bằng chữ Hán, theo lối Hán thì phải được coi như người Hán hay người theo văn hoá Hán. Chẳng ai đặt vấn đề triết gia Trần Đức Thảo là người Việt thì đương nhiên phải như Tăng Khương Hội, viết triết học bằng tiếng Việt trước khi dịch ra tiếng Pháp, và Trần Đức Thảo ngang tầm với Jean-Paul Sartre thì triết học Việt Nam cũng ngang tầm với triết học Pháp!

    Về các triều đại cũng vậy. Nếu chứng minh được rằng Triệu Đà tuy là người gốc Tàu (Tàu nào, vì lúc đó nào đã có nước Tàu?) nhưng sau khi chiếm được đất Âu Lạc đã tạo ra một nước Nam Việt để đương đầu với Trung Quốc của nhà Hán thì phải coi nhà Triệu không những là một triều đại Việt mà còn là một triều đại vẻ vang của nước Việt.

    Tôi xin kết luận bằng một nhận xét – đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều khi đọc những bài viết trong nước – là (đa số) trí thức Việt Nam rất giỏi về lí luận, nhưng hình như là thứ lí luận thiếu óc phân tích, thiếu cái nhìn các sự kiện một cách khách quan mà bao giờ cũng theo lập trường. Có lẽ vì từ trước tới nay lí luận về chính trị luôn luôn được đặt lên hàng đầu và được coi là đồng nghĩa với “lô gích” nên người trí thức trong nước – được đào tạo trong lòng chế độ – đã quen để phong cách lí luận chính trị xâm chiếm mọi lãnh vực, trong đó có khoa học lịch sử.


    © 2008 talawas
     
     
     
     
    24.3.2008
     
    Phong Uyên

    Trước hết, tôi xin cảm tạ ông Hoà Nguyễn đã dành cho tôi quá nhiều thiện cảm khi đánh giá cao tính cách khách quan những bài tôi viết trước đây. Trong bài “Tản mạn...”, tôi chỉ lặp lại những gì ký giả Hoàng Hải Vân đã viết về những khẳng định và những lập luận đi từ Lý Miễu đến An Dương Vương và Triệu Đà của tiến sĩ Lê Mạnh Thát. Ý kiến của tôi cũng chỉ phản ảnh những gì tôi đọc được qua bài phỏng vấn giáo sư Sử học đầu nghành Phan Huy Lê đăng trên báo Nhân dân ngày 14-3-08 và của nhiều vị nữa… nói về tiến sĩ Lê Mạnh Thát.

    Tôi cũng xin nhắc lại, trong bài “Tản mạn...” tôi chỉ muốn nói là ý niệm dân tộc đã trở thành tiêu chuẩn trong mọi lãnh vực chính trị, lịch sử, cũng như văn hoá để biến thành một chủ nghĩa đề cao dân tộc, nếu không nói là đề cao chủng tộc. Ðây là một ý niệm hoàn toàn sai lạc với lịch sử và không thích ứng với thời đại chúng ta đang sống, nếu không nói là nó đã từng đưa đến rất nhiều thảm hoạ cho nhân loại, từ Đức quốc xã của Hitler đến Panslavisme bị Staline tận dụng. Gần đây nhất có vụ diệt chủng Tutsi ở Rwanda, và có thể thảm hoạ diệt chủng Tây Tạng đang bắt đầu.

    Việc so sánh dân tộc Gaulois với dân tộc Việt thời Giao Chỉ có thể bị coi là đơn giản, nhưng mục đích của tôi là để chứng tỏ sự hình thành của một quốc gia không cần phải đi đôi với ý niệm dân tộc. Đất Gaule bị đặt dưới quyền thống trị của La Mã khoảng 500 năm cùng thời với đất Giao Chỉ dưới sự đô hộ của nhà Hán. Sau đó lại bị những bộ lạc Francs người Đức xâm chiếm, lập những triều đại dòng dõi người Francs và lập thành nước Pháp cho tới ngày nay. Lịch sử đất Gaule, thậm chí đến người anh hùng Gaulois Vercingétorix nổi lên đánh La Mã, được biết đến là nhờ César, người chinh phục đất Gaule (cùng thời Mã Viện đánh hai Bà Trưng), viết sách để lại. Không có sử gia Pháp nào mất công đi tìm người Gaulois có chữ viết thời đó không và dân tộc còn hay đã hoà lẫn với những chủng tộc khác. Nhưng không ai chối cãi việc có quốc gia Pháp là nhờ người Francs. Bởi vậy, trong sử học, không nên để tiêu chuẩn dân tộc và văn hoá dân tộc nguyên khởi lên hàng đầu; quan trọng là phải tìm hiểu bắt đầu từ thời nào có ý thức quốc gia và biết kiến tạo văn hoá từ những cái bị áp đặt hay tự đi tìm kiếm ở nơi khác văn minh hơn. Nhật Bản tự đi kiếm chữ viết, văn hoá Trung Quốc từ đời Đường, tự qua học Thiền đời Tống, để tạo ra đạo Phật Zen cho mình, trong khi đạo Phật của Việt Nam có gì khác biệt với Đại thừa của Tàu không? Đừng nên vì tự ái dân tộc hay vì óc tự tôn mà bịa ra những cái gì mình vốn dĩ không có.
     
     
    March 16

    Ý kiến độc giả : đừng đưa yếu tố xâm lăng, dân tộc, di sản quốc gia... vào trong vấn đề tế nhị này

     
    Điểm nhấn :
     
     
    Đức Dalai Lama tố giác một "cuộc diệt chủng văn hóa" của Cộng Sản Trung Quốc :
     
     
     
     (photo : AP, RFA)
     
     
     
     
     
    Hủ Tiếu Gõ

    Tôi là một độc giả đang thích thú theo dõi vụ việc Tòa Khâm sứ Hà Nội bấy lâu nay, và cũng bao quát được gần hết câu chuyện, tất nhiên cũng chỉ qua những tài liệu và quan điểm của các tác giả xa gần trên các trang mạng talawas, Viet Catholic.v.v... cung cấp.

    Liên quan đến bài viết của tác giả Lý Khôi Việt
    , không dám bàn đến những luận cứ về bằng chứng lịch sử, vì chúng đã và sẽ được các tác giả nghiên cứu và đưa ra để chứng minh cho các quan điểm của họ, tôi chỉ xin có một góp ý nhỏ về bài viết rất lớn - lớn ý, lớn tiếng, lớn tầm vóc - của tác giả: Rằng xin tác giả đừng đưa yếu tố xâm lăng, dân tộc, di sản quốc gia... vào trong vấn đề tế nhị này. Những chuyện đó, theo tôi, lớn lắm, thiêng liêng lắm... chứ không chỉ bị giới hạn bởi một miếng đất nhỏ xíu đang gây tranh cãi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà nghe đâu đã bị quý vị giới chức đã bán lấy tiền chia nhau bỏ túi này.

    Việc xử dụng những ý tứ, từ ngữ đao to búa lớn của tác giả không khéo sẽ gây khó cho chính quyền nhà nước. Bởi vì, nếu căn cứ trên những luận cứ này, một ngày đẹp trời nào đó sau khi miếng đất Toà Khâm Sứ được nhà nước trao trả (giả dụ cho phía Phật Giáo, là bên bị mất đất vì yếu tố xâm lăng, nếu có), người Chàm (dựa trên tiền lệ tốt đẹp của chính quyền đối với giáo hội Phật giáo) đứng lên yêu cầu chính quyền phải trao trả lại toàn bộ đất đai của họ bị người Việt xâm chiếm từ hàng mấy thế kỷ, người dân tộc thiểu số đứng lên đòi tự trị trên đất đai vùng thượng du của họ... Lúc đó không biết ai sẽ đứng ra giải quyết... Hay lúc đó chính quyền sẽ sử dụng vũ lực để trấn áp và lại phải mệt mỏi sử dụng những mỹ từ về nhà nước pháp quyền để gài đặt, tuyên truyền lại trên mạng lưới truyền thông một chiều về hành động bất nhất của mình (thông thường thì họ sẽ bưng bít)... Hoặc, không lẽ chính quyền sẽ cãi bừa rằng chuyện xâm lăng đó là của triều đình phong kiến và thuộc về lịch sử, họ không chịu trách nhiệm?

    Chuyện bên lề, vừa rồi tôi được biết mảnh đất có chùa Việt Nam Quốc Tự tại Sài Gòn đã bị bán đi lấy tiền tỉ. Tôi tự hỏi tại sao phía Phật Giáo (câu lạc bộ Phật Giáo Thăng Long) không lên tiếng đòi lại hoặc ít ra cũng phản đối, hay các bạn cho rằng mảnh đất đó thuộc về Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam không được chính quyền công nhận, nên cũng không can dự gì đến các bạn!

    Vấn đề xâm lăng, dân tộc, di sản quốc gia... là những chuyện rất lớn, nên để dành cho những chuyện... cũng rất lớn như Hoàng Sa, Trường Sa... Xin đừng sử dụng những mỹ từ thiêng liêng tế nhị và đậm chất tuyên truyền này để chứng minh cho luận cứ của bạn một cách bừa bãi, vì đó sẽ là con dao hai lưỡi khiến bạn (hay chính quyền) dễ dàng đứt tay!
     
    Nguồn : Talawas
    March 13

    Trở lại vụ đòi đất Toà Khâm Sứ: những điểm cần làm sáng tỏ

     Điểm nhấn :

    Tiến Hồng : "Về lập luận GHPGVN, một pháp nhân của thế kỷ 20 tự coi mình là sở hữu chủ liên tục của những công trình do vua Lý thánh Tông cho xây dựng từ 1057 ( thực ra là 1056) cho đến năm 1883 là một lập luận mà không một người có trí óc bình thường nào có thể chấp nhận. Đây là một vết nhơ của GHPGVN."

     

     

     

    Trở lại vụ đòi đất Toà Khâm Sứ: những điểm cần làm sáng tỏ


    Tiến Hồng

    “… Điều quan trọng là nhìn rõ ý nghĩa của sự việc trong một nhãn quan thực tế và không mang tính cảm quan …”

    Theo dõi vụ giáo dân cầu nguyện yêu cầu nhà cầm quyền trao trả đất toà Khâm sứ cho nhu cầu của toà Tổng giám mục Hà nội, sau khi cả hai bên tỏ thiện chí bước đầu thể hiện qua một vài hành động và văn thư ngày 1/2/08 của Tổng giám mục Ngô quang Kiệt, người ta hy vọng sẽ có những bước kế tiếp để cụ thể hoá việc trao trả này.

    Những bước kế tiếp đã không thấy xảy ra mặc dù có yêu cầu của Thủ tướng Dũng. Trong phiên họp giao ban của Chính phủ cuối tháng 1/08 (1), ông Dũng đã thừa nhận «việc giáo hội làm đơn xin cấp đất để sử dụng vào việc sinh hoạt của Hội đồng giám mục Việt Nam (HĐGMVN) là việc làm chính đáng. Nhà nước không thể bỏ qua. Không thể để một tổ chức cao nhất của giáo hội với 6 triệu tín đồ đã 27 năm đồng hành cùng dân tộc (ý nói từ khi thống nhất năm 1980) mỗi lần họp hội lại phải đi nhờ hết địa phương này địa phương khác. Vì vậy Thủ tướng giao cho Ban Tôn giáo CP, UBND TP Hà Nội và một số Bộ liên quan xem xét nhu cầu đó.».

    Những người am hiểu vấn đề cho rằng thực tế việc cản trở là do có sự chống đối quyết liệt của chính quyền quận Hoàn Kiếm, vì hình như đã có những thỏa thuận về việc sử dụng nó cho nhu cầu kinh doanh. Và thế là, người ta chứng kiến một màn phù phép trên nhiều phương tiện truyền thông trong và ngoài nước (trang Phattuvietnam của Giáo hội Phật gíao Việt nam (GHPGVN) thường được coi là quốc doanh, Chuyển luân thuộc phái Già Lam, Giao điểm của nhóm Phật giáo cực đoan, VietCatholics của Công giáo hải ngoại, v.v.) để tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi đầy cảm tính mà người theo dõi dễ đi vào sa lầy không lối thoát.

    Đi sâu vào những bài đăng tải, tôi nhận thấy các tác giả thường chỉ đưa những tài liệu có lợi cho lập trường của mình mà bỏ qua những tài liệu không thuận lợi. Mặt khác nhiều tác giả sử dụng những ý niệm lầm lộn về «tháp» và « chùa » Báo Thiên, và đưa ra những luận điểm có tính hằn học, đổ vấy trách nhiệm một cách bừa bãi gây chia rẽ lương giáo, đánh lạc hướng vấn đề (đất của toà Khâm sứ) và làm cho việc giải quyết nhu cầu mà thủ tướng Dũng đã coi là chính đáng nêu trên trở thành một đòi hỏi không chính đáng hay ít ra cũng làm chậm tối đa việc giải quyết.

    Hoà thượng Thích Trung Hậu đòi đất trên nền tháp Báo Thiên

    Ngày 16/2/08, hoà thượng Thích Trung Hậu, trưởng ban văn hoá GHPGVN, thay mặt ban thường trực Hội đồng trị sự giáo hội nhà nước gửi văn thư cho « cụ thủ tướng » ( !) Dũng nội dung như sau:
    « Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó.
    Vừa qua, một số người lên tiếng đòi Chính phủ giao trả Tòa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên ».
    Về lập luận GHPGVN, một pháp nhân của thế kỷ 20 tự coi mình là sở hữu chủ liên tục của những công trình do vua Lý thánh Tông cho xây dựng từ 1057 ( thực ra là 1056) cho đến năm 1883 là một lập luận mà không một người có trí óc bình thường nào có thể chấp nhận. Đây là một vết nhơ của GHPGVN.

    Điều đáng buồn thứ hai nêu trong văn thư vừa kể là hoà thượng Trung Hậu đã đề cập đến một sai lầm căn bản mà một số tác giả cũng vấp phải: lầm lẫn tháp Báo thiên (Đại thắng Báo thiên tự tháp)- được vua Lý thánh Tông cho xây dựng năm 1057 sau khi chiến thắng quân Chiêm Thành, một trong bốn An nam tứ đại khí - với chùa Báo Thiên (Sùng Khánh Báo thiên tự) được vua Lý cho xây trước đó (1056). Các sử liệu cũ (Đại việt sử ký, Đại việt sử ký toàn thư) đều nhất trí về điểm này. Hai đơn vị xây dựng này có tính độc lập của nó vì được sử dụng trong những mục đích khác nhau.

    Tháp Báo Thiên có 12 tầng (hay 30 tầng, tuỳ sử liệu), cao khoảng 60-80m (?), nền đá, rồi gạch và trên cùng là đồng. Tháp này -theo sử liệu- đã bị bão tổ phá sập ngọn tháp năm 1258, sét đánh sạt hai tầng trên năm 1322, và cuối cùng, vào năm 1427, bị Vương Thông cho phá hoàn toàn để lấy đồng nóc tháp (cùng với chuông nặng khoảng 900 kg của chùa Báo Thiên) để đúc đạn nhằm thoát vòng vây của vua Lê Lợi ở Đông quan. Sau đó, nơi đây biến thành pháp trường và họp chợ cho đến đời Tây sơn năm 1791 đã lấy nền gạch đá để xây thành Thăng Long thì coi như tháp bị phá huỷ hoàn toàn.

    Vậy là thực dân Pháp không có can dự gì vào việc phá huỷ tháp Báo Thiên như một số tác giả và phật tử hô hoán.

    Cũng cần lưu ý về chữ Thiên của tện tháp và chùa bao hàm ý nghĩa nhân gian pha Nho giáo đã được dùng từ trước: thiên mệnh, thiên đạo, thiên tử (gắn trên các tầng tháp)... Tháp dùng để vua tế trời (Nam giao) chứ không liên quan đến khái niệm nào của đạo Phật.

    Còn về vị trí : theo bản đồ thời Hồng Đức (1406) hay bản đồ năm 1490, ta thấy tháp Báo Thiên nằm trên một gò đất phía tây hồ Lục thuỷ (hồ Hoàn Kiếm hiện nay). Theo ông Hoàng Đạo Thuý, trong sách Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội thì tháp Báo Thiên nằm sau đền Đông Hương phố Tràng Tiền. Có người cho rằng đó là chỗ toà báo Nhân Dân bây giờ.

    Điều chắc chắn là nơi xây tháp không phải là Nhà thờ Chính toà, Toà Tổng giám mục(TGM) hay toà Khâm sứ. Địa điểm của Nhà thờ chính toà (thánh Giu-xe) chính là chỗ của chùa Báo Thiên. Còn toà TGM và Khâm sứ theo tài liệu Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, từ tháng 5-1932 đến tháng 11-1932 có thể suy ra là nằm giữa chùa Báo thiên và khu Trường Thi (Thư viện Quốc gia ngày nay) ở phía nam, không thể là vị trí tháp Báo thiên và đã được các linh mục J.Bonfils và M.Landais mua để xây cất nhà nguyện và một vài cơ sở khác vào năm 1873-1876 rồi bị giặc Cờ đen đốt phá. Những người cho rằng toà TGM và Khâm sứ nằm trong « khu đất » thuộc chùa Báo Thiên thực ra không có cơ sở lịch sử cụ thể nào. Trong sử sách không hề ghi diện tích chùa Báo Thiên như hoà thượng Trung Hậu đã phóng đại ra.

    Chùa Báo Thiên lịch sử có còn tồn tại vào năm 1883 ?

    Một số những người bênh vực lập trường của công giáo thường nêu ra bài viết của ông Lữ Giang «Vụ chùa và tháp Báo Thiên»
    . Những lập luận và tài liệu dẫn giải của một người có căn bản luật học vững chắc như ông phải coi là có tính cách thuyết phục. Tuy nhiên, có một sơ sót khi ông chỉ đưa ra tài liệu Tự Điển Hà Nội Địa Danh (do Bùi Thiết biên soạn và do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 1993) để cho rằng chùa Báo Thiên không bị thực dân Pháp phá huỷ năm 1883:
    Chùa Báo Thiên: “Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm, hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá hủy hoàn toàn”.
    Những người bênh vực lập trường «chống công giáo» lại thường sử dụng một trích đoạn trong cuốn Mission (Nhà chung) của André Massion căn cứ trên cuốn Au Tonkin của công sứ R. Bonnal (2) để nói về việc chùa Báo Thiên bị đổi chủ thành toà TGM như thế nào:
    «San bằng cái chùa và tịch thu miếng đất, thật không có gì dễ bằng trong thời gian chiếm đóng…, tuy nhiên, công bình mà nói, tôi cảm thấy ít nhiều ái ngại trong việc phạm một sự lạm quyền kiểu đó, nên thấy nên nhờ ông Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Ông rất tâm đầu ý hiệp với Giám mục [Puginier, còn có tên là cha Phước] và muốn làm vừa lòng ngài cũng như tôi vậy. Thoạt tiên, ông cho điều nghiên xem có ai là hậu duệ của người sáng lập ra chùa, đã chết hai thế kỷ trước, và lẽ dĩ nhiên, không tìm ra ai. Thứ đến ông chỉ thị cho các công dân lãnh đạo trong phường, được chọn lựa có vẻ như là do sự may rủi giữa các người Công giáo, đến thẩm lượng mức kiên cố của ngôi chùa; họ không ngần ngại xác quyết rằng, ngôi chùa đã mục nát có thể sập gây nguy hiểm cho người qua lại. Bây giờ mọi việc đã đâu vào đấy, san bằng ngôi chùa và tịch thu miếng đất…”
    Những sự kiện được nêu trong đoạn văn này cần được suy diễn một cách thận trọng và phải được hiểu trong bối cảnh lịch sử pháp lý lúc đó. Điều chắc chắn là lúc đó không có mấy ai -dù là phật tử sùng tín- tha thiết đến ngôi chùa mục nát này trong bối cảnh loạn lạc và đổi thay của đất nước. Dù người ta có nêu lên những chi tiết lấy từ sử liệu như Đại nam nhất thống chí, Kế đăng lục để cho rằng : tổng đốc Tôn Thất Bật thời vua Tự Đức đã cho sửa lại ngôi chùa và năm 1857 “Lúc đó tại chùa Báo Thiên đang khắc ván bộ Phật Tổ thống kỷ của Trung Quốc". Thực tế là những diễn biến loạn ly sau đó đã thay đổi bộ mặt của ngôi chùa.

    Và điều quan trọng hơn cả là: chùa Báo Thiên vào năm 1883 không còn là chùa Báo Thiên lịch sử 1056. Chùa Báo Thiên lịch sử đã bị phá huỷ nặng nề lần đầu bởi giặc Minh năm 1427 cùng với chuông đồng, theo cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX của Nguyễn Văn Uẩn, Nhà xuất bản Hà Nội 1995:
    “Thời Minh thuộc, tướng giặc Vương Thông bị nghĩa quân Lam Sơn vây khốn trong thành Đông Quan, chúng đã phá các chùa chiền, vơ vét chuông khánh đồng để đúc binh khí chống lại quân ta. Tháp và chùa Báo Thiên bị phá huỷ nặng nề, và chuông Báo Thiên bị mất.

    Năm Giáp Dần 1434 vua Lê Thái Tông mở mang khu vực Hồ Gươm, sai thợ khéo dựng lại chùa Báo Thiên, còn ngôi tháp đổ không xây lại được nữa.»
    Theo một nhà nghiên cứu người Pháp, chùa Báo Thiên lại bi phá huỷ lần nữa năm 1547. Lần cuối cùng, chùa Báo Thiên bị giặc Kiêu Binh của chúa Trịnh đốt sạch vào khoảng những năm 1780. Nếu ta chỉ nói đến chùa Báo Thiên lịch sử thì quan điểm của ông Lữ Giang vẫn có giá trị. Ngoài ra, chúng ta cũng không biết ai là người đã dựng lại chùa qua quá trình đến 1883.

    Và như thế là trong quá trình lịch sử, người ta đã không còn hình dung được chùa Báo Thiên lịch sử đã biến đổi ra sao cho đến năm 1883. Một số tác giả đã chỉ trách tổng đốc Nguyễn Hữu Độ không tìm cách xin triều đình cho tu sửa ngôi chùa. Việc phê phán xin dành cho lịch sử.

    Điều quan trọng là nhìn rõ ý nghĩa của sự việc trong một nhãn quan thực tế và không mang tính cảm quan. Việc đất toà Khâm sứ chắc là chưa xong. Nó có thể được hâm nóng trở lại bất cứ lúc nào. Tôi chia sẻ ý kiến của tác giả Phong Uyên trong phần kết luận bài viết «Hoàn cảnh lịch sử của việc xây Nhà thờ Lớn Hà nội»
    đăng trên Talawas (11/3/08):
    « Chắc có nhiều độc giả đồng tình với tôi là sự kiện Công giáo đòi Toà Khâm không dính líu gì đến sự kiện Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng cách đây 111 năm. Nếu cứ cố tình nhập hai sự kiện vào nhau để tranh luận thì tôi thấy những cuộc bàn cãi sẽ sa lầy và không có lối thoát. Tôi thiết tưởng phải nhân cơ hội này mà đòi hỏi chính quyền đưa ra những luật lệ rõ ràng về nhà đất. Đó là vấn đề quan trọng số một liên quan đến đời sống của mỗi người chúng ta.».
    Thực ra, giới lãnh đạo cộng sản đã nhìn thấy vấn đề và có thể giải quyết sự việc đất toà Khâm sứ nếu muốn. Nhưng nếu khó khăn chủ yếu lại ở chỗ «trên bảo dưới không nghe» như người ta có cảm tưởng thì đấy lại là một vấn nan khác của chế độ độc tài đảng trị này.

    Tiến Hồng
    Rennes, 12/3/2008

    (1) Theo VietCatholics News ngày 28/2/08 tường trình phiên họp ngày 27 và 28/208 của Uỷ Ban đoàn kết công giáo VN, một «cơ quan liên lạc» của công giáo do nhà cầm quyền lập ra và đặt để trong Mặt trận Tổ quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng CS, tuy không có uy tín nhưng có những quyền lợi nhất định (chọn đại biểu Quốc hội, xe đưa rước...). (2) Xem bài viết của Hoàng Cúc đăng trên Talawas ngày 28/2/08.
     
     
    Nguồn : Thông Luận
     

    March 11

    Hoàn cảnh lịch sử của việc xây Nhà thờ Lớn Hà Nội

     
     Điểm nhấn :
     
     
    "Tôi đã xem phim La vie des Autres và không khỏi rùng rợn vì mạng lưới "an ninh văn hóa" ở những nước xã hội chủ nghĩa sao mà giống nhau đến thế, nhưng hình như loại người tha hóa về phẩm cách, tự nguyện làm “khuyển mã” ở Việt Nam thì còn khủng khiếp hơn ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhiều lần vì đó là thứ khuyển châu Á vừa bẩn thỉu, nham hiểm, vừa lì lợm, trơ tráo và man rợ mà ta không tài nào dùng ngôn từ để miêu tả được."
     
    "...làm thế nào chấm dứt vĩnh viễn cái cơ chế sinh ra lũ người-khuyển “đánh hơi văn hóa” như một nhu cầu tất yếu."
     
     
     
     
    Hoàn cảnh lịch sử của việc xây Nhà thờ Lớn Hà Nội
     
    Phong Uyên
     
    Từ hơn hai tháng nay, theo dõi những cuộc tranh luận trên talawas về vụ Công giáo đòi Tòa Khâm và tiếp theo là những tranh cãi về sự kiện Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng trên phần đất Chùa Báo Thiên, tôi không khỏi không choáng váng vì sự đối chọi nhau giữa những bài có những hàng tít bị coi là “khiêu khích” tuy nội dung từ tốn như “Đừng đánh lạc mục tiêu, đừng đánh tráo chủ đề”, hay “Trò phù phép đánh tráo...” của những tác giả có lập trường “chống”, và những bài phản biện có những hàng tít vô thưởng vô phạt nhưng nội dung lại mang đầy tính cách cáo buộc và hận thù chia rẽ tôn giáo của những tác giả có lập trường “thân”. Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng trên phần đất nào, trong hoàn cảnh lịch sử nào, lẽ ra chỉ nên bàn cãi trong mục lịch sử, văn hoá xã hội, đã leo thang và trở thành một điểm nóng chính trị và tôn giáo. Sống ở Paris, nơi tích lũy nhiều tài liệu có thể tham khảo được, tôi thử đứng ngoài mọi lập trường để, chỉ căn cứ vào những tài liệu chính xác, đối chiếu, kiểm chứng những luận chứng trái ngược nhau trong những bài tranh luận kể trên và phân tích một cách khách quan những sự kiện liên quan đến Công giáo đã thật sự xẩy ra trong thời kỳ Pháp đánh chiếm Việt Nam.

    Trước hết, theo những tài liệu lịch sử Pháp, tôi có đủ bằng chứng xác nhận là Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng trên phần đất có Chùa Báo Thiên.

    Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng từ năm 1883 và được khánh thành 4 năm sau trong dịp lễ Giáng sinh 1887. Nhà thờ này được xây theo kiểu tân gô-tích phỏng theo kiểu vẽ của Paul Abadie, kiến trúc sư nổi tiếng Âu châu hồi cuối thế kỷ thứ XIX, người chuyên tái thiết và xây dựng nhiều nhà thờ ở Pháp và nhiều nước khác với phong cách độc đáo gọi là tân - Trung cổ. Nhà thờ nổi tiếng nhất mà ông Abadie đã vẽ kiểu là thánh đường Thánh Tâm (la basilique du Sacré Coeur) trên đồi Monmartre. Ai qua Paris cũng thường tới thăm thánh đường này, được xây từ năm 1875 đến năm 1919 mới xong. Nhà thờ Lớn Hà Nội đã phá kỷ lục thời đó về tốc độ xây dựng một nhà thờ – chỉ cần 4 năm, nhờ tiền thu được qua xổ số giữa những người Pháp với nhau. Ở Âu châu thời Trung cổ, xây một nhà thờ phải mấy trăm năm mới xong vì cần nhiều thế hệ góp công góp của.

    Tuy nhiên, không có tài liệu nào nói rõ là Nhà thờ Lớn đã được xây đúng chỗ có chính điện của Chùa Báo Thiên hay chỉ trên một phần đất của khu chùa.

    Theo những tài liệu tôi thâu thập được thì Chùa Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông xây năm 1056–57 để kỷ niệm chiến thắng Chiêm Thành. Chùa còn là một tu viện rất lớn và là nơi Lý Quốc Sư trụ trì. Ngài tu ở chùa Khai Quốc trước khi đến Báo Thiên. Là tu viện tất nhiên phải có nhiều khuông viện (“monastère” trong các tài liệu Pháp) để cho các chú tiểu học đạo, đồng thời đất Chùa Báo Thiên phải rất rộng lớn, không thể chỉ bằng diện tích một ngôi nhà nhỏ 300 mét vuông như ông Lê Quang Vịnh đã khẳng định. Nhà thờ có thể được xây trên một phần đất rộng lớn của Chùa nhưng không nhất thiết ở chỗ có chính điện Chùa. Đây là một chi tiết rất quan trọng vì nếu cố ý phá chính điện Chùa để xây Nhà thờ lên trên thì phải coi đó là một hành động hoàn toàn xấu của các chức sắc Công giáo thời ấy muốn bỉ mặt những người Phật giáo. Tôi chắc là không như vậy vì trước khi xây Nhà thờ Lớn, ở trên khoảng đất đó đã có một nhà thờ bằng gỗ (có hình còn để lại) bị quân Cờ Đen đêm 15-5-1883 đột kích giết giáo dân và đốt cháy (theo nhật ký của Marolles, sĩ quan phụ tá của Henri Rivière viết ngày 16-5-1883). Ngoài ra kế cận Chùa Báo Thiên là phủ Chúa Trịnh khi trước. Phủ Chúa rất rộng lớn gồm nhiều dinh thự hoàng tráng hơn dinh thự Vua Lê nhiều. Theo một bản đồ vẽ năm 1770, Phủ Chúa là một hình vuông giới hạn bởi những đường phố Lý Thường Kiệt, Quán Sứ, Nguyễn Gia Thiều, Quang Trung bây giờ (tài liệu Philippe Papin). Năm 1786 Lê Chiêu Thống trả thù cho lệnh đốt Phủ Chúa, “khói lửa ngợp trời 10 ngày đêm liền vẫn còn cháy”. Khu đất Phủ Chúa bị coi là đất “ngụy” không ai được làm nhà, chỉ những kẻ bần cố thây vô gia cư lén lút làm lều ở. Đất Nhà Chung bây giờ gồm cả đất Toà Khâm có lẽ thuộc về phần đất ngụy bị bỏ trống hồi đó.

    Những tài liệu được coi là đáng tin cậy đều khẳng định tình trạng đổ nát của Chùa Báo Thiên; và chuyện Tháp Báo Thiên cao 80 mét chỉ là một huyền thuyết.

    Chỉ cần trình độ toán lớp 7 cũng đủ biết là phải giầu trí tưởng tượng lắm mới có thể nghĩ Tháp Báo Thiên “cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt hồ Hoàn Kiếm”như trong bài viết của một tác giả. Nghĩa là phải cao cả ngàn mét! Tôi cũng không biết theo tài liệu nào mà Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam có thể khẳng định tháp cao 20 trượng tức là 80 mét. Tôi nghĩ có lẽ có sự nhầm mét với thước ta: 80 thước ta bằng chừng 27 mét, cao bằng toà nhà hiện đại 10 tầng. Tôi thấy như vậy đã là cao lắm. Thử so sánh với Tháp Phước Duyên 7 tầng, tượng trưng 7 kiếp của Đức Phật – được xây trong khuôn viên Chùa Thiên Mụ (bằng gạch lấy từ một ngôi đền của người Chàm) dưới thời Thiệu Trị năm 1884 –, cũng chỉ cao 21 mét, bằng toà nhà 7–8 tầng. 80 mét là chiều cao của một cao ốc hiện đại 33 tầng. Ông cha ta đã có kỹ thuật làm cần trục đem gạch đá xây được tháp cao 80 mét cách đây 950 năm thì Tháp Báo Thiên phải sánh ngang 7 kỳ quan thế giới (để thành kỳ quan thứ 8)! Tôi đã đi tham quan nhiều chùa chiền bên Tàu bên Nhật, và tôi không thấy nơi nào có tháp cao tới 40 mét cả. Ngôi tháp nổi tiếng nhất Âu châu là Tháp Pise xây cùng thời với Tháp Báo Thiên (1174–1350), gần 200 năm mới xong, cũng chỉ cao có 54 mét 50. Tháp bị nghiêng vì bằng đá nặng quá đất bị lún dần. Đó là tháp còn được xây ở vị trí đất liền thổ trong thành Pise, chứ Tháp Báo Thiên xây gần sông Hồng trên đất phù sa thời đường kính phải bao nhiêu, nền móng phải sâu đến độ nào, phải bằng loại đá gì mới không bị mòn dần mà sụp đổ?

    Tôi cũng không thấy ảnh hay hình vẽ nào về Chùa Báo Thiên trong các tài liệu Pháp, đặc biệt là trong số những ảnh chụp phong cảnh Hà Nội năm 1883 của bác sĩ Hocquard tác giả cuốn Une campagne au Tonkin hồi ấy. Một ngôi chùa to lớn như vậy dù trong tình trạng xuống cấp cũng không thể qua mắt Hocquard, người đã để lại rất nhiều hình ảnh Hà Nội như Chùa Báo Ân, Đền Ngọc Sơn, phố Hàng Bông, phố Hàng Gai, đường vào Đồn Thủy, cửa ô Quan Chưởng v.v... Trong cuốn Lịch sử Hà Nội (Histoire de Hanoi) xuất bản mới đây, Tiến sĩ Philippe Papin, người làm luận án tiến sĩ về Hà Nội và là môt nhà Việt Nam học nổi tiếng có viết rất nhiều sách về Việt Nam, nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp sống ở Hà Nội từ 15 năm nay, có nói rõ là Chùa Báo Thiên đã bị sụp đổ từ năm 1547 và không được trùng tu lại vì Phật giáo dưới triều Lê không còn được trọng vọng nữa. Đất chùa ban ngày trở thành nơi họp chợ, ban đêm là chỗ tụ tập của những người hành khất co quắp ôm nhau chết lạnh dưới những chõng bán thịt. Khi xây Nhà thờ Lớn, những di tích còn lại đều bị hốt bỏ. Qua những sưu tầm của ông Papin và được chứng nhận bởi những hình ông Hocquard chụp, quanh hồ Hoàn Kiếm trước khi Pháp chiếm đóng Hà Nội chỉ còn hai đền đài: Chùa Báo Ân và Đền Ngọc Sơn. Chùa Báo Ân cũng được gọi là Chùa Liên Trì vì có bể hoa sen được xây dựng bởi Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai năm 1842, gồm 36 toà nhà, rất nhiều stupa [1]
     và hơn 200 bức tượng bị Pháp phá bỏ năm 1886 để xây Nhà Bưu điện. Khi bị phá, Chùa Báo Ân mới xây được 44 năm nên trong hình Hocquard chụp năm 1883 trông còn mới và không thể coi là cổ được. Theo tôi nghĩ có lẽ ông Nguyễn Đăng Giai làm chùa này để thay thế Chùa Báo Thiên đã bị sụp đổ. Đền Ngọc Sơn cũng chỉ được thi hào Nguyễn Văn Siêu quyên tiền xây lại năm 1865 khi đó cũng chưa có cái cầu nữa. Nghĩa là không có đền đài ở Hà Nội nào mà không phải trùng tu hay xây lại nhiều lắm là 100 năm sau cả. Bởi vậy Chùa Báo Thiên xây cách đây gần 1000 năm mà bị sụp đổ hoàn toàn cũng là đúng. Tôi cũng xin thêm là không có ai lẩn thẩn so sánh một ngôi chùa mới xây 44 năm có hình ảnh rõ ràng như Chùa Báo Ân với một ngôi chùa đã sụp đổ từ 300 năm trước, không biết hình thù ra sao, như ông Lý Khôi Việt đã lí luận trong bài “Về Chùa Báo Thiên...”.

    Pháp có cần sự cấu kết của Công giáo để xâm chiếm Việt Nam không?

    Phân tích kỹ những lần Pháp can thiệp bằng võ lực vào Việt Nam, chỉ có một lần dưới Đệ nhị Đế chế Napoléon III là có sự hợp tác giữa một giáo chức Pháp, Giám mục Pellerin, và Phó Đề đốc Rigault de Genouilly để đánh Trà Sơn Đà Nẵng. Giám mục Pellerin âm mưu với Rigault de Genouilly, viện cớ cứu giáo dân để có sự ủng hộ của Hoàng hậu Eugénie vợ Napoléon III rất ngoan đạo, đánh Trà Sơn Đà Nẵng ngày 1-9-1858. Tuy cùng một toan tính nhưng mục đích của hai người khác nhau. Giám mục Pellerin muốn đánh để làm áp lực với với Vua Tự Đức, đòi quyền tự do giảng đạo. Còn De Genouilly muốn có một căn cứ cho tàu Pháp tự do thông thương. Pellerin lừa Genouilly nói là giáo dân sẽ nổi lên trợ lực. Rút cục chờ đợi mãi chả có giáo dân nào đến giúp cả và liên quân Pháp - Y Pha Nho bị kẹt cứng ở Trà Sơn 5 tháng. Cho là Pellerin đã nói láo, Genouilly tính bắt giam Pellerin, sau đuổi về Hồng Kông (Taboulet, tr. 438–440) rồi quyết định rút hầu hết quân lính khỏi Trà Sơn đi đánh Sài Gòn. Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối có sự tham dự của giáo sĩ Gia Tô trong việc đánh chiếm nước ta và cũng là một sự kiện chứng tỏ là giáo dân hồi ấy tuy bị tàn sát nhưng cũng không vì thế mà theo Tây phản lại đất nước.

    Pháp đánh chiếm Việt Nam với mục đích gì?

    Cần phải hiểu là nửa cuối thế kỷ XIX nền kinh tế tư bản các nước Anh, Pháp bắt đầu phát triển, hàng hoá sản xuất cần phải có thị trường tiêu thụ. Thị trường có nhiều triển vọng nhất là Trung Quốc. Nhưng những đầu cầu xâm nhập thị trường Trung Quốc, không kể Hồng Kông, như Quảng Đông và Thượng Hải đều nằm trong tay người Anh. Giới doanh thương Pháp cần phải tìm một con đường mới để xâm nhập thị trường Tàu mà không bị Anh án ngữ. Con đường độc nhất là xuyên qua Việt Nam vào Vân Nam và từ đó có cả một thị trường to lớn là cả miền Tây và miền Nam nước Tàu. Muốn vậy giới doanh thương Pháp phải cấu kết với một lực lượng không những có nhiều phương tiện mà còn có nhiều thế lực về chính trị vì kiêm luôn Bộ Thuộc địa là Hải quân Pháp. So với chiến tranh Pháp - Việt năm 1946 sau này, lịch sử đã diễn ra gần tương tự: từ trận hải chiến Pháp - Việt đầu tiên ở Vịnh Đà Nẵng năm 1847 đến Hoà ước Patenotre mất nước năm 1885, chỉ trong chưa đầy 40 năm nước Pháp đã thay đổi chính thể bốn lần. Chính quyền Pháp ở Paris quá yếu nên bọn hải quân ở Sài Gòn tha hồ lộng quyền. Chỉ từ khi có chế độ Đệ tam Cộng hoà sau 1870, Pháp mới có chính sách thuộc địa rõ ràng. Trớ trêu thay những người cầm đầu chế độ cộng hoà tiến bộ thuộc về phái tả cấp tiến như Gambetta, Jules Ferry lại là những người cổ súy chính sách thuộc địa tuy có thêm chiêu bài “reo rắc văn minh Pháp”. Đa số có chân trong Hội Tam Điểm, chống các giáo đoàn công giáo và cấm không được mở trường dạy học kể cả ở thuộc địa để thế tục hoá nền học vấn. Những nhân vật này cho tới nay vẫn được các đảng tả phái bên Pháp đề cao. Cũng như hồi 1946 “ thực dân” cấu kết với phái tả chứ không phải với Công giáo.

    Cũng cần nhắc lại vai trò của Francis Garnier, một sĩ quan hải quân cấp úy trong việc xâm chiếm Việt Nam: Mục đích của tụi đô đốc Pháp khi chiếm Sài Gòn là lấy Sài Gòn làm căn cứ để dùng sông Cửu Long làm đường thông thương qua Tàu. Francis Garnier xung phong đi thám hiểm trước với một vài đồng đội. Phải mất gần hai năm, Garnier mới tới Vân Nam, và người chỉ huy hắn, Trung tá Doudart de Lagrée chết phải kéo xác theo sông Dương Tử đem về. Garnier gặp Jean Dupuis ở bên Tàu, được tên này khuyên con đường tiện nhất là dòng sông Hồng. Francis Garnier kết bè với Dupuis xin hải quân Pháp đi đánh Hà Nội năm 1873 để mở đường thông thương qua Tàu. Từ đó ý đồ xâm lăng của tụi cầm đầu Pháp ở Sài Gòn cứ lớn dần để đi đến chỗ xâm lược toàn cõi Viêt Nam. Vì có công như vậy nên tuy chỉ là một tên đại úy quèn, Francis Garnier cũng được dựng tượng ở chỗ khá sang tại Paris, gần quán La Closerie des Lilas nơi Lénine hay ngồi uống rượu.

    Trong chương trình biến Hà Nội thành một thành phố Pháp, thủ đô của Đông Pháp, Giám mục Puginier có đóng vai trò chủ động trong việc xây dựng Nhà thờ Lớn không?

    Từ một miếng đất nhỏ bé 5 mẫu ta (chưa đầy 2 hectares) là Đồn Thủy, được nhường cho Pháp năm 1875, Pháp cứ gậm nhấm lần lần và đến năm1888, ép Vua Đồng Khánh phải nhường hoàn toàn cho Pháp Hà Nội và hai thành phố khác là Hải Phòng và Đà Nẵng. Thật ra đó chỉ là trên giấy tờ chứ sau khi Henri Rivière đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai năm 1882, Pháp muốn làm mưa làm gió gì ở Hà Nội cũng được. Pháp có truyền thống như người La Mã là một khi là thành phố của mình, Pháp xây dựng lại như một thành phố Pháp. Bởi vậy những người Hà Nội tới một thành phố Pháp không có cảm tưởng lạc lõng vì thấy lại toà thị sảnh, nhà hát thành phố, nhà thờ, nhà bưu điện, nhà ga... cùng một kiểu. Hà Nội còn hơn các thành phố khác của Pháp ở chỗ được chọn làm thủ đô cho toàn cõi Đông Pháp nên có nhiêu công thự nhắc nhở những công thự ở Paris. Nhà hát Lớn Hà Nội cũng hao hao giống Nhà hát Garnier Paris ngay cả về địa thế ở đầu một con đường lớn. So với tất cả những nhà hát lớn của mọi thành phố khác của Pháp, Nhà hát Lớn Hà Nội to đẹp hơn nhiều. Cũng như Nhà thờ Đức Bà ở Paris hai mặt trông ra sông Seine, địa thế Nhà thờ Lớn Hà Nội trông ra hồ Hoàn Kiếm cũng là do sự chọn lựa của kiến trúc sư vẽ kiểu chứ không phải theo ý muốn của Giám mục Puginier. Vì là thủ đô nên những kiến trúc sư, kỹ sư được cử sang xây dựng cũng là những nhân vật đã xây những công thự nổi tiếng ở Paris như Eiffel làm cầu Long Biên chẳng hạn và nhiều nhà, nhiều đường phố cũng được xây dựng phỏng theo kiểu Hausmann như ở Paris.

    Kết luận

    Tôi đã cố gắng giữ tư cách khách quan để chỉ dựa vào những tài liệu được coi là chính xác ở Paris để kiểm chứng và phân tích những sự kiện đã được nêu ra trong những cuộc tranh luận trên talawas. Chắc có nhiều độc giả đồng tình với tôi là sự kiện Công giáo đòi Toà Khâm không dính líu gì đến sự kiện Nhà thờ Lớn Hà Nội được xây dựng cách đây 111 năm. Nếu cứ cố tình nhập hai sự kiện vào nhau để tranh luận thì tôi thấy những cuộc bàn cãi sẽ sa lầy và không có lối thoát. Tôi thiết tưởng phải nhân cơ hội này mà đòi hỏi chính quyền đưa ra những luật lệ rõ ràng về nhà đất. Đó là vấn đề quan trọng số một liên quan đến đời sống của mỗi người chúng ta.


    © 2008 talawas
    ...............................................................................................
     
    [1] stupa (tiếng Pháp): tháp có công năng của mộ, chứa hài cốt nhà tu hành. (Chú thích của talawas.)
     
     
    Nguồn : Talawas

    MỘT BỨC ẢNH CŨ VÀ CHUYỆN TOÀ KHÂM SỨ

     
    MỘT BỨC ẢNH CŨ VÀ CHUYỆN TOÀ KHÂM SỨ
     
     
     

    Nhân đọc lại một bài trong Bulletin de la Société des Missions Etrangères de Paris, số 125 tháng 5 năm 1932, tôi tìm thấy hai tấm hình. Xem lại hình ảnh và đọc lời chú thích bên dưới, tôi nhận thấy có vài điều thú vị xin được nêu ra cùng độc giả.

    Trước hết, tấm hình thứ nhất cùng với chú thích khiến nảy sinh trong đầu tôi một câu hỏi: Phải chăng hang đá Lourdes trong hình chính là hang đá trước đây toạ lạc trong Toà Khâm Sứ cũ, sau đó, do chịu sức ép, Giám mục Giuse Trịnh Văn Căn đã buộc phải chuyển sang khuôn viên Toà Tổng Giám mục Hà Nội như hiện nay?

    Câu hỏi thứ nhất khiến tôi phải tiếp tục đặt câu hỏi thứ hai: Toà nhà phía sau hang Lourdes có phải là toà nhà sau này đã trở thành Toà Khâm Sứ?

    Vài người được tôi cho xem tấm hình này đã không ngần ngại xác định rằng hang Lourdes trong hình chính là hang từng hiện diện trong khuôn viên Toà Khâm Sứ cũ và toà nhà phía sau chính là Toà Khâm Sứ sau này. Tôi thiết nghĩ, những người từng sống lâu năm tại Hà Nội, từng biết tới hang Lourdes trong Toà Khâm Sứ cũ trước khi hang này bị chuyển dời sẽ giúp tôi trả lời hai câu hỏi này một cách chính xác. Tôi cũng rất mong những thắc mắc của tôi sẽ được “sử da” Trương Bá Cần chỉ vẽ để có thể biết được chính xác năm xây dựng toà nhà sau này từng là Toà Khâm Sứ. Nếu sự thật đúng như những gì những người xem hình đã khẳng định, thì toà nhà sau này là Toà Khâm Sứ không thể được xây dựng sau tháng 5 năm 1932, tức thời điểm phát hành của số Bulletin được nêu trên đây.

    Bên cạnh đó, những dòng chú thích bên dưới hai tấm hình khiến tôi có những suy đoán như sau.

    Tấm ảnh cũng như tài liệu của linh mục Joseph Villebonnet đều cho biết hang Lourdes đã được Giám mục Paul François Puginier Phước xây dựng tại chính vị trí từng bị quân Cờ đen tấn công [1]. Rất có thể đây chính là nơi mà sau chiếu chỉ tha đạo năm 1862, giáo dân Hà Nội đã dựng lên một ngôi nhà nguyện bằng gỗ. Theo André Masson, đêm ngày 15, rạng ngày 16 tháng 5 năm 1883, quân Cờ đen đã tấn công khu vực Nhà Chung Hà Nội. Bị kháng cự quyết liệt, quân Cờ đen đã rút lui, nhưng trước khi rút lui, đội quân này đã châm lửa thiêu huỷ ngôi nhà nguyện bằng gỗ kể trên.[2]

    Cũng theo Joseph Villebonnet và André Masson, tại khu vực đang được bàn tới từng có một ngôi nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo [3].

    Từ gần một thế kỉ nay, khu vực Phố Nhà Chung cũng như Toà Tổng Giám mục Hà Nội đã có khá nhiều thay đổi khiến cho việc xác định vị trí của các di tích và biến cố lịch sử trở nên khó khăn. Tôi xin gửi tới quí độc giả tấm hình với vài thắc mắc và suy đoán với hi vọng sẽ được các bậc cao minh thương tình chỉ giáo.

    Hoàng Cúc

    .......................................................................................


    [1] X. Joseph Villebonnet, « Hanoi Chrétien (1627-1931) », Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, số 129, tháng 5-1932, tr. 657-658.

    [2] X. André Masson, Hanoï pendant la période héroïque (1873-1888), libraire orientaliste Geuthner, Paris 1929, tr. 123.

    [3] André Masson, sđd, tr. 119 ; Joseph Villebonnet, sđd, tr. 651.

     

    Nguồn : Blog Hoàng Cúc

     

     

    Lời bàn :

     

     Không phải vô cớ mà Hoàng Cúc nhắc đến "sử da" TBC ở đây, vì chính ông "sử da" này khẳng quyết là Tòa Khâm Sứ do Dức Khâm Sứ Dooley xây dựng (http://vigiaohoiconggiaovn.spaces.live.com/blog/cns!47BCEBC38CCBF581!2895.entry). Theo như Đức Cha Sang cho biết thì thời gian làm Khâm Sứ ở VN của Đức Khâm Sứ Dooley là từ 1950-1959 (http://vigiaohoiconggiaovn.spaces.live.com/blog/cns!47BCEBC38CCBF581!2987.entry). Mà theo như tấm hình của Hoàng Cúc cho thấy, tòa nhà sau này dùng làm Tòa Khâm Sứ không thể được xây dựng sau tháng 5 năm 1932. Điều đó cũng bẻ gãy luôn lạp luận của Trương "Nói Càn" cho rằng Tòa Khâm Sứ đó là thuộc Vatican, chứ không thuộc Tòa Giám Mục Hà Nội.

    Công Lý

    March 10

    Giao Điểm đã « tự thú »

     

     

    Giao Điểm đã « tự thú »

     

    Đang khi dư luận đang còn bàn tán tranh luận về tính thực hư của hai « bức ảnh tài liệu » liên quan đến việc liệu có hay không nhóm Giao Điểm là « công cụ » của Cộng Sản khi Cộng Sản VN cho in các « Tạp Chí Giao Điểm » nhằm phục vụ cho việc « tuyên truyền vận động chính sách của Đảng và Nhà Nước ta », thì trên trang web điện tử sachhiem.net, được giaodiemonline.com đăng lại, phóng viên Sách Hiếm đã tổ chức một cuộc phỏng vấn với ông Bùi Hồng Quang, đối tượng được giới thiệu trong văn bản MẬT của Tổng Cục An Ninh của Bộ Công An, do Đại Tá Lê Công Hoàng ký ngày 20/12/2007, như sau : « đề nghị các đồng chí quan tâm hỗ trợ để ông Bùi Hồng Quang được mang số tài liệu trên ra nước ngoài ».

     

    Từ tranh luận đến « tự thú »

     

    Quả thế, trên trang web X-Cafe, các thành viên đã tranh luận với nhau sôi nổi về thực hư của hai « bức ảnh tài liệu » này. Ý kiến cho là giả, ý kiến cho là đúng. Và cho dầu khẳng định là đúng đi nữa, thì vẫn còn chút « lưỡng lự » nào đó, vì không bắt được « quả tang » đương sự, ngoại trừ hai tấm hình đó. Người ta vẫn nghĩ rằng Giao Điểm sẽ xuất hiện để nói rằng hai « tấm ảnh tài liệu » đó là giả, rồi phản đối sự chụp mũ…Thế nhưng, thật bất ngờ, Giao Điểm cũng đã xuất hiện, nhưng không phải là để phủ nhận, mà là « tự thú ».

     

    Đọc cuộc phỏng vấn được dàn xếp trên đây, độc giả sẽ đựoc đảm bảo một số điều : Trước hết, họ sẽ không còn hồ nghi về nhân vật Bùi Hồng Quang này nữa, vì trong đó ông đựoc giới thiệu là cộng tác viên của Giao Điểm. Tiếp đến, việc Giao Điểm đưa tài liệu về in ấn ở Việt Nam là có thật. Đây là lời khẳng định của ông Quang : « In trong nước rất rẻ và đẹp, lại cung cấp một chút dịch vụ cho người trong nước.  Nhiều tác giả cũng đã in tác phẩm của mình ở trong nước. Ðó là lý do. Vì số lượng hơn 400 cuốn nên tôi sợ Hải quan phi trường làm khó dễ nên phải nhờ người xin phép cho chắc ăn. Có người khuyên nên hối lộ “để qua cửa ải” nhưng tôi không bao giờ làm như thế ». Sau nữa, qua lời khẳng định này,  ông Quang mặc nhiên xác nhận Cộng Sản VN tiếp tay cho Giao Điểm.

     

    Tranh luận tính thực hư của hai tấm hình tài liệu là không còn cần thiết nữa

     

    Cuộc phỏng vấn này của Sách Hiếm với ông Quang đã có tác dụng ngay lập tức là cuộc tranh luận về tính thực hư của hai tấm hình tài liệu đó là không cần thiết nữa, vì ông Quang đã « tự thú » tất cả. Đọc cuộc phỏng vấn này, một thành viên của X-Cafe đã có những nhận xét sau :

    « Mọi việc nay đã rõ rồi :

    1- Ông Bùi Hồng Quang đã xác nhận có in 400 báo Giao điểm số 65 tại VN vì cho rằng : "In trong nước rất rẻ và đẹp, lại cung cấp một chút dịch vụ cho người trong nước."


    - Điều này còn phải xét lại vì có đáng là bao nhiêu tiền đâu mà Giao điểm không lẽ nghèo đến mức phải tiết kiệm số tiền đó .
    - Đẹp thì chắc chắn chỉ có "thua hoặc bằng" nếu như in ở nước ngoài thôi .
    - Còn cung cấp một chút dịch vụ (có 4 trăm cuốn thì bỏ bèn gì ? ) thì chỉ có các cơ quan in ấn của nhà nước CSVN được hưởng vì ở VN các nơi in ấn đều do nhà nước quản lý rất chặt chẽ...

    2- Công An VN đã tiếp tay cho nhóm Giao Điểm: tiếp tay cho hành động in ấn và phát tán ra nước ngoài các số báo của Giao điểm nêu trên, dù là trực tiếp hay gián tiếp đi chăng nữa ( cho phép in ấn tại VN ; cho phép đem ra nước ngoài một cách dễ dàng ...như ông Quang đã thuật lại qua bài phỏng vấn ) thì coi như là họ đã ủng hộ nhóm Giao điểm này rồi ( hoặc là của họ) vì các mục đích tăm tối gì thì chỉ có trời mới biết !
    Tưởng cũng nên nhắc cho mọi người nhớ rằng ở VN vào thời kỳ đó cũng như bây giờ thì việc in ấn,xuất bản ra một văn hóa phẩm không phải là việc đơn giản ai cũng làm được ( không nói chuyện in lậu ! )- như chuyện phát hành tập thơ của Trần Dần là một ví dụ .

    3- Nay thì việc có cái tờ giấy giới thiệu kia hay không đi nữa thì cũng chẳng còn quan trọng
    : vì những nhơn vật trong cuộc đã tự mình khai báo bằng người thật việc thật hết rồi !
    Vì khi người ta cho đưa ra công khai cái tờ "Giấy giới thiệu có vấn đề " kia là cốt ý để ám chỉ
    Nhóm Giao điểm được Nhà nước,Công An VN hổ trợ, giật dây phía sau thì nay ông Bùi Hồng Quang đã lên tiếng xác nhận hết qua bài phỏng vấn kia rồi ...Vậy đi tìm sự thật -giả của cái giấy kia làm gì nữa ! »

     

    Về nhóm Giao Điểm

     

    Ai cũng biết nhóm Giao Điểm là một nhóm khét tiếng chống Công Giáo. Cứ thử vào trang web của nó và các trang liên kết, ngay cả trang web Sách Hiếm này, người ta nhận thấy có một điểm chung : Chống Công Giáo. Một điểm khác nữa đã được độc giả nhận xét là « giaodiemonline có nội dung như tờ báo an ninh văn hóa » (http://blog.360.yahoo.com/blog-YdCPzKchbrLbm9N3neWtnR3kog--?cq=1&p=368). Một thành viên khét tiếng bôi nhọ Công Giáo là ông Trần Chung Ngọc mới đây đã bị tác giả Nguyễn Tường Tâm phê bình vạch trần là ủng hộ Cộng Sản, khi ông « đứng bên lằn ranh cộng sản công kích một người minh thị quan điểm chống cộng. Giữa hai người chỉ khác một điều, bà Ánh minh thị tuyên bố trong buổi đón nhận giải thưởng Bảo vệ An ninh Tổ quốc Hoa Kỳ rằng bà là một người chống cộng sản Việt Nam, trong khi ông Ngọc không minh thị tuyên bố rằng ông là một người ủng hộ cộng sản, mà ông mượn lập trường dân tộc để bênh vực cộng sản ». Ở nơi khác, tác giả Nguyễn Tường Tâm đã nhận định : « về thực chất đây là một bài chính luận của một cán bộ cộng sản, hay ủng hộ cộng sản là ông Trần Chung Ngọc, chống đối quan điểm của một người lên án cộng sản là bà Dương Nguyệt Ánh » (chúng tôi tô đậm). Chúng tôi cũng đã có một bài nhận định về mối liên hệ giữa Giao Điểm và Cộng Sản VN (xin xem ở đây : http://vigiaohoiconggiaovn.spaces.live.com/blog/cns!47BCEBC38CCBF581!2194.entry)

     

    Xem tờ mục lục của Tạp Chí Giao Điểm số 65 mà họ đưa lên nhằm để biện minh đó, khi đọc các tiêu đề, người ta không thể không thấy nhưng hơi hướng chống Công Giáo ở trong đó.

     

    Cộng Sản VN tiếp tay cho Giao Điểm chống Công Giáo

     

    Việc Giao Điểm có phải là « công cụ » của Cộng Sản VN hay không thì không cần bàn tới nữa. Nhưng điều chắc chắn mà ông Quang đã cho thấy là rõ ràng Cộng Sản VN đã tiếp tay cho nhóm Giao Điểm này để chống phá Công Giáo. Với việc cho in ấn Tạp Chí của nhóm này, một nhóm khét tiếng chống Công Giáo lâu nay, nhà cầm quyền Cộng Sản VN đã tiếp tục cho thấy thái độ thù hận tôn giáo của nó, nhất là đối với Công Giáo. Chủ trương « đại đoàn kết dân tộc » của nó thực chất chỉ là một chủ trương mị dân và che mắt thiên hạ, chứ đằng sau đó, nó vẫn đang tìm cách tiêu diệt và bôi nhọ tôn giáo với chính sách hai mặt của nó. Thời gian vưa qua, thái độ thù hận tôn giáo này tiếp tục lộ rõ khi nó tiếp tục tung các dụng cụ tôn giáo của mình vào cuộc tranh chấp đất : Công Giáo quốc doanh Trương Bá Cần, với tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, và Phật Giáo quốc doanh. Nhóm Giao Điểm này cũng tự nhận là Phật tử để công kích tôn giáo. Thời gian ban đầu khi nó xuất hiện để công kích Công Giáo dưới danh nghĩa và chiêu bài bảo vệ đạo Phật, thế nhưng dần dần nó càng lộ rõ là một âm mưu chính trị nhằm tiêu diệt và bôi nhọ tôn giáo. Những ai ("vì lòng ngay") ở trong Ủy Ban « Đàn Két » Công Giáo VN hãy mở mắt thật to để xem một lần nữa âm mưu thâm độc của Cộng Sản khi biến tất cả thành « con cờ » chính trị của mình.

     

    Về những lên án VietCatholic

     

    Trong cuộc phỏng vấn, ông Quang đã minh nhiên cho rằng VietCatholic là « bất chính » khi có hai tấm ảnh tài liệu đó nhờ "tay chân", và cả Sách Hiếm đều khẳng định nguồn gốc đầu tiên xuất hiện hai tấm hình tài liệu đó là từ VietCatholic. Ở đây, thái độ của những kẻ chụp mũ này mới là bất chính. Vì với tư cách là một cơ quan thông tin, việc có thông tin hay tài liệu như thế do độc giả gởi đến là chuyện bình thường. Vả lại, khi đăng bản tin đo, VietCatholic đã cẩn thận đánh dấu chấm hỏi đằng sau đó. Điều đó cũng có nghĩa là VietCatholic chưa khẳng định một trăm phần trăm là chính xác thông tin trên. Thế nhưng ông Quang và nhóm Giao Điểm của ông cũng như Sách Hiếm đã biểu lộ sự bối rối lúng túng đến nỗi đã dại dột tổ chức một cuộc phỏng vấn nhằm thanh minh thanh nga. Và kết quả là ông Quang đã tự thú tất cả. Bầy giờ thì không ai còn đặt dấu hỏi liệu Giao Điểm qua ông Quang, có đưa tài liệu về in ấn ở VN hay không, cũng không cần phải thắc mắc liệu Cộng Sản VN đã tiếp tay cho Giao Điểm chống Công Giáo hay không ! Vì tất cả đã rõ như ban ngày. Nhưng hồ nghi về giây mơ rễ má giữa Giao Điểm và Cộng Sản một lần nữa đựoc làm sáng tỏ bởi một thành viên của nhóm Giao Điểm.

     

    Còn về việc có phải VietCatholic là trang web đầu tiên đăng thông tin đó không thì cần xem lại. Tôi là một người theo dõi tường tận vấn đề nên biết rõ rằng trang VietCatholic đăng sau trang web của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (còn trước DCCT VN là ai nữa thì cần xem xét thêm). Tôi đã thử kiểm chứng về thời gian đăng tin giữa hai trang web này, nhưng rất tiếc là bên trang web của DCCT VN, trong mỗi bài đăng không có ghi rõ thời gian. Tuy nhiên với lời giới thiệu này, cho thấy DCCT VN đã đăng tin cách độc lập, chứ không phải là lấy lại từ VietCatholic : "Một độc giả đã gởi cho chúng tôi 2 bản văn này, mời các bạn xem qua"
    (
    http://www.chuacuuthe.com/chiase/9620ca.html). Vả lại, vấn đề bây giờ không phải là ai đưa tin đó đầu tiên, nhưng là nó có hay không? Và ông Quang đã trả lời quá rõ ràng rồi !

     

    Ở trên chúng tôi có nói cuộc phỏng vấn có yếu tố « dàn xếp » trước, vì, ví dụ rõ ràng nhất là khi nghe ông Quang nói trong giấy tờ VietCatholic đưa lên "có vấn đề", thì người phỏng vấn hỏi một cách ngon lành ngay lập tức là : "Anh nói “tờ giấy” mà VietCatholic đăng là "có vấn đề", có phải một câu gồm hai mệnh đề không "ăn nhập" gì với nhau: “Ðây là tạp chí có nội dung thuần túy tôn giáo", và "phục vụ cho việc tuyên truyền vận động đường lối chính sách của Ðảng và Nhà nước ta”, anh nghĩ có phải như thế không?" Đóng kịch với nhau không sai tí nào.

     

    Vả lại cũng cần cho thấy lý luận « ngây ngô » hay giả vờ ngây ngô của ông Quang. Ông nói : "Nếu Giao Ðiểm thực sự là một bộ phận tuyên truyền cho nhà nước Việt Nam thì cần gì phải khổ cực lo xin giấy phép?". Có phải ai ai ở Hải quan cũng biết Giao Điểm đâu ? Vả lại có biết đi nữa, thì cũng luôn có giấy tờ bằng chứng bảo đảm. Hải quan cũng phải cầm cái "cán" để có bất trắc gì thì họ có bằng chứng là có giấy giới thiệu đây, chúng tôi làm theo chỉ thị. Vả lại, có phải ai ai ở hải quan cũng biết tên và mặt mũi ông Quang đâu, nên cần có giấy giới thiệu, với tên tuổi, số passport ....chứ !!!

     

    Để khỏi mất công dài dòng, chúng tôi xin kết lại. Việc tranh luận thực hư của hai tấm ảnh tài liệu đó là không còn cần thiết nữa. Bởi vì ông Quang, qua cuộc phỏng vấn, đã tự thú tất cả : Chính ông đã đem tài liệu của Giao Điểm về VN in ấn và Cộng Sản VN đã tiếp tay cho hành động chống phá Công Giáo của nhóm Giao Điểm. Vả lại khi khẳng định "Vì số lượng hơn 400 cuốn nên tôi sợ Hải quan phi trường làm khó dễ nên phải nhờ người xin phép cho chắc ăn", ông Quang đã thừa nhận cách nào đó hai "tấm hình tài liệu" trên và ông chỉ phân vân không biết làm sao mà nó bị lọt ra ngoài vào tay VietCatholic.

     

    Công Lý 

     

     NB: Trên trang VietCatholic, người cung cấp thông tin về hai tấm hình tài liệu này lấy tên là Thiên Sứ. Nếu ai theo dõi thông tin, thì chính Thiên Sứ đã có bài tường thuật mô tả chuyện "cấm cung" của Ủy Ban "Đàn Két" Công Giáo VN. Như thế thì ....

    March 06

    NHÂN ĐỌC Ý KIẾN CỦA ÔNG TRẦN CHUNG NGỌC TRÊN TALAWAS

     
    NHÂN ĐỌC Ý KIẾN CỦA ÔNG TRẦN CHUNG NGỌC TRÊN TALAWAS
     
    (Xem ý kiến ông Ngọc trả lời Hoàng Cúc ở đây)
     
    Nhân đọc ý kiến mới đây của ông Trần Chung Ngọc trả lời cho ông Hoàng Cúc trên Talawas, ngày 6/03/2008, tôi không thể không lên tiếng đối với ông Ngọc về những gì ông đã nói. 
     
    Trước tiên, đọc những bài viết của ông nói chúng, chưa đi vào nội dung, thì chúng tôi đã thấy ông biểu lộ một tư cách thiếu nhân bản và văn hóa. Cụ thể trong bài viết mới đây nhất của ông "Thử phân tích một đoạn văn về phá Chùa Báo Thiên để xây nhà thờ của André Masson", ông đã dùng kiểu nói hận thù, thiếu văn hóa « một tên thực dân khét tiếng » để gọi Giám mục Puginier. Ông tự hào về « văn hóa » Việt Nam, « dân tộc » VN, vậy mà văn hóa VN đâu cho phép gọi tên một người trống không Puginier như ông đã làm trong bài viết của ông. Đây cũng là điều mà tác giả Nguyễn Tường Tâm đã phê bình ông Ngọc trong bài viết « Một bài viết thiếu tiêu chuẩn khoa học của ông Trần Chung Ngọc" của mình (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11314&rb=0306). Tác giả Nguyễn Tường Tâm nhận xét : « Trong bài viết, ông Ngọc đã tỏ ra thiếu phong cách (đạo đức/ ethics) của một người viết bình thường chứ đừng nói là phong cách của một nhà khoa học ». Cũng không lạ gì khi TS Lê Tuấn Huy đã nói thẳng với ông Ngọc rằng : "Một bài viết tràn ngập văn ngôn hung hãn, hằn học, thù hận như bài "Tôi đọc Nguyễn Hữu Liêm và Lê Tuấn Huy" của Trần Chung Ngọc hoàn toàn không đáng để tôi phải đọc hết và đọc kỹ chứ đừng nói là đối thoại!" (http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA--?cq=1&p=566#comments).

    Liên quan đến bài viết này của ông Ngọc, Hoàng Cúc đã lưu ý cho độc giả 3 điểm. Ông Ngọc, qua ý kiến trả lời Hoàng Cúc của mình nói trên, đã đáp trả lại được điểm 1 (nhưng cũng ngụy biện !), còn 2 điểm kia thì ông ngậm câm.

     Liên quan đến điểm 2, tôi tự hỏi, tại sao ông lại nói cách tỉnh bơ và chắc chắn là « Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ là một con chiên Ca-Tô Việt gian, là đầy tớ của Puginier ». Làm sao một người tự xưng là « Tiến sĩ » lại có thể ăn nói hồ đồ vô bằng cớ như thế, đến khi Hoàng Cúc hỏi lại rằng ông đã « rửa tội » Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ khi nào để rồi gọi Tổng Đốc là « con chiên Ca-Tô Việt gian »  thì ông không trả lời được ! Như vậy là ông tự dựng nên một hình nộm, rồi quay ra đánh chính hình nộm mình dựng nên. Qua đó , ông Ngọc đã cho mọi người lưu ý về lối ăn nói bất chấp cả sự thật , đi ngược lại với lý trí của một người làm khoa học, của một người làm việc trí thức ! Người ta sẽ đánh dấu hỏi thật lớn về những lời phát biểu của ông lâu nay !!! Vậy mà một tờ báo Cộng Sản  lại ca tụng ông là một « trí thức Việt kiều » (http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/khoahoc-vanminh/2008/1/51993.cand). Tờ báo này trích lại bài viết của ông Ngọc đã bị tác giả Nguyễn Tường Tâm phê phán trên.

    Liên quan đến câu bỏ sót mà Hoàng Cúc đưa ra trong điểm 1(“Il fit d’abord rechercher s’il existait encore quelque descendant du fondateur de la pagode, mort depuis plus de deux siècles, et naturellement n’en trouva pas.” Câu này đã được Lê Thiện dịch như sau: "Trước hết ông cho truy tìm xem còn có kẻ hậu duệ nào của người tạo dựng ngôi chùa đã qua đời trước đó hai thế kỷ không, và dĩ nhiên chẳng tìm được ai." ), Hoàng Cúc còn "nương tay" cho ông nên chỉ hỏi là ông « vô tình » bỏ quên không dịch hay sao , chứ đúng ra, Hoàng Cúc phải « tặng » cho ông Ngọc mấy chữ « thiếu lương thiện trí thức » như Hoàng Cúc đã tặng cho Trương Công Khanh mới đúng (Cũng lưu ý rằng tác giả Nguyễn Tường Tâm đã từng phê bình ông Ngọc là người không có đạo đức của kẻ cầm bút). Bởi vì câu đó rất quan trọng để giúp hiểu được quá trình chuyển giao mảnh đất tranh chấp đó và nó góp phần vào việc phản bác các luận điệu sai làm của nhóm Giáo Điểm Cộng Sản của ông Ngọc là Công Giáo cộng tác với thực dân chiếm đất. Vậy mà ông Ngọc khi bị Hoàng Cúc vạch mặt, bí quá đành nói liều là ông cố tình bỏ câu đó đi không cần dịch, vi nó không có ý nghĩa gì. Quả là lòng hận thù Công Giáo đã làm cho con người ông ra u mê !


    Tiếp đến, ông nhảy sang biện minh cho việc « cố tình » bỏ rơi câu đó bằng các kiểu lập luận nực cười liên quan đến « văn hóa và xã hội VN » như :

    « Chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hoá lớn) của Phật giáo, nghĩa là của nước Việt Nam và toàn dân Việt Nam, không phải là của riêng Phật giáo, được Vua Lý Thánh Tông tạo dựng từ thế kỷ 11, và tuyệt đối không phải để cho các hậu duệ (nghĩa là các con cháu đời sau) của Vua làm sở hữu chủ ngôi Chùa đó.

    Vua là vua của cả nước, Chùa là cái thiện của làng, Vua xây Chùa là xây cái thiện cho toàn dân. Nhưng vì là một ngôi Chùa nên Phật giáo, nói đúng hơn là người dân theo Phật giáo ở địa phương có ngôi Chùa, có trách nhiệm quản lý. Chùa không phải là của riêng của bất cứ cá nhân nào, dù người đó là một vị sư trụ trì trong một khoảng thời gian. Nếu không có sư trụ trì thì người dân trong địa phương sẽ trông nom, vì trên nguyên tắc, ngôi chùa là của dân, không phải của cá nhân, cho nên không cần giấy tờ chứng minh ai là sở hữu chủ. Sư trụ trì không phải là sở hữu chủ của Chùa, cho nên việc truy tìm các sở hữu chủ của Chùa hay “hậu duệ” của họ là một việc làm không có ý nghĩa, và lẽ dĩ nhiên, các sư trụ trì đều không có “hậu duệ”.
    »

    Qua lập luận này của ông, người ta thấy nhiều mâu thuẫn không chỉ trong đoạn văn này mà còn trong cả việc nhóm Giao Điểm của ông đã xúc tiến lâu nay khi nhân danh « Phật giáo » để nhảy vào chấp đất.

    Ông cho rằng Chùa Báo Thiên là « của Phật Giáo », với lời giải thích « nghĩa là của nước Việt Nam và toàn dân Việt Nam, không phải là của riêng Phật giáo » . Nếu như thế, thì người VN, thuộc bất cứ tôn giáo nào, cũng đều có thể nói chùa là của tôi cả. Vậy thì, bây giờ , mọi người có thể đến các chùa chiền để đòi chia đất, chia chùa… nhất là những chùa thuộc di sản văn hóa, vì chúng thuộc về toàn dân VN, của Nước VN ??? Nói cách khác, ông Ngọc đã tước đi chủ quyền sở hữu pháp lý hiện nay của Phật giáo đối với tất cả chùa chiền . Và việc « Phật giáo » nhảy vào tranh chấp đất như văn thư của HT Thích Trung Hậu, cho rằng Phật giáo « dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là chủ sở hữu của cơ sở này trong 825 năm… » là một việc làm hoàn toàn sai trái. Ông Ngọc đúng là nói "hàng hai". Trước đây xúi giục Phật giáo vào tranh chấp , bây giờ một cách nào đó ông đã xổ toẹt cái văn thư này của HT Thích Trung Hậu và « ủng hộ » Công Giáo đòi đất, vì người Công Giáo VN là người VN, thuộc dân tộc VN, « đồng hành với dân tộc VN » như ông Trần Đình Phùng, vụ trưởng vụ tôn giáo và dân tộc, đã nói, hay là « một bộ phận quan trọng của đất nước » như Đảng ta luôn hay nói.

    Sau hết, cái sai lầm nguy hiểm nữa trong ý kiến của ông Ngọc là ông đồng hóa một tôn giáo với dân tộc, đất nước. Đi từ khẳng định "của Phật giáo" để chuyển sang "của nước VN và của toàn dân VN" là một khẳng định hoàn toàn hàm hồ và nguy hiểm.  Vả lại, khi khẳng định "chùa là cái thiện của làng" thì ông Ngọc đã vô tình hay cố tình quên những đoạn phê phán nhà Lý liên quan đến chùa chiền, ví dụ như đoạn phê bình sau của Lê Văn Hưu trong Dại Việt Sử Ký Toàn Thư 
     (ĐST q2, tờ 3b, 4a):
     
     “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo con cái xa xỉ lười biếng, thế mà thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng qúa nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc chẳng phải từ đấy?” (Xem thêm những lời phê bình này trong bài viết "Tháp Báo Thiên (1057) trong bối cảnh lịch sử thăng trầm của đất nước" của Lm Hồng Kim Linh ở đây.)
     
    Đó là chưa kể đến " cái thiện của làng", cái thiện của toàn dân" này về sau dưới thời của Hồ  Quý Ly và Quang Trung đã trở thành một trong những "Pháp nạn" của Phật giáo, như thẩm phán Lữ Giang đã ghi lại như sau :
     
    "Để có tài nguyên chống lại giặc Thanh, vua Quang Trung (1788 – 1792) đã chơi bạo hơn: Ông ra lệnh đập phá hầu hết các chùa, đem tượng Phật và chuông chùa ra đúc vũ khí, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhâp ngũ hay đi lao dịch... Nhờ vậy, Quang Trung đã thắng trận vẽ vang. Tập “Tonkin et Cochinchine” của các nhà truyền giáo Pháp đã ghi: “Họ đã cướp phá chùa và họ đã đốt những ngôi chùa danh tiếng nhất của các cựu vương Bắc Hà.” Vua Quang Trung không không cho phép mỗi làng đều có chùa như trước. Ông ra lệnh phá hủy các chùa riêng và tuyên bố khoảng 200 làng mới có thể họp lại để xây một ngôi chùa chung".
     
    Ai cũng biết, ngày nay, Vua Quang Trung được tôn vinh như là "anh hùng dân tộc", không hề cấu kết với thực dân, vậy mà dưới thời của ông, tại sao ông lại gây ra "Pháp nạn" cho Phật giáo, một tôn giáo luôn đồng hành với dân tộc như vậy ?
     
    Một vài nhận xét để nhắc nhở ông Ngọc đừng có hàm hồ ngụ ý đồng hóa Phật giáo với dân tộc. Phật giáo cũng như các tôn giáo khác ở VN cũng chỉ là một bộ phận của dân tộc. Phật giáo là một tôn giáo lớn không chỉ ở VN nhưng còn trên thế giới và ai cũng biết Phật giáo có những đóng góp to lơn cho dân tộc và đất nước VN, nhưng dân tộc là dân tộc, đất nước là đất nước và tôn giáo là tôn giáo. Nếu vào một thời điểm mà những khái niệm này chưa hề được tách bạch, thì việc lập lại sự lẫn lộn này trong thời đại hôm nay, liên quan đến vụ Tòa Khâm Sứ, là một điều hết sức phi lý và nguy hiểm. Bài viết này cũng cho thấy cái tai hại của một lý trí bị che lấp bởi lòng thù hận sẽ đưa đến những sai lầm như thế nào.

    Công Lý
    March 05

    Hoàng Cúc trả lời Trần Chung Ngọc + Ý kiến của một anh Thợ Rèn về Vụ Cầu Nguyện ở Tòa Khâm Sứ

     
     
    Hoàng Cúc trả lời Trần Chung Ngọc

    Đọc bài "Thử phân tích một đoạn văn về phá Chùa Báo Thiên để xây nhà thờ của André Masson" của Trần Chung Ngọc đăng trên talawas ngày 4-3-2008, tôi thật lòng không muốn phí phạm thời giờ để tranh cãi với Trần Chung Ngọc. Tuy nhiên, tôi xin nêu ra vài điểm để độc giả hiểu rõ vấn đề:
    1. Trần Chung Ngọc đã vô tình bỏ quên không dịch một câu trong nguyên văn tiếng Pháp của André Masson: “Il fit d’abord rechercher s’il existait encore quelque descendant du fondateur de la pagode, mort depuis plus de deux siècles, et naturellement n’en trouva pas.” Câu này đã được Lê Thiện dịch như sau: "Trước hết ông cho truy tìm xem còn có kẻ hậu duệ nào của người tạo dựng ngôi chùa đã qua đời trước đó hai thế kỷ không, và dĩ nhiên chẳng tìm được ai."

    2. Không hiểu Trần Chung Ngọc đã rửa tội cho Nguyễn Hữu Độ từ lúc nào để phù phép cho ông trở thành "con chiên Ca-Tô Việt gian"?

    3. Như tôi đã nêu lên trong bài viết trao đổi với Trương Công Khanh, việc các linh mục Landais và Bonfils mua những mảnh đất trải rộng từ phía nam chùa Báo Thiên tới phía bắc Trường Thi đã diễn ra trước năm 1876. Việc chuyển giao khu vực chùa Báo Thiên cho Giám mục Puginier diễn ra vào năm 1883. Thời điểm đó, người Pháp vẫn chưa chính thức đặt chế độ bảo hộ (Protectorat) tại Bắc Kì, chính quyền vẫn thuộc về triều đình nhà Nguyễn.
     
     
    Nguồn : Talawas
     
     
    Trần Chung Ngọc là kẻ không có đạo đức của người cầm viết và thiếu lương thiện tri thức. Xem bài tác giả Nguyễn Tường Tâm đã phê bình Trần Chung Ngọc ở đây.  Luôn luôn chửi bới, nhục mạ người khác ....Đó cũng là điều mà tác giả Nguyễn Tường Tâm nhận xét. Tiến sĩ Lê Tuấn Huy thì nói thẳng : "Một bài viết tràn ngập văn ngôn hung hãn, hằn học, thù hận như bài "Tôi đọc Nguyễn Hữu Liêm và Lê Tuấn Huy" của Trần Chung Ngọc hoàn toàn không đáng để tôi phải đọc hết và đọc kỹ chứ đừng nói là đối thoại!"
     
     
     
    VietCatholic News (Thứ Ba 04/03/2008 18:25)
     
    Ý kiến của một anh Thợ Rèn về Vụ Cầu Nguyện ở Tòa Khâm Sứ

    Tui là một người giáo dân ở vùng xô viết Nghệ Tĩnh, nơi đã chịu thiệt thòi về thời tiết, kinh tế và tôn giáo. Thợ rèn tui có chút thiệt thòi khi cái vụ cầu nguyện đòi đất ở Tòa Khâm sứ, Thái Hà và Hà Đông diễn ra. Số là tui có một cái máy tính cũ kỹ do đứa con vừa tốt nghiệp đại học để lại. Sau khi xin được việc, nó gấp rút bày cho tui cách vào mạng internet. Nó đi rồi, tui mới khổ làm sao về cái vụ vượt tường lửa để vô mạng VietCatholic. May mà có cha xứ chỉ cho tôi cách vô mạng. Ngài lại còn chỉ cho các trang Công giáo khác nữa: nào là Veritas, Chúc Cứu Thế, v.v… Hay nhất là vô trang tìm kiếm www.google.com và đánh chữ cần tìm, ví dụ Tòa Khâm Sứ, thì tha hồ mà đọc. Hóa ra cái trình độ văn hóa thật là cần thiết trong thời đại này.

    Hôm nay có hai vợ chồng bà con ở Hà Nội vô thăm tui. Họ kể cho tui nghe chuyện Tòa Khâm Sứ, chuyện Thái Hà. Nó đúng như những gì mà tui đọc được trên mạng. Cảm xúc khi được nghe một người trực tiếp đến cầu nguyện ở đó kể lại thật là đặc biệt. Hơn nữa người đàn ông còn nói rằng chính ông là một trong những người mang tượng Đức Mẹ Sầu Bi vào đặt ở Tòa Khâm Sứ. Có một điều trên mạng không nói tới là: cho đến bây giờ, ngày 04/3/2008, thì vẫn có người đến cầu nguyện tại Tòa Khâm Sứ hằng ngày, đông nhất là vào ngày thứ Bảy và Chúa nhật. Còn một điều nữa là cho cho người vào để cắm hoa và dọn dẹp nơi tượng Đức Mẹ Sầu Bi.

    Trước đây tui cứ nghĩ cái từ "phố Đức Bà" là do các anh phóng viên trên mạng đặt ra, nhưng mà bây giờ tui nghe chính miệng một bà già người Hà Nội nói. Tên phố Đức Bà nổi tiếng đến mức mà bà quên luôn cái tên phố cũ của nó. Ở Thái Hà trước chỉ có 1 cái lều, nay có thêm 2 cái lều nữa. Có lẽ giáo dân thấy "ở đây hay lắm, nên làm 3 lều" cho giống câu chuyện trên núi Tabor chăng! Bây giờ người ta thường đi du lịch ở đâu, còn tui mong được đi thăm Hà Nội, để hòa vào dòng người đến cầu nguyện những nơi nổi tiếng đó. Được như vậy có thể sẽ thêm đức tin, đức cậy, đức kính mến hơn. Ước được như thế!

    Tui thật sự xúc động và cảm phục về đức tin và lòng can đảm của bà con giáo dân Hà Nội, những người chịu cảnh rét mướt khi đứng ra đòi công lý. Và tui còn cảm phục hơn nữa khi nghe tin Đức Cha Kiệt nói sẵn sàng đi tù vì giáo dân của mình. Tui rất vui khi có người ở Nam Định nói muốn lên thủ đô đi tù thay cho giáo dân Hà Nội. Ở dưới quê hiện không có việc làm, mà đối với người dân tụi tui thì đi tù vẫn còn sướng hơn ở nhà, vì không phải vất vả làm ăn. Ở trong tù lại có các cha, các bà xơ và có cả đức cha; không chừng người ta còn làm nhà thờ trong tù nữa thì vui lắm.

    Ngoài ra tui cũng nói lên điêù này là trước đây tui không ưa đức cha Sang lắm, vì hay thấy ngài viết trên báo 'Người Công giáo Việt Nam'. Sự kiện Tòa Khâm Sứ xảy ra, thấy ngài là một chủ chăn nhiệt tình ủng hộ và các bài viết của ngài cũng khá hay. Bây giờ tôi mới thấy quý và cảm phục ngài. Kể cũng phải: 77 tuổi thì biết mệnh trời rồi. Phải chăng lời nói của những người già đáng cho chúng ta nghe theo. Cứ theo cái đà này thì không lâu nữa đâu mọi việc sẽ được đưa ra ánh sáng hết.

    Chẳng bù cho ông cụ Trương Bá Cần lẩm cẩm ở Sài Gòn, không xứng danh là một linh mục Công giáo chút nào cả. Chúng tôi là những người giáo dân vốn tôn trọng hàng linh mục, vì họ có chức thánh. Chúng tôi đề nghị ông đừng dùng danh xưng 'linh mục' ở đầu tên của ông nữa. Ngay cả báo "Công giáo và gian tặc" của ông chúng tôi đã tẩy chay từ lâu rồi. Tôi cũng đề nghị các phóng viên đừng trích những lời của báo gian tặc đó trên mạng. Hễ đọc được những lời từ báo này là tui tức đến lộn ruột lên được. Nếu chúng ta không đọc, không mua, không nói đến thứ báo đó nữa, thì nó sẽ mong chóng sập tiệm mà. Quý vị có tin không?

    Tui làm một chân trong ban hành giáo xứ. Năm ngoái, tui cũng được người ta biếu cho báo 'Người Công giáo Việt Nam', nhưng tui không đọc. Ở xứ tui thì cha xứ và ban hành giáo 'bị' biếu 2 số báo công giáo giỗm đó mỗi tuần. Cha xứ của tui nói ngài "không ưa đọc thứ báo đó, các ông muốn đọc thì đọc, nhưng phải biết rằng: đây là báo nhà nước mang danh Công giáo, chứ không phải báo đạo. Muốn biết tin chính xác thì nghe đài ngoại quốc hay vô mạng mà đọc". Và chẳng hiểu mô tê gì mà năm nay không thấy họ đưa thứ báo đó tới nữa. Hoan hô cán bộ nhà nuớc vì đã không gửi báo 'Người Công giáo Việt Nam' cho tui!

    Thợ rèn tui xin đóng góp một số ý kiến lan man như thế để quý độc giả xem khi trà dư tửu hậu. Tui sẽ trở lại nếu tui có thời gian.
     
    Thợ Rèn Nghệ An
     
    March 04

    Lại trò chia rẽ tôn giáo của Cộng Sản VN !

     

      Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận: Lại trò chia rẽ tôn giáo của Cộng Sản VN !

     

    (Tải Bán Nguyệt San TDNL số 46 ở đây).

     

     

    Cách đây vài năm, sau khi Hội đồng Giám mục Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền CS trả lại 17 trên 23,5 ha đất mà họ đã chiếm đoạt của linh địa La Vang, thì một sư ông thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Phật giáo quốc doanh) tại Quảng Trị đã làm đơn khiếu kiện. Ông ta cho rằng cách đây hơn hai thế kỷ, trên vùng đất La Vang ấy từng có một ngôi chùa, nhưng sau đó đã bị bên Công giáo chiếm đoạt và phá hoại để xây lên một nhà thờ, thành ra Phật giáo hôm nay phải đòi lại. Trong thực tế, theo tài liệu lịch sử, đấy chỉ là một cái am nhỏ được các tiều phu Phật tử tạm dựng lên giữa rừng Lá Vằng để thờ một Bà lạ hiển linh mà họ cho là Phật bà Quan âm của họ. Nhưng sau khi biết Bà lạ đó là Đức Mẹ của bên Công giáo, họ đã thuận tình giao lại am nhỏ này cho các Kitô hữu thuộc giáo xứ Trí Bưu, Quảng Trị. Về sau tại đó, một ngôi nhà thờ to lớn đã được xây lên.

     

                Dù sao, luận điệu nói trên cũng được xài lại trong vụ Tòa Khâm sứ ở Hà Nội. Phát súng mở đầu xem ra là “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt TGM Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ” đăng trên báo điện tử “phattuvietnam.net” ngày 17-1-2008. Tác giả giấu tên cho rằng khu đất Tòa Giám Mục Hà Nội và Tòa Khâm Sứ hiện giờ là Chùa và Tháp Báo Thiên của Phật Giáo trước đây, nhưng đã bị thực dân Pháp chiếm đoạt, đập phá rồi giao cho Công Giáo xây Tòa Giám mục và Nhà Thờ lớn Hà Nội. Hôm sau, 18-1-2008, báo điện tử này đăng tiếp bài thứ hai nhan đề “Tâm thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đòi Toà Khâm Sứ” của một người ký tên “Phật tử Tâm Minh Nguyễn Quốc Dũng”, cũng cùng luận điệu tương tự. Đến ngày 03-02-2008, ông Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng ban Tôn giáo CSVN, người từng đứng đầu một cơ quan chuyên kiểm soát, kềm kẹp, chia rẽ và triệt hạ các tôn giáo, cũng góp mặt với bài “Lịch sử Phố Nhà Chung”. Với nhiều lối nói dóc đến nực cười, bài viết cũng nhắm gây mâu thuẫn giữa Phật Giáo và Công Giáo để hai tôn giáo này đánh nhau thay vì đánh chế độ. Nhưng giọt nước làm tràn ly có lẽ là bức thư ngày 16-02-2008, ký tên Hòa thượng Thích Trung Hậu, thuộc Giáo hội Phật giáo VN, gởi Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Bức thư khẳng định: Tòa Khâm sứ (và Nhà thờ lớn Hà Nội) đã được xây trên đống đổ nát (vì bị Thực dân và Công giáo đập phá) của Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước. Đó là chưa kể bao nhiêu bài khác phát xuất từ một công cụ đắc lực của CS tại hải ngoại là nhóm Giao Điểm.

     

     

                1- Chiến dịch đánh phá này -một chiến dịch có tổ chức, điều động bởi một bàn tay lông lá mà mọi người biết rõ là của ai- đã có cái hay là khiến người ta giở lại những trang sử cũ và xét lại những lối lập luận được sử dụng. Từ đó khám phá ra hai sai lầm: sai lầm về lịch sử và sai lầm về thời hiệu.

     

                a- Sai lầm về lịch sử: Những tài liệu lịch sử do chính Đảng và Nhà Nước CSVN phổ biến, chẳng hạn cuốn “Tự Điển Hà Nội Địa Danh” do Bùi Thiết biên soạn (nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 1993) đã nói về Chùa Báo Thiên như sau: “Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm, hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá hủy hoàn toàn (tr. 26) và về Tháp Báo Thiên như sau: “Tòa tháp dựng năm 1057 trước Chùa Báo Thiên, tên chữ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp có 13 trượng (chừng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên bằng đồng. Đỉnh tháp bị trận bão năm 1258 làm đổ, và phần đồng bị sét đánh bạt năm 1332. Tháp Báo Thiên là một trong những vật báu của Đại Việt thời Lý–Trần. Năm 1427, khi bị vây hãm ở Đông Quan, giặc Minh đã tháo gỡ hết đồng ở tháp để đúc súng đạn. Năm 1547 tòa tháp bị đổ sập nốt phần đá. Cuối thế kỷ XVIII tháp bị phá hủy. Trên nền chùa–tháp họp chợ Báo Thiên (tr. 26). Như vậy, theo tài liệu của Đảng và Nhà Nước CSVN, Chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên đã bị phá hủy hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII và khu đất đó đã được dùng làm nơi họp chợ, thậm chí làm bãi pháp trường. Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815) trong sách “Tang thương ngẫu lục” và bộ “Đại Việt Sử ký toàn thư” cũng không nói gì khác. Sau đó khu đất đã được Tổng Ðốc Hà Nội Nguyễn Hữu Ðộ cấp cho Giám Mục Puginier cuối thế kỷ XIX (khoảng năm 1883) để xây dựng một số cơ sở của Giáo phận. Thành ra không hề có chuyện Công Giáo xâm chiếm, phá hoại nhà Chùa để xây dựng nhà Chúa !

     

                b- Sai lầm về thời hiệu: Chuyện đất Tòa Khâm sứ xưa kia có là của chùa Báo Thiên hay không, là chuyện của quá khứ đã qua đi hơn một trăm năm rồi, chẳng còn một chứng nhân lịch sử nào còn sống để mà nói lên sự thật cho chúng ta hay. Ông Tây, ông Sư hay ông Cố đều đã nằm dưới những nấm mồ, và thân xác đã mục nát với thời gian. Ngòai ra, cũng không ai tìm được những chứng cứ xác nhận chủ quyền khu đất này là của ai, trước và sau khi có chùa, cũng như trước và sau khi chùa biến thành đất Nhà Chung. Chứng từ duy nhất có tính pháp lý hiện nay, là giấy chủ quyền mà Tòa Tổng giám mục Hà Nội nắm trong tay” (Lm Thiện Cẩm, Nhà Chúa hay Nhà Chùa, VietCatholic News 21-02-08). Ông Lê Tuấn Huy, qua bài “Xin hãy dừng lại trước khi qúa muộn” trên diễn đàn điện tử Talawas ngày 20-01-08, cũng lập luận tương tự. Ông thấy có sự lẫn lộn giữa lịch sử và hiện thực. Theo ông, khi một trong các bên chủ thể của tranh chấp không còn tồn tại, hoặc khi đã qua một thời gian đủ lâu, lúc mà các chủ thể trực tiếp đã biến thành các chủ thể hậu duệ, thì xem như lịch sử đã được xác lập. Không ai thay đổi được lịch sử và không ai có thể giải quyết được mọi hậu quả của lịch sử. Trong khi đó hiện thực là cái ta phải đối mặt và có thể thay đổi. Về lịch sử, chính quyền thực dân Pháp, chủ thể phát đất cho Công Giáo xây nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác, đã trở thành cát bụi từ lâu. Những người bị lấy đất cũng chẳng còn để có thể khiếu nại. Không thể viện quyền thừa kế vì khi đó chỉ có các cá nhân tu sĩ và Phật tử, chưa có Giáo Hội Phật Giáo, nên chưa có tập đoàn có tư cách pháp nhân. Vả lại Phật Giáo và Công Giáo vẫn sống hài hòa từ đó tới nay, chẳng ai thắc mắc, chẳng ai đòi gì của ai.

     

    Tại sao bây giờ lại moi ra vấn đề đã đi vào lịch sử? Về hiện thực, ngược lại, chính quyền CS lấy nhà đất tòa Khâm Sứ năm 1959 vẫn còn đó, những người thừa kế quyền sở hữu vẫn còn đó với giấy tờ đầy đủ, nên việc khiếu nại có cơ sở (x. Mặc Giao, Đừng đánh lạc mục tiêu, đừng đánh tráo chủ đề”).

     

            2- Chiến dịch đánh phá đó cũng có cái hay thứ hai là khiến người ta lại thấy thêm lần nữa trò “chia để trị”, âm mưu “phân rẽ để khống chế” mà Cộng sản là bậc thầy, đồng thời nhận ra được mánh lới dùng giáo gian của họ, tức dùng những kẻ dù mang danh chức sắc tôn giáo, vẫn là công cụ đê hèn của một chính đảng vô thần và một chế độ bất công.

     

            a- Âm mưu chia để trị: Cuối năm 2007 vừa qua, tay bồi bút nổi tiếng của chế độ là Tô Nhuận Vỹ, trong bài viết đăng trên mạng điện tử Talawas, đã kêu gọi các nhà văn trong và ngoài nước ngồi lại với nhau để “góp phần vào nỗ lực hòa hợp hòa giải dân tộc”. Những ngày đầu năm 2008 này, trên các con đường tại VN, người ta lại thấy nhan nhản khẩu hiệu “Vận dụng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để canh tân đất nước”… Nhưng trong thực tế, vụ Tòa Khâm sứ và Chùa Báo Thiên đã cho thấy CS tiếp tục sử dụng mánh lới “trai cò mổ nhau, ngư ông đắc lợi”, đặc biệt lần này nhắm vào các tôn giáo, hòng thoát khỏi vấn đề hóc búa là trả lại vô số tài sản mà CS đã tịch thu của các Giáo hội tại VN. May thay, ngoại trừ thành phần Phật tử thần phục CS trong GHPGVN ở quốc nội và thành phần CS đội lốt Phật giáo trong nhóm Giao Điểm ở hải ngoại vốn đã kêu gọi Bà con Phật Tử hãy đến nơi gọi là “tòa khâm sứ” đòi bọn Việt gian Catô trả lại chùa Báo Thiên cho PGVN”, chẳng mấy ai rơi vào cái bẫy thâm độc này. Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23-2-2008, Hòa Thượng Không Tánh thuộc GHPGVNTN đã nhận xét về văn thư của HT Trung Hậu gởi cho ông Nguyễn Tấn Dũng như sau (ghi toát lược): Vấn đề là mình phải biết rằng do ai thúc đẩy, do lệnh của ai, nhắm mục đích gì mà HT Trung Hậu đã làm văn thư ấy… Ai cũng biết tài sản đó là của Tòa Khâm Sứ từ thời xa xưa rồi, lúc Hòa Thượng Trung Hậu chưa sinh ra và GHPGVN cũng chưa có… Bây giờ Nhà Nước CS thấy khó đáp ứng đòi hỏi, đấu tranh, nguyện vọng của bên Công Giáo, thì họ mượn tay của PGVN. Cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể giải quyết hay là đình lại. Riêng GHPGVNTN thì không liên quan và quan tâm đến chuyện ấy…”

     

            b- Mánh lới dùng giáo gian: HT Không Tánh đã kết luận bài phỏng vấn nói trên như sau: “Như vậy, GHPGVN trở thành tay sai để gỡ rối cho Nhà Nước, trước hoàn cảnh Nhà Nước không có cách để giải quyết vụ việc”. Trong cuộc hội luận trên đài Vietnam Sydney Radio sáng ngày 25-02-2008 với Lm Phan Văn Lợi, HT Không Tánh cũng khẳng định: “Văn thư của Hòa Thượng Trung Hậu là một vết nhơ cho Phật giáo” và rồi đặt câu hỏi: “Tại sao cụ Trung Hậu không lên tiếng đòi lại Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Phật giáo Quảng Đức cho đạo của mình?” Cơ sở Việt Nam Quốc tự này vừa bị nhà cầm quyền CS, hôm 23-02-2008, giao cho Công ty Berjaya của Malaysia để xây Trung tâm Tài chính Việt Nam, với tổng vốn đầu tư 930 triệu USD.

     

    Giáo gian nổi bật bên phía Công giáo lần này là cán bộ tôn giáo vận Trương Bá Cần với tờ báo phá đạo của ông, “Công giáo và Dân tộc”. Bất chấp lương tâm của một linh mục, tay bồi bút này đã một lòng phò chủ CS trong vụ cướp đất tòa Khâm sứ và vụ “truy tầm sở hữu chủ nguyên thủy” của hai nhà thờ lớn Sài Gòn và Hà Nội. Thói lý luận đầy ngụy biện, kiểu bênh chủ cách trâng tráo và việc ngang nhiên phủ nhận lịch sử của ông ta đã khiến người ta phải đặt vấn đề khai tử tờ báo ô nhục nói trên, và đồng thời với nó là Ủy ban Đoàn kết Công giáo, cái công cụ đầy thành tích phá đạo vốn đã là vết nhơ và là vết thương trên cơ thể Giáo hội VN suốt bao năm trời.                                         

     

      BAN BIÊN TẬP

     

     

     

    March 01

    Nhân đọc các bài về “đòi đất Toà Khâm cho Phật giáo”

     
    Nhân đọc các bài về “đòi đất Toà Khâm cho Phật giáo”
     
    Hoàng Đình Hưng
     
    Cứ theo những đường link được giới thiệu trong một số bài viết về tôn giáo hiện nay, tôi đọc được rất nhiều bài khác. Tôi đặc biệt chú ý tới vài bài nêu ý kiến “đất toà Khâm mà Công giáo đang muốn “xin lại” phải trả cho Phật giáo mới là chính đáng, vì “ngày xưa” nó thuộc Phật giáo.

    Trong tình hình hiện nay (trong nước và trên thế giới) nhiều người không tán thành những động thái làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có giữa các tôn giáo vì tai hoạ sẽ khôn lường. Niềm tin tôn giáo là niềm tin mạnh mẽ và sâu sắc nhất của con người, trước hết ở hầu hết tín đồ. Khi theo một tôn giáo, nhất là ở các nước dân trí chưa cao, thử hỏi có mấy người hiểu thấu đáo sự cao cả và nhân bản của giáo lý, hay là chủ yếu chỉ vì niềm tin vào “kiếp sau sẽ được lên thiên đường hay nát bàn”? Chính vì niềm tin mãnh liệt này (dù lý trí hay cảm tính), người ta sẵn sàng tử vì đạo. Bởi vì, niềm tin tôn giáo là thiêng liêng, nhưng số đông lại dễ mù quáng, dễ bị kích động. Chiến tranh tôn giáo là chiến tranh dã man và tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh. Ở Trung Hoa, đã từng có mâu thuẫn giữa các đạo, nhưng khi đạo Phật được du nhập từ Ấn Độ và được nhà Đường coi là quốc đạo thì lập tức xảy ra bạo lực đàn áp các đạo khác bị quy là tà đạo.

    Ở nước ta, mâu thuẫn tôn giáo cần lưu ý nhất là giữa hai tôn giáo lớn: đạo Phật (từng một thời gian dài là quốc đạo) và đạo Thiên chúa Gia-tô, hay Công giáo (đặt chân lên nước ta ít nhất từ 5 thế kỷ nay). Đây là mâu thuẫn tồn tại dai dẳng, đã nhiều lần bùng nổ và nay còn nhiều tiềm năng bùng nổ. Chính quyền ông Diệm bênh vực Công giáo đã bị chủ Mỹ lật đổ vì có sự phản kháng quan trọng của Phật giáo. Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản) đã ít nhiều lợi dụng được phong trào Phật giáo, ví dụ, đã đưa được đảng viên và cảm tình vào phong trào Phật giáo ở Huế những năm 60 thế kỷ trước.

    Một mục tiêu cao nhất của tôn giáo là chinh phục niềm tin, sao cho số lượng tín đồ ngày càng đông đảo. Thật đáng khâm phục ý chí, sự quyết tâm và lòng tận tuỵ của những chức sắc tôn giáo trong sự nghiệp tuyên truyền mở rộng khối tín đồ, dù đó là thầy trò Đường Tăng với đạo Phật, hay các vị cố đạo phương Tây đi theo các đoàn tàu buôn tư bản sang phương Đông xa lắc, đầy bất trắc, để “mở rộng nước Chúa”. Đã có nhiều giáo sĩ và giáo dân ở Việt Nam tử vì đạo, về sau được phong thánh. Việc buôn bán và chiếm thuộc địa là mục đích của tư bản, còn mục tiêu cao nhất của các vị cố đạo là truyền đạo. Đương nhiên, hai bên có sự dựa vào nhau, kết hợp với nhau và tạo thuận lợi cho nhau để rồi bị lên án là cấu kết. Sự “cấu kết” này ban đầu có thể là tự nhiên theo kiểu “nước nhờ mạ, mạ nhờ nước”, nhưng sẽ tiến tới có ý thức – như ta thấy đầy rẫy trong lịch sử từ xa xưa của tôn giáo, dù trong một nước hay trong quá trình xâm lược nước khác. Không thiếu gì chuyện chính quyền dựa vào tôn giáo để củng cố, duy trì sự thống trị; hoặc chuyện tôn giáo lợi dụng chính quyền để phát triển hoặc để chống lại một tôn giáo khác.

    Khỏi cần nói nhiều về mâu thuẫn giữa hai tôn giáo lớn nhất ở nước ta (và ở nhiều nước khác). Nhưng khi chủ nghĩa Mác-Lênin được du nhập vào Việt Nam – ban đầu chỉ là một lý luận về cách mạng (xin không bàn chuyện “đúng” hay “sai” của lý luận này) – thì mâu thuẫn giữa hai tôn giáo có phần biến dạng chứ không biến mất, bởi vì cả hai đạo này đều ít hay nhiều chịu sự kỳ thị của chủ nghĩa đó, như nó đã công khai tuyên bố: tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ dân, cần trừ bỏ để giác ngộ dân. Nó cũng công khai và hãnh diện về lý tưởng duy vật, vô thần của mình. Khi Đảng cộng sản cướp được chính quyền, thì sau giai đoạn giành độc lập dân tộc (cần đoàn kết toàn dân) là giai đoạn đấu tranh giai cấp để tiến lên chủ nghĩa xã hội (cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản, đàn áp nhóm Nhân văn – Giai phẩm; đoàn kết có lập trường) thì sự kỳ thị đạt tới đỉnh điểm, nhất là khi Đảng Cộng sản đặt chủ nghĩa Mác-Lênin thành một tôn giáo, một quốc đạo, dạy nó cho mọi thanh thiếu niên trong trường học; còn ngoài đời thì có hàng triệu tín đồ đã thành tâm giác ngộ “đạo” này. Rất nhiều nhà tu hành bị quy là địa chủ, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị thu hẹp phạm vi hoạt động tôn giáo đến tối đa. Điều này không khác với những gì tương tự đã diễn ra ở Liên Xô, Trung Quốc và Đông Âu khi phe XHCN còn tồn tại.

    Trong quá trình tôn giáo hoá một chủ nghĩa, đã có nhiều chiến sĩ cộng sản “tử vì đạo” ngay ở giai đoạn đấu tranh bí mật, và càng có nhiều ở giai đoạn giành chính quyền và bảo vệ chính quyền – ở miền Bắc cũng như sau đó ở miền Nam. Đồng thời, khi đã giữ được chính quyền cả nước, đảng này càng có ý thức mở rộng khối tín đồ, quảng bá niềm tin, tới mức hiện nay đã có tới 3 triệu đạo hữu và vài chục triệu cảm tình viên trong các đoàn thể chính trị – gồm cả đoàn thể tôn giáo. Đó là những đoàn thể có đại diện trong Quốc hội và trong cấp trung ương của Mặt trận Tổ quốc. Và, như một tôn giáo, nó cũng cấm mọi người phỉ báng giáo lý của nó và cũng đối xử khắc nghiệt với các tôn giáo khác.

    Có thể nói, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa chinh phục được trái tim của Công giáo, nhưng đã hạn chế được tối đa sức mạnh vật chất, ví dụ tịch thu cơ sở và đất đai, hạn chế đào tạo, truyền bá… theo kiểu vặt bớt lông, cánh. Đây là một tôn giáo có niềm tin cao, có kỷ luật và có hệ thống tổ chức quốc tế, rất không dễ thuần hoá. Các vị linh mục khi tham gia một tổ chức do Đảng thành lập nếu chỉ đơn thuần thể hiện lòng yêu nước, lo dân sinh, thiện nguyện… thì không sao, nhưng hễ ít nhiều có lời lẽ tán thành chủ nghĩa xã hội là sớm hay muộn cũng bị cô lập ngay trong nội bộ tôn giáo mình. Ví dụ, trường hợp linh mục Phạm Bá Trực, từng là uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Sau năm 1975, Đảng Cộng sản cũng không dễ gì lợi dụng về mặt chính trị các vị linh mục trước đây chống đối chính quyền miền Nam, ví dụ linh mục Chân Tín.

    Với Phật giáo thì khác. Đảng Cộng sản đã chinh phục được một phái Phật giáo gồm các chức sắc cao cấp hiện nay, đã viết được dòng chữ lớn ở ngay cửa chùa Quán Sứ “Đạo giáo, dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (nay đã sửa), đã đưa các vị sư sãi vừa ý mình vào Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc; đã đưa được đảng viên vào hàng ngũ tu hành các cấp... Do vậy, sẽ không có chuyện phái này lãnh đạo Phật tử “tụng kinh” đòi đất chùa bị tịch thu trước đây. Càng không có chuyện Đảng Cộng sản cho phép (hoặc gợi ý) Phật giáo phục hồi hệ thống chùa chiền ở từng thôn làng như thuở trước 1945. Và ngay cả chuyện bổ sung cho đủ sư sãi ở các chùa còn sót lại này lại cũng không có nốt. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản sẵn lòng hỗ trợ xây dựng những cơ sở hoành tráng mang tính tượng trưng cho sự tồn tại và “phát triển” của Phật giáo – như ta đang thấy.

    Nhưng còn một phái Phật giáo khác không tuân phục chủ trương của Đảng đối với các tôn giáo – đứng đầu là các vị Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ… – đang làm cho Đảng rất lo lắng, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay quốc đạo Mác – Lê đang suy thoái (như Đảng tự nhận định: lý tưởng phai lạt, chỉnh đốn 20 năm chưa đâu ra đâu, vào Đảng chủ yếu là cơ hội, cho nên tham nhũng cứ hoành hành…) và không hy vọng gì sẽ có người tử vì đạo. Vả lại, nước ta lại đang hội nhập, phải tuân thủ luật lệ chung, không phải chính quyền trong nước dễ dàng muốn gì làm nấy như trước đây.

    Việc tín đồ Công giáo đòi đất toà Khâm bằng cầu nguyện là chuyện ngày nay, chuyện rất thời sự, do vậy tin tức và các ý kiến bàn luận dồn dập được đưa (talawas, BBC) không hẳn chỉ do cách đưa tin thiên lệch (như một vị bênh vực Phật giáo đã viết
    ) mà là sự “thiên lệch” về lượng tin và ý kiến trong thực tế được phản ánh trên mặt báo thì đúng hơn. Tiếc rằng Đảng chưa nắm được talawas và BBC như đã nắm các báo trong nước. Tôi cho rằng hễ có bài gửi tới (tuân theo quy định) thì talawas và BBC sẽ đăng, dù với quan điểm nào. Nhưng không dễ mà đăng ở báo quốc nội. Nếu số lượng bài nghiêng về Công giáo hay Phật giáo, dù phản đối hay ủng hộ, thì đó là sự thiên lệch về số ý kiến, quan điểm trong thực tế dư luận mà các diễn đàn đa chiều này chỉ là nơi phản ánh. Sao các vị tác giả bênh vực lập luận “đòi đất toà Khâm cho Phật giáo” không gửi thêm bài cho talawas và BBC? Có lẽ, đó là vì lập luận này vô lý, lại tiềm ẩn một hiểm hoạ về mâu thuẫn tôn giáo. Cứ cho là “thực dân và giáo sĩ cấu kết phá chùa lấy đất xây nhà thờ” là một sự thật đi, thì nay sự thật này đã thuộc vào lịch sử; chúng ta có thể khen chê, thậm chí phê phán hay lên án, nhưng không thể sửa đổi. Chả lẽ cần phá Nhà thờ Lớn để xây lại chùa? Nó cũng vô lý như con cháu Đức Thánh Trần nay bỗng đứng lên đòi lại thái ấp xưa của tổ tiên mình được phong, dù là được phong xứng đáng.

    Tôi không tin BBC là hãng tin không thiên lệch, nhưng “thiên lệch” tới mức muốn bênh Phật giáo mà lại phải dùng những ngôn ngữ quen thuộc của lập trường chính thống kết tội “thế lực thù địch” hay “bọn phản động” (như đoạn văn trích dẫn dưới đây từ báo chí trong nước) thì có lẽ là sự đánh giá hơi quá. Có thể thấy BBC “khôn vặt” ở chỗ hễ thấy tin gì quan trọng mà báo chí trong nước giấu biệt thì đăng lên đầy đủ, do vậy được nhiều người tìm đọc chăng?

    Việc mất toà Khâm xảy ra năm 1954, cho đến nay bên phía bị mất đất vẫn tiếp tục “xin lại”, còn bên tịch thu đất vẫn có sự kế thừa liên tục, vẫn là chính quyền của Đảng. Do vậy, chuyện “xin lại” và chuyên “chưa trả” vẫn là chuyện thời sự của thời nay, vẫn đòi hỏi sự giải quyết, có lẽ cho đến khi một bên không còn tồn tại (như thực dân đã không tồn tại ở nước ta). Còn việc đòi lại toà Khâm cho Phật giáo lại khác hẳn. Đó là chuyện muốn sửa lại lịch sử, có thể gây xung đột tôn giáo. Vậy, chuyện “thời nay” của Phật giáo là chuyện từ sau năm 1945, 1954 và 1975 với chính quyền hiện tại, chứ không phải chuyện Phật giáo với chính quyền thực dân từ khi Pháp đô hộ nước ta. Chỉ có điều, có một phái Phật giáo nước ta sẽ không bao giờ “đòi đất”. Không kể đất đai, chùa chiền, cơ sở tôn giáo bị sung công, hoặc bị thời gian và chiến tranh phá huỷ mà không được phép xây lại, thì còn rất nhiều chùa đang còn bị dân xâm chiếm. Nhìn bề ngoài thì là “dân xâm chiếm”, nhưng nhìn thấu đáo vẫn cứ có vai trò của Đảng Cộng sản, ít nhất là Đảng đã làm ngơ cho sự xâm chiếm này. Nếu được làm ngơ, những người dân đang quá thiếu nhà ở cũng muốn dọn vào sống trong trụ sở Quốc hội hoặc Hội trường Ba Đình cho được rộng rãi. Nhưng phép nước ở hai nơi này rất nghiêm chứ không giống như ở những nơi chùa bị dân xâm chiếm.

    © 2008 talawas
     
     
    February 28

    Trao đổi về bài viết của Trương Công Khanh

     
    Điểm nhấn :
     
    Little Saigon Radio: Đừng xa vào cái bẫy rất nguy hiểm . Vũ Quang Ninh
     
     
      
     
     
     
     
     
    Trao đổi về bài viết của Trương Công Khanh
     
    Hoàng Cúc
     
    Trong bài viết của Trương Công Khanh, nhan đề “Những bài học ứng xử cần thiết”, tác giả cho rằng tôi sai lầm ở hai điểm. Nhân đây, tôi xin trở lại với hai điểm tác giả đề cập, đồng thời trao đổi về những trích dẫn của tác giả trong bài viết kể trên.

    Điểm thứ nhất, theo tác giả “Điều nhầm lẫn của Hoàng Cúc chính là mượn vào bức ảnh (nhầm lẫn) đó để “phủ định” những dư luận cho rằng Phật giáo mới là sở hữu chủ thực sự của mảnh đất Tòa Khâm sứ (vốn là chùa Báo Thiên).” Điểm thứ hai, tác giả cho rằng “Chính vì luận suy này mà Hoàng Cúc đã dẫn chứng tư liệu về tháp Báo Thiên, theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, xem đó là những tư liệu tin cậy. Đúng như vậy, nhưng tác giả phải lưu ý đó là nói đến tháp Báo Thiên (một trong An Nam tứ đại khí) chứ không hoàn toàn nói đến chùa Báo Thiên.”

    Khi đề cập đến bức ảnh, tôi chỉ muốn chỉ ra trò đánh tráo thiếu lương thiện khi ai đó cố tình lầm lẫn giữa chùa Báo Thiên với chùa Báo Ân. Trong mục ý kiến ngắn ngày 8-2-2008, Trần Đình Hoàng đã ra sức bào chữa rằng: “bức ảnh mà Hoàng Cúc nói đánh tráo gì đó không phải là “tác phẩm” của tôi và cũng không có trong bản gốc bài viết của tôi, nhưng do ban biên tập thêm vào.” Sau đó vài hàng, Trần Đình Hoàng viết thêm: “Bức ảnh đó chỉ mang tính cách minh họa chứ không phải là một chứng từ lịch sử để làm cơ sở mà tố khổ người viết là “đánh tráo”, một cáo buộc chẳng những nặng nề, mà còn quá hồ đồ và vô trách nhiệm.” Quả thực, khi nói “Bức ảnh đó chỉ mang tính cách minh họa” Trần Đình Hoàng đã tự “minh hoạ” rất rõ cho quan điểm của mình rồi, tôi thiết nghĩ không cần phải phí quá nhiều lời với chuyện này.

    Về điểm thứ hai, Trương Công Khanh đọc lại bài viết của tôi sẽ thấy tôi không hề có ý nhầm lẫn tháp Báo Thiên với chùa Báo Thiên. Tôi đã viết rằng: “Tội danh “phá Tháp” của thực dân Pháp và người Công giáo đã bị Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ phủ nhận với tư liệu lịch sử khá rõ ràng. Đối với tội danh “tịch thu đất” “phá chùa”, tôi rất mong Phật tử Nguyễn Quốc Dũng đưa ra những chứng cứ lịch sử xác thực để chứng minh cho ý kiến của mình.” Sau đó vài dòng, tôi viết tiếp: “Từ mấy ngày nay, trên talawas, Lê Điều đã đưa ra một số tư liệu liên quan đến chuyện này, tôi rất mong giới chuyên môn vào cuộc để phân tích và thẩm định những tư liệu đó.” Những ai theo dõi ý kiến của Lê Điều hẳn đều biết rằng Lê Điều đã cung cấp những tư liệu khác nhau về chùa và tháp Báo Thiên. Ngày 31-1-2008, Lê Điều trích một đoạn
    trong cuốn Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam. Ngày 1-2-2008, Lê Điều lại tiếp tục đưa ra tài liệu trong cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX và cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn.

    Bài viết của Trương Công Khanh, cũng đưa ra một đoạn trích dẫn André Masson, sau đó tác giả bàn về từ “mục nát” trong đoạn trích dẫn với một số cứ liệu lịch sử như sau: “Ngôi chùa có thực sự “mục nát” như đánh giá của những người Công giáo hay không? Sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn cho biết trong Thăng Long bát cảnh còn ghi tám bài thơ vịnh cảnh Thăng Long, trong đó có bài thơ của một người Thanh sang nước ta, cảm tác khi nghe tiếng chuông chùa Báo Thiên: “Báo Thiên hiểu chung” (Chuông sớm chùa Báo Thiên). Và lúc đó vẫn còn tên gọi phố Báo Thiên, bán vải thâm và dù xanh. Hơn nữa, vào thời vua Tự Đức, Tổng đốc Tôn Thất Bật cũng đã có sửa sang lại chùa. Theo tác giả Nguyễn Đại Đồng, vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Hòa thượng Phúc Điền (1784-1863) về trụ trì chùa Báo Thiên. Trong Kế đăng lục in năm Tự Đức thứ 12 (1857) viết: “Lúc đó tại chùa Báo Thiên đang khắc ván bộ Phật Tổ thống kỷ của Trung Quốc. Sau khi Hòa thượng Phúc Điền qua đời, chùa Báo Thiên vẫn còn lại cho đến ngày thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội lần 2 năm 1882 (theo Tạp chí Văn hóa Phật giáo).” Ở câu sau cùng của đoạn trích trên đây, Trương Công Khanh chỉ mở ngoặc kép mà không đóng ngoặc kép. Tôi nghĩ có thể có sự quên sót nào đó, vì sách in năm 1857 chắc không thể kể đến sự kiện diễn ra vào “năm 1882”. Tôi cũng chưa có dịp tra cứu lại các tài liệu này, tuy nhiên, có thể nói, những sử liệu mà tác giả đưa ra đều trước năm 1773.

    Tôi xin được trở lại với đoạn trích dẫn của Trương Công Khanh:

    “San bằng cái chùa và tịch thu miếng đất, thật không có gì dễ bằng trong thời gian chiếm đóng…, tuy nhiên, công bình mà nói, tôi cảm thấy ít nhiều ái ngại trong việc phạm một sự lạm quyền kiểu đó, nên thấy nên nhờ ông Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Ông rất tâm đầu ý hiệp với Giám mục [Puginier, NQT, ct.] và muốn làm vừa lòng ngài cũng như tôi vậy. Thoạt tiên, ông cho điều nghiên xem có ai là hậu duệ của người sáng lập ra chùa, đã chết hai thế kỷ trước, và lẽ dĩ nhiên, không tìm ra ai. Thứ đến ông chỉ thị cho các công dân lãnh đạo trong phường, được chọn lựa có vẻ như là do sự may rủi giữa các người Công giáo, đến thẩm lượng mức kiên cố của ngôi chùa; họ không ngần ngại xác quyết rằng, ngôi chùa đã mục nát có thể sập gây nguy hiểm cho người qua lại. Bây giờ mọi việc đã đâu vào đấy, san bằng ngôi chùa và tịch thu miếng đất…” (André Masson, The Transformation of Hanoi, 1873-1888, Madison, WI: Center for Southeast Asian Studies. University of Wisconsin-Madison, 1983, 51, NQT dịch).

    Thực ra, cuốn The Transformation of Hanoi, 1873-1888 là bản dịch Anh ngữ do Jack A. Yaeger dịch, Daniel F. Doeppers biên tập và rút gọn. Nguyên bản Pháp ngữ có tên Hanoï pendant la periode heroïque 1873-1888 (1), do librairie orientaliste Paul Geuthner xuất bản tại Paris năm 1929. Đoạn trích dẫn trên nằm ở phần IV của cuốn sách, với tiêu đề La Mission (tạm dịch là Nhà Chung), các trang 117–127. Phần tương đương với đoạn trích trên nằm ở hai trang 125–126, André Masson để trong ngoặc kép và ở cước chú ông cho biết nguồn trích dẫn là tại trang 209 trong cuốn Au Tonkin của R. Bonnal, in tại Hà Nội năm 1925. Dưới đây, tôi xin đưa ra nguyên văn Pháp ngữ trong cuốn sách của André Masson để độc giả tiện so sánh.

    “Démolir la pagode et s’emparer du terrain, rien n’était en apparence plus facile dans la période de conquête que nous traversions, mais j’avais comme de juste, une certaine répugnance à commettre un abus de pouvoir de cette sorte et je préférai m’adresser au Tong-doc Nguyen-huu-Dô. Celui-ci était en fort bons termes avec l’Evêque et désirait comme moi lui être agréable; voici comment il tourna la difficulté. Il fit d’abord rechercher s’il existait encore quelque descendant du fondateur de la pagode, mort depuis plus de deux siècles, et naturellement n’en trouva pas.”

    “Il ordonna ensuite aux notables du quartier, choisis comme par hasard parmi les indigènes chrétiens, de vérifier la solidité de l’édifice et ceux-ci n’hésitèrent pas à déclarer que, menaçant ruine, il pourrait en s’écroulant compromettre la sécurité des passants. Maintenant tout était en règle. Faire démolir la pagode, en confisquer le terrain sans maître au profit du domaine étaient, suivant la coutume annamite, des mesures justifiées ne pouvant soulever aucune protestation; c’est ce que fit le Tong-doc.”


    Ở đây, tôi xin miễn bàn đến chuyện chuyển dịch từ ngữ giữa hai văn bản, vì theo tôi hiểu, bản dịch Việt ngữ không phải của Trương Công Khanh, mà của NQT nào đó. Hơn nữa, bản Việt ngữ lại dịch lại từ bản Anh ngữ, thì khác biệt về phương diện từ ngữ là chuyện khó tránh khỏi. Tôi chỉ thắc mắc là không biết Trương Công Khanh đã vô tình hay cố ý cắt lửng câu cuối cùng của đoạn trích dẫn. Tôi xin tạm dịch lại câu này để độc giả tiện theo dõi: “Cho phá hủy ngôi chùa, trưng thu mảnh đất vô chủ vì lợi ích công quyền (2), theo tập tục An Nam, là những biện pháp chính đáng, không thể gây nên một sự phản đối nào; đó là điều ông Tổng đốc đã làm.” (3)

    Sự kiện này còn được kể tiếp trong nguyên văn Pháp ngữ như sau:“Il prit encore la responsabilité de concéder gratuitement à la Mission catholique le terrain confisqué et j’eus la satisfaction de remettre à l’Evêque l’acte authentique lui en faisant remise en toute propriété.” Xin được tạm dịch như sau: “Ông còn nhận trách nhiệm nhượng lại miễn phí cho Nhà Chung Công giáo mảnh đất đã trưng thu, và tôi đã vui lòng trao lại cho vị giám mục văn bản chính thức chuyển giao cho ngài toàn quyền sở hữu.” Dù sao, không thể nói rằng chuyện chuyển giao này là bất hợp pháp, càng không thể so sánh với chuyện “mượn” bằng mồm rồi cứ kiên trì đi theo đường lối trước sau như một “không có vấn đề trả lại” (4).

    Cũng cần lưu ý rằng trong văn bản Pháp ngữ, các từ tương đương với “mục nát” trong văn bản Việt ngữ là “menaçant ruine”. Phải hiểu những sự kiện này trong bối cảnh Hà Nội vào nửa cuối thế kỉ XIX, với hai lần quân Pháp tấn công thành Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Sau khi thành Hà Nội thất thủ sáng ngày 20-11-1873, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương và đã tuyệt thực cho tới chết, về phía Pháp, ngày 21-12-1873, Francis Garnier bị quân của Hoàng Kế Viêm giết chết. Lần thứ hai, thành Hà Nội thất thủ ngày 25-4-1882, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn, về phía Pháp, Henri Rivière bị giết vào ngày 19-5-1883 tại Cầu Giấy. Khu vực đang được bàn tới ở đây cách tường thành Hà Nội không bao xa. Đặt trong khung cảnh chiến tranh như thế, việc chùa Báo Thiên ở trong tình trạng đổ nát cũng là chuyện không quá khó hiểu.

    Cuốn sách của André Masson cũng cho chúng ta biết thêm rằng từ khoảng năm 1873 đã có một số gia đình Kitô hữu tới sống tại khu vực sau này là phố Nhà Chung, xung quanh một ngôi nhà nguyện bằng gỗ, nơi mà ngày 1-1-1873, giám mục Paul François Puginier đã cử hành một lễ long trọng (5)
    . Năm 1876, toà nhà kiên cố đầu tiên được xây dựng tại khu vực này (6). Trong tháng năm năm 1883, Quân Cờ Đen đã hai lần tấn công Nhà Chung và đã thiêu huỷ ngôi nhà nguyện bằng gỗ (7) . Nhìn vào tấm hình dưới đây, những ai đã từng ghé qua Toà Giám mục Hà Nội có thể dễ dàng nhận ra ngay toà nhà trong tấm hình chính là ngôi nhà nguyện của Toà Giám mục hiện nay. Điều đó cho thấy rằng từ năm 1873, hoặc ít nhất là từ năm 1876, khu vực này đã do người Công giáo quản lí.

    chinhtri280208

    Đọc loạt bài có nhan đề “Hanoi Chrétien (1627–1931)” (8), đăng trên sáu số liên tục trong Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, từ tháng 5-1932 đến tháng 11-1932, ta biết thêm nhiều chi tiết về nhóm người Công giáo tại Hà Nội qua các biến động lịch sử.

    Loạt bài này cho chúng ta biết rằng kể từ năm 1627, đã có những nhóm người Công giáo ở Kẻ Chợ (tức Hà Nội), do các linh mục Dòng Tên, rồi các linh mục của Hội Thừa sai Ba Lê điều hành. Tới năm 1690, số người Công giáo ở đây đã khá đông, nhưng sang đầu thế kỉ XVIII, do các cuộc bách hại, số người Công giáo tại Hà Nội giảm sút và bị phân tán đi các nơi. Tuy nhiên, tài liệu này cũng ghi nhận rằng dưới thời Giám mục Néez, sau năm 1744, có cả các thành viên hoàng tộc chịu phép rửa tội. Tới thời Tây Sơn, sau năm 1788, tất cả nhà thờ, nhà cửa của họ đạo Hà Nội đều vị phá huỷ, 42 Kitô hữu chịu án lưu đày, một số khác bị bắt vào tù. Sang thế kỉ XIX, đặc biệt, đầu thời Tự Đức, người Công giáo vẫn chịu cảnh bách hại, tù đày. Bài thứ năm trong loạt bài này, ở số Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris 128, tháng 8-1932, cho chúng ta biết thêm rằng ngay trong thời người Công giáo bị bách hại khốc liệt nhất, trước năm 1862, vẫn có khoảng gần 100 gia đình người Công giáo, sống rải rác tại ba khu vực khác nhau tại Hà Nội: khu vực phố Nhà Chung ngày nay, phố Hàng Bè và khu vực bờ sông. Sau năm 1862, nhiều Kitô hữu trở về từ chốn lưu đày, con số giáo dân của họ đạo Hà Nội được nhân đôi. Trong khoảng thời gian này, một nhà nguyện được dựng lên tại khu vực sau này là phố Nhà Chung. Cho đến năm 1869, do vẫn còn nhiều nguy hiểm, vẫn chưa có linh mục nào sống thường xuyên tại Hà Nội, thỉnh thoảng mới có linh mục từ Sở Hạ tới thăm viếng họ đạo này. Sau khi Giám mục Puginier cử hành một lễ long trọng vào ngày 1-1-1870, các linh mục tới họ đạo Hà Nội thường xuyên hơn. Các đời linh mục phụ trách vùng Hà Nội thời đó, linh mục André Bonfils, linh mục Joseph-Michel Landais, cùng với Giám mục Puginier đã từng bước mua các mảnh đất trải dài từ khu vực Trường Thi (Camp des Lettrés – ngày nay là Thư viện quốc gia) tới phía nam chùa Báo Thiên (9)
    . Từ năm 1876, các toà nhà dần dần được xây dựng như đã được André Masson nói tới.

    Như vậy, tuy có một số khác biệt về mặt dữ liệu giữa André Masson và Joseph Villebonnet, nhưng theo các tài liệu trên đây, có thể xác định được rằng khu vực Toà Giám mục Hà Nội hiện nay cùng với Toà Khâm sứ cũ đã được các vị linh mục Bonfils và Landais mua trước năm 1876, lúc đó quyền cai trị miền Bắc, cụ thể hơn là Hà Nội, vẫn còn nằm trong tay quan lại nhà Nguyễn, dù ít nhiều đã có những sức ép từ phía các quan chức người Pháp. Khu vực chùa và tháp Báo Thiên mà vào năm 1883 Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ trưng thu và qua Bonnal trao cho Giám mục Puginier ít nhất cũng phải nằm ở phía bắc toà nhà xây năm 1876 trong ảnh, theo tôi khu vực đó có thể gồm hang đá Đức Mẹ, một phần sân chủng viện, khu trường học (nay là trường trung học cơ sở Hoàn Kiếm - Tân Trào) được nhà nước “mượn”, khu vực nhà xứ và Nhà Thờ Lớn hiện nay.

    Tôi cũng muốn trao đổi thêm với Trương Công Khanh rằng, những sự kiện ông nêu lên ở phần sau của bài viết cũng cần được hiểu trong bối cảnh lịch sử, đặc biệt là những gì diễn ta tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam vào nửa cuối thể kỉ XIX, khi nhóm Văn Thân đã tấn công, bao vây và triệt hạ nhiều làng Công giáo (10)
    .

    Để kết thúc bài viết này, tôi xin trở lại với câu trích lửng của Trương Công Khanh. Dù là vô tình hay cố ý, kiểu trích dẫn đó vẫn phản ánh một thái độ thiếu lương thiện trí thức (malhonnêteté intellectuelle).

    © 2008 talawas



    (1) Độc giả có thể đọc bản dịch Việt ngữ của cuốn sách này với nhan đề Hà Nội – giai đoạn 1873-1885, do Lưu Đình Tuân dịch, NXB Hải Phòng 2003.
    (2) Từ “domaine” ở đây là một khái niệm trong ngôn ngữ hành chính của người Pháp. Từ điển Petit Robert 1973 đưa ra nghĩa của từ “Le Domaine” là “les biens de l’Etat”. Ở đây tôi xin tạm dịch là “công quyền”.
    (3) Khi dịch, tôi có tham khảo bản dịch của Lê Thiện trên trang điện tử http://vietcatholic.net/News/Html/52481.htm
    (4) Lời ông Nguyễn Thế Doanh trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 3-1-2008.
    (5) X. André Masson, Hanoï pendant la période héroïque (1873–1888), libraire orientaliste Geuthner, Paris 1929, tr. 119–120.
    (6) Tấm ảnh của toà nhà này nằm trong phần hình ảnh của André Masson, sách đã dẫn, planche XXII. Phần giải thích cho tấm hình nằm ở trang 230 cho biết tấm hình được chụp vào tháng giêng năm 1929.
    (7) X. André Masson, sách đã dẫn, tr. 122–123.
    (8) Độc giả có thể đọc một số đoạn trích của loạt bài này tại địa chỉ: http://vietcatholic.net/News/Html/52481.htm.
    (9) X. Joseph Villebonnet, “Hanoi Chrétien (1627–1931)”, Bulletin de la Société des Missions Étrangères de Paris, từ số 125, tháng 5-1932 tới số 130, tháng 11-1932, đặc biệt là số 129, tháng 9-1932, tr. 651–664.
    (10) Độc giả có thể xem thêm Nguyễn Trường Tộ di thảo số 14, “Tình hình lương giáo ở Nghệ An” do Trương Bá Cần biên tập trong cuốn Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, NXB Tp. Hồ Chí Minh 1988, tr. 181–183 ; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, 2003, tr. 513–514 ; Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, Quyển II, Calgary, Canada, 2002, tr. 488, dẫn theo H. Ravier, Sử ký Hội thánh, Hà Nội 1934, Q. III, tr 569–570.
     
     
    February 27

    Văn thư bi hài nhất của lịch sử VN

     

    Văn thư bi hài nhất của lịch sử VN, một chút đùa cười ra nước mắt :

     

    Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Dân tộc Chăm Pa muôn năm

     

    Kính gởi : Cụ Nguyễn Tấn Dũng

                  Thủ Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

     

    Kính thưa Cụ Thủ Tướng,

    Chúng tôi, hậu duệ Chăm Pa, trước tiên xin vấn an sức khỏe của Cụ cũng như xin có đôi lời kính gởi đến Cụ, mong Cụ giải quyết giúp. Là người dân Chăm Pa, chúng tôi biết chúng tôi có một nguồn gốc, xứ sở, vương quốc. Vì thế, hôm nay dù mang trên mình quốc tịch Việt Nam, chúng tôi vẫn luôn nhớ đến lịch sử và tổ tiên chúng tôi. Tuy nhiên, cho dầu nhớ nhung, chúng tôi vẫn chấp nhận một lịch sử lâu đời đã qua đó là lịch sử vương quốc của chúng tôi đã bị tháp nhập hoàn toàn dưới thời Vua Minh Mạng, năm 1832. Chúng tôi chưa hề có ý định đứng lên đòi lại đất đai của tổ tiên từ ngàn xưa mà lịch sử còn chứng minh là thuộc về tổ tiên Cham Pa của chúng tôi.

     Thế nhưng, trong những ngày vừa qua, khi theo dõi sát sao vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội, tình cờ chúng tôi đã đọc được bức văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, đòi hỏi Cụ phải tham khảo ý kiến Phật Giáo trước khi xem xét mảnh đất đó. Nhờ văn thư này mà lòng nhớ nhung tổ tiên và vương quốc xưa kia của cha ông chúng tôi đã dấy lên mạnh mẽ.

    Chúng tôi xin chân thành cám ơn HòaThượng Thích Trung Hậu đã nhắc nhở cho chúng tôi phải làm gì với đất đai  gần 1700 năm của tổ tiên chúng tôi (192-1832). Hỏa Thượng đã cho chúng tôi tia hy vọng trong việc đòi lại đất đai của tổ tiên. Và chúng tôi hy vọng Hòa Thượng cũng đòi lại đất đai mà lịch sử cho thấy là tọa lạc chùa và tháp của  Phật Giáo. Tuy nhiên chúng tôi cũng báo cho HòaThượng biết rằng người Chân Lạp họ cũng đang xúc tiến việc đòi lại đất đai của họ, mà mảnh đất đầu tiên họ nhắm đến đó là mảnh đất ở số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.3, nơi tọa lạc Văn phòng II, Ban Văn Hóa của Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Bởi vì họ nghĩ rằng Hòa Thượng là một người quý trọng lịch sử, nên HòaThượng sẽ trả lại mảnh đất đó cách nhanh chóng mà không chấp đất hay tham sân si. Vả lại khi HòaThượng đã xúc tiến  can thiệp vào chấp đất Tòa Khâm Sứ, thì HòaThượng sẽ rất dễ dàng trao trả đất đai nơi  tọa lạc Van Phòng II của Hội Đồng Trị Sự GHPGVN.  Hòa Thượng có thể chuyển Văn Phòng II ra Hà Nội, sau khi đã đòi lại được mảnh đất Tòa Khâm Sứ và Nhà Thờ Lớn. Chúng tôi sẽ đến xem cảnh tượng Hòa Thượng sẽ đập đổ hai tòa nhà này để xây dựng Văn Phòng II mới ở đây. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nghe phong phanh được rằng, con cháu Giao Chỉ xưa cũng đang chuẩn bị gởi thư cho Cụ Thủ Tướng để đòi lại các vùng đất phía Bắc của họ, trong đó có cả khu đất tranh chấp là Tòa Khâm Sứ. Thêm nữa, chúng tôi được biết rằng, con cháu của những người thời xưa đã vất vả xây dựng chùa và tháp Báo Thiên cũng muôn tìm đến chia sẻ chút « cháo », vì họ nói cha ông họ cũng có công xây dựng. Vả lại họ còn than van rằng chỉ vì những ngôi chùa "to, đẹp" nên nhà Vua bắt cha ông họ phải nai lưng xây dựng, đó là chưa kể hao tổn ngân sách quốc gia.  Rồi cả con cháu nhà Lý cũng có khả năng tranh chấp khu đất đó, vì như họ nói họ mới là người kế thừa đúng về mặt lịch sử. Chúng tôi rất lo lắng cho chỗ ở của Hòa Thượng trong nay mai. Tuy nhiên, xin Hòa Thượng đừng lo lắng, nếu cuối cùng không có chỗ nào cho Hòa Thượng dung thân, chúng tôi, sau khi lấy lại được đất Chăm Pa, sẽ hiến tặng cho Hòa Thượng một mảnh đất thật rộng lớn để bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi đối với Hòa Thượng, người đã mở đường cho chúng tôi đòi lại đất đai của cha ông chúng tôi. HòaThượng cũng biết đó, nên văn hóa của chúng tôi cũng thật phong phú những cũng đã bị chiếm đoạt và tàn phá qua thời gian, nên chúng tôi cũng thông cảm và hiểu cho nổi đau của Hòa Thượng trước việc chùa và tháp Báo Thiên bị « phá hoại ». Chúng tôi ủng hộ Hòa Thượng, chỉ xin Hòa Thượng đưa thêm bằng chứng cho rõ ràng, ngay cả bằng chứng lịch sử, bởi vì người ta cũng đưa ra những bằng chứng lịch sử khác không có lợi cho Hòa Thượng và ngay cả bằng chứng pháp lý họ có trong tay. Chúng tôi chỉ sợ một điều duy nhất là chính phủ sẽ bác bỏ văn thư của Hòa Thượng, không thèm đọc và bỏ vào viện bảo tàng văn thư bi hài ngay, bởi vì, như có người nói, văn thư của Hòa Thượng « đã phủ nhận Nhà Nước Việt Nam được tạo dựng từ năm 1945 với pháp luật hiện hành ». Đó là điều duy nhất mà chúng tôi lo sợ không chỉ cho Hòa Thượng mà cho cả đòi hỏi của chúng tôi nữa.

    Kính thưa Cụ Thủ Tướng, chúng tôi không cố tình gây chia rẽ dân tộc hay làm xáo trộn xã hội VN khi đòi lại đất đai tổ tiên xa xưa. Cụ thấy đó, chúng tôi đã đồng hành cùng dân tộc qua biết bao nhiêu thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một tập thể hay là một cá nhân. Cụ đã thấy rõ chúng tôi có công trạng thế nào trong việc xây dựng và đồng hành với dân tộc, nên chúng tôi có quyền lợi đôi chút khi dám lên tiếng đòi lại đất đai tổ tiên từ  khi thành lập vương quốc Lâm Ấp, năm 192 cho đến khi Chiêm Thành Quốc, dưới thời Trấn Vương Thuận Thành,  bị Minh Mạng sáp nhập năm 1832. Cụ thể hơn, sau 877 Trung Quốc (nhà Đường) bắt đầu gọi vương quốc Chăm Pa là Chiêm Thành Quốc. Lúc đó, vương quốc này bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh ThuậnBình Thuận ngày nay). (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ch%C4%83m_Pa).

    Chúng tôi thiết nghĩ, nếu Cụ Thủ Tướng đoái thương đến văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, thì không có lý gì mà Cụ có thẻ từ chối yêu cầu chính đáng của chúng tôi, vì lịch sử đã chứng minh rõ ràng rằng đất đai từ mièn Trung đến miền Nam, thay đỏi từng thời kỳ, là thuộc về tổ tiên  của chúng tôi. Chăm Pa là một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất thế giới, tọa lạc từ miền Trung đến miền Nam. Xin Cụ đừng cho là chúng tôi ích kỷ hay nổi loạn phá hoại tổ quốc, nhưng nhờ HòaThựong mách nước nên chúng tôi mới dám mạo muội gởi cho Cụ văn thư này.

    Chúng tôi đề nghị Cụ Thủ Tứong xem nguời Chăm Pa chúng tôi là một thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định nào liên quan đến những vùng đất kể trên. Bảo đảm với Cụ Thủ Tướng là sau khi đã lấy lại đựoc những vùng đất đó, chúng tôi sẽ giúp chính phủ của Cụ giải quyết vụ Trường Sa cách êm thắm, để chính phủ của Cụ khỏi phải bận tâm lo lắng.

    Trân trọng kính chào Cụ Thủ Tướng

    Miền Trung, ngày 28 tháng Hai năm 2008

    Kính Thư

    Hậu duệ Chăm Pa tản mác khắp nơi

    (đã ký)

     
     
     Bản sao đồng kính gởi :
     
    - Cụ Bí Thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh
    - Cụ Chủ Tịch Nước CHXHCNVN Nguyễn Minh Triết
    - Cụ Chủ tịch Quốc Hội CHXHCNVN Nguyễn Phú Trọng
    - Cụ Thường trực Ban bí thư TW Đảng Trương Tấn Sang
    - Cụ Bí thư thành ủy TP Hà Nội Phạm Quang Nghị
    - Hậu duệ Chăm Pa khắp nơi
    - Lưu
     
    Chúng tôi không quên gởi đến Cụ Nguyễn Thế Doanh trưởng Ban Tôn giáo chính phủ và Bà Thanh Hằng, phó chủ tịch UBND HN để tham khảo, bởi vì nếu để quý vị đứng ngoài cuộc thì mất thể diện, điều mà chúng tôi không muốn.
     
     
     
    Di tích tại Thánh Địa Mỹ Sơn, xây dựng lần đầu bởi vương triều thứ 2 của Lâm Ấp
     
     
     
    Tháp Bà được xây dựng vào thời Prithi Indravarman, vị vua đầu tiên của Hoàn Vương Quốc (ảnh : wikipedia)
     
     
     
     
     
     
     
     
     
    Ý kiến độc giả :
     
    Chúng tôi chỉ là những người dân hiẹn nay đang sống trên quê hương dất nước VN, mảnh đất hình chữ  S, được sinh sống trên những mãnh đất do Ông Bà Tổ Tiên đã tạo dựng, để lại cho chúng tôi và các thế hệ con cháu tiếp nối. Chúng tôi đã sống, đã làm việc và cũng đã tồn tại trên nhũng mảnh đất Cha Ông này với biết bao lao nhọc,  khó khăn, nhũng kỷ niệm buồn vui được tiếp nối hết đời này qua đời khác.  Trải qua bao nhiêu năm tháng với nhũng giá trị về tinh thần đó, đối với chúng tôi còn qui giá hơn bất cứ một giá trị vật chất nào khác. Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ của chung tôi trước khi lâm chung, đã phải đắn đo suy nghĩ và chọn lựa nhũng người xứng đáng trong giòng tộc, là những người con, những đứa cháu có đầy đủ những phẩm chất về đạo đức, sự khôn ngoan và bản lĩnh để trao phó trách nhiệm gìn giữ mảnh đất mà tổ tiên đã tạo dựng nên bằng máu va nước mắt suốt bao đời qua mới có được, chúng tôi vẫn hàng ngày cầu nguyện và mong muốn co được một cuộc sống an lành, ấm no và hạnh phúc trên những mảnh đất này đồng thời cũng ra sức để bảo vệ, để gìn giữ nhũng di sản thiêng liêng của tổ tiên trước nhũng thế lực, những mưu toan ăn cướp đất của bè lũ cường quyền, cho dù phải trả bằng bất cứ giá nào hoặc bằng chính sinh mạng của mình cũng được. Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã phải tìm đủ mọi cách để kết giao với những người có cùng lý tưởng để mong muốn được họ bảo vệ, bản chất của chúng tôi tuy rất hiền lành, chăm chỉ và đạo đức, nhưng khi cần thiết, chúng tôi cũng sẽ trở thành một sức mạnh đủ để dập tắt tất cả những ham muốn của kẻ thù  
                 Với tất cả những tâm tình ấy, chúng tôi đã rất quan tâm dến biểu tượng đấu tranh vì Hòa Bình và Công Lý trên quê hương VN của Hội Thánh Công Giáo những ngày tháng vừa qua, chúng tôi tạm quên đi những mưu sinh trong cuộc sống hàng ngày, để đọc, để tìm hiểu, để nghe ngóng và cũng để bàn bạc tình hình bên những ly cafe hoặc những chén trà trong những hàng cây râm mát, những túp lều hoặc ở bất cứ nơi nào chúng tôi có thể.
           Thực sự chúng tôi rất hoang mang trước thái độ của những nhà cầm quyền CS, đất đai của chúng tôi hay của TKS HN chỉ là những chuyện rất nhỏ, chuyện trong nhà mà cac Cụ còn chưa giải quyết được huống hồ tương lai vận mạng của cả một dân tộc, của đất nước VN đang được trao phó trong tay các Cụ, chúng tôi rất khg yên tâm, chúng tôi sốt ruột và cùng đưa ra một câu hỏi :" Khg biết các Cụ có đủ bản lĩnh hoặc có xứng đáng đại diện cho một dân tộc, một quốc gia trong v/đ bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ VN hay không ?"  Những người dân nước Việt như chúng tôi đang rất cần được bảo vệ tài sản chứ khg phải là những mục tiêu tài sản của tập đoàn các Cụ đâu đấy nhé.
            Chúng tôi chỉ là những con người hết sức bé nhỏ, ở vào những tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, vì thế, đối với chúng tôi, việc phải sử dụng ngòi bút để thay cho cái cuốc cái cày là một việc làm hết sức khó khăn, chúng tôi khg dám đại diện cho bất cứ ai mà chỉ dám nói len tiếng nói cho chính tầng lớp của mình, tuy đơn giản nhưng hết sức rõ ràng và dễ hiểu, chúng tôi hiểu rằng : chúng tôi cần phải cám ơn tất cả mọi người, những người anh em đích thực, khg hề phân biệt bất cứ Tôn Giáo hay giai cấp nào, đã dũng cảm đấu tranh cho Công bằng, công lý và tư do tôn giáo ở VN, các vị đã biết hiến thân, biết hy sinh để đại diện cho tầng lớp chúng tôi, dùng những kiến thức và sự hiểu biết của mình để tham gia, sưu tầm và đóng góp nhũng bài viết rất hay, rất co giá trị, đấu tranh với những cái xấu, cái áp bức bất công của bè lũ CS đương quyền ( theo chúng tôi, chỉ là một lũ khôn nhà dại chợ mà thôi).
            Tuy ít chữ nghĩa nhưng chúng tôi cũng đủ khả năng để nhận biết đâu là lẽ phải, nẻo chính đường ngay, chứ khg phải  như một số người khác,  cũng đã dược Cha Mẹ cho ăn học tử tế, chữ nghĩa dồi dào, lý luận sắc bén, suy nghĩ chiều sâu, mang danh là những trí thức được coi là hơn tầng lớp của chúng tôi rất nhiều, thế mà chỉ vì những định kiến sai lầm hoặc lợi ích cá nhân nhỏ nhen, các vị đã khg thèm giúp đỡ cho việc lớn lại còn có những tuyên bố, những bài viết hết sức ấu trĩ chỉ làm trò cười cho những người khác mà thôi.  Kể từ đây, chúng tôi xin phep để gọi các vị là các CỤ cho nó dễ phân biệt cái sự ngu truyền kiếp.
            Các Cụ muốn làm nên một lịch sử ư ? Yên chí đi các cụ, chúng tôi cũng đã lập xong danh sách của các cụ và sẵn sàng đưa vào lịch sử để cho chính con cháu của các cụ học hỏi, tìm hiểu và sau cùng chính chúng nó cũng sẽ phán xét các Cụ.
                  Với tất cả tấm lòng, chúng tôi xin gởi đến các cụ đôi lời kêu gọi, nếu còn chút ít lương tâm của một con người, hãy cố gắng suy nghĩ để tìm ra chân lý, đâu là lẽ phải, là sự thật, những sự thật rất rõ ràng cả về phương diện pháp lý lẫn phương diện lịch sử, với những tài liệu nhằm chứng minh cho những sự thật khg thể chối cãi được mà người ta đã trưng ra đó, cũng đã đủ để cho thấy sức mạnh và sự chênh lệch của cán cân công lý, chúng tôi xin các cụ đừng có lý lẽ nữa, đừng có tìm cách để há mồm thêm ra nữa kẻo ngay cả những người thấp kém nhất như chúng tôi cũng khg thể ngửi được. Hãy coi như đó chỉ là những giây phút bốc đồng khg thể tự kềm chế được của các cụ mà thôi.
            Những ngày vừa qua, chúng tôi cũng được nghe đâu đó nói rất nhiều đến 2 chữ "giật dây", các cụ là những người giật dây hay những người bị giật dây, chúng tôi cũng khg biết ? nhưng chúng tôi hiểu rất rõ về ý nghĩa của 2 chữ giật dây có nghĩa là xúi bẩy, nhân đây chúng tôi cũng xin gởi dến các cụ một bài học vui nhưng rất co ý nghĩa trong cuộc sống mà chính chúng tôi đã là những người đã mắc phải :
           Chả là thuở thiếu thời, chúng tôi đã tập tành hút thuốc lá, thế rồi bị Cha Mẹ bắt gặp và sau khi lãnh mấy cái tát nảy đom đóm mắt, chúng tôi vội vàng đổ thừa là do đã nghe bạn bè xúi bẩy, nghe xong cái lý do ấy, Cha Mẹ của chúng tôi đã phán ngay một câu mà suốt đời tôi khg thể nào quên được :" Nếu chúng nó xúi mày ăn........mày cũng ăn phải khg ?(chúng tôi phải dùng đến các dấu chấm để thay thế cho một từ rất nặng mùi hôi thối), thật là một câu hỏi rất dễ trả lời phải khg các cụ ? Chung tôi luôn hy vong va mong mỏi các cụ sẽ tìm ra chân lý và sẽ trở thành những người bạn đồng hành, những người anh em của chúng tôi, dùng những kiến thức cũng như sự hiểu biết của mình để bênh vực cho công bằng và công lý, phá tan mọi áp bức bất công, xin hãy bênh vưc cho chung tôi, đòi lại tài sản cho chúng tôi, nhửng mảnh đất rất quí giá của tổ tiên chúng tôi để lại, chưa bao giờ cho, tặng, hiến mà chỉ bị ăn cướp mà thôi. Chúng tôi rất muốn bảo vệ những tài sản ấy nhưng chúng tôi quá thấp cổ bé miệng, chúng tôi khg có lỗi với tổ tiên, chúng tôi khg thể làm gì được trước họng súng của những kẻ cướp đất, cướp nhà và cướp nước. Chúng tôi rất biết ơn và xin gởi tặng cho tất cả quí vị một câu ca dao tuy đã cũ nhưng thấy vẫn còn sài được trong hoàn cảnh của đất nước những ngày vừa qua :
            " khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một Mẹ chớ hoài đá nhau"
           Tòa Khâm Sứ HN chỉ là một biểu tượng cho sự đấu tranh mà thôi, còn có những biểu tượng khác nữa sẽ sẵn sàng tiếp nối như đất ở giáo xứ TH, đất ở Saigon, đất ở Đan Viện Thiên An Huế và cả đất của chúng tôi nữa.
           Với niềm tin KITO hữu :" cuối cùng Ta sẽ thắng", chân lý và hòa bình sẽ hiển trị trên quê hương VN.
           Chúng tôi xin trân trọng : Kính chào đoàn kết.
           Rat cam on.
           TNT.

    TÔI CŨNG MUỐN VIẾT THƯ CHO THỦ TƯỚNG

     
    VietCatholic News (Thứ Tư 27/02/2008 13:53)
     
    TÔI CŨNG MUỐN VIẾT THƯ CHO THỦ TƯỚNG

    Sáng sớm, hãy còn ngái ngủ mà ông bạn hàng xóm đã cho con mời tôi qua uống trà. Nghĩ tới ấm tràn ngon và tình thân bấy lâu nay, tôi đành rời chăn ấm nệm êm để qua nhà ông bạn.

    Bước vào nhà, tôi thấy ông bạn tôi đã ngồi sẵn đó, ấm trà hình như vừa châm xong, hương thơm phảng phất. Gương mặt ông bạn tôi đầy vẻ tư lự. Vừa thấy tôi sang, ông lộ vẻ rất vui. Tôi hỏi luôn:

    - Có việc gì mà bác cho triệu em sớm vậy?

    - Dĩ nhiên là có việc tôi mới phải phiền chú thế này. Vẫn biết chú hay dậy muộn, nhưng quả thực là tôi sốt ruột quá chú ạ.

    - Việc gì vậy bác?

    - Chú cứ uống tách trà đi đã.

    Tôi vừa chiêu xong một ngụm trà, ông bạn đã nói:

    - Mong chú bỏ quá cho những lời vớ vẩn từ trước tới nay.

    - Có gì đâu bác.

    - Chẳng là tôi vẫn thường nói đùa rằng cái bụng chữ nghĩa của chú cũng chỉ đáng quăng vào sọt rác.

    - Vâng thì cái món chữ nghĩa nửa mùa của em đâu có đáng gì so với mấy mẫu vườn trồng đào của bác.

    - Vậy chứ cũng chẳng biết lúc nào nhà nước lại quăng cho một món tiền rồi dùng diễn biến qui hoạch để lấy cái vường đào này chú ạ! Trước tiên tôi hãy hỏi chú về cái vụ việc gì mà trả với lại không trả ở cái phố Nhà Chung gì đấy.

    - Nhưng sao tự nhiên hôm nay bác lại quan tâm đến chuyện này?

    - Tất phải có lí do rồi. Có điều tôi không hiểu sao tự nhiên ông Tổng giám mục lại làm ầm ĩ lên thế. Tôi cứ nghĩ là chính sách tôn giáo của chính phủ đâu đến nỗi nào.

    - Em cũng theo dõi qua loa sự việc, em muốn nói với bác rằng chuyện không đơn giản, mà em xin mượn lời bác để trả lời bác rằng “tất phải có lí do rồi”.

    - Chắc chú biết chuyện nhà nước cấp đất cho Phật giáo xây học viện trên Sóc Sơn, rồi thiền viện Tây Trúc?

    - Chuyện nhà nước có cấp đất hay không thì em không biết, nhưng em đã tới Sóc Sơn và Tây Trúc. Thiền viện với học viện rộng mênh mông, dựa lưng vào núi, phong cảnh thật đẹp.

    - Cũng lạ cho chú. Bụng đầy chữ nghĩa mà không chịu tìm hiểu cho tới đầu tới đũa.

    - Thì bác tính đâu phải chuyện gì mình cũng biết hết được.

    - Thế còn cái vụ nhà nước cấp đất cho Công giáo xây chủng viện ở Cổ Nhuế thì sao?

    - Bác ơi, làm gì có chuyện cấp đất. Chẳng là cái chủng viện chỗ phố Nhà Chung bây giờ chật hẹp quá, bên Công giáo họ muốn xin xây ở chỗ khác. Cũng bao nhiêu năm mà không sao giải quyết cho xong chuyện. Cuối cùng thì hình như ông Tổng giám mục đề nghị xây ở Cổ Nhuế, trên mảnh đất có sẵn của xứ Cổ Nhuế đấy chứ. Họ xây chủng viện trên đất của họ, chứ nhà nước chỉ cho có cái phép, chứ nào có cấp đất gì đâu.

    - Vậy mà tôi nghe có đứa nó bảo là nhà nước cấp đất cho bên Công giáo ở Cổ Nhuế. Thôi, bây giờ tôi vào chuyện chính. Tôi muốn nhờ chú thảo giúp cho tôi hai bức thư.

    - Chuyện gì lạ vậy. Xưa nay bác vẫn tự viết thư được mà.

    - Thì là chuyện quan trọng mới phải nhờ đến cái bụng chữ của chú. Chứ nếu không tôi nào dám phiền.

    - Thế bác định viết thư cho ai?

    - Một bức cho ông thủ tướng chính phủ, một bức cho Hoà thượng Thích Trung Hậu.

    - Trời đất quỉ thần ơi, sao có chuyện kì lạ thế này?

    - Tôi hẵng nói cho chú biết, bức thư gửi Hoà thượng Thích Trung Hậu là để cám ơn ông ấy đã giúp tôi tìm được cơ hội nhận ra đất tổ tiên mình, còn bức cho ông thủ tướng là yêu cầu nhà nước tham khảo ý kiến dòng họ tôi, mỗi khi định làm gì ở khu Hoàng Thành, cụ thể là chuyện đang định xây lại hội trường Ba Đình.

    - Nhưng sao tự nhiên bác lại quan tâm đến những chuyện trời ơi đất hỡi vậy?

    - Đấy, tôi phải cảm ơn Hoà thượng Thích Trung Hậu là vậy đấy. Chả là sáng nay thằng con trai tôi đọc cho tôi bức thư của ông Hoà thượng này ở trên mạng mẽo gì đấy của nó. Ông ấy yêu cầu ông thủ tướng phải tham khảo ý kiến bên Phật giáo trong cái vụ trả với không trả gì đó ở phố Nhà Chung.

    - Chứ chuyện đó đâu có gì liên quan đến bác?

    - Sao lại không liên quan. Từ chuyện đó tôi nghĩ tới chuyện dòng họ nhà tôi. Mà tôi nhắc cho chú biết, tôi đang là tộc trưởng đấy nhé.

    - Vâng, thì em nào dám chối cái quyền tộc trưởng của bác. Nhưng sao bác lại viết thư cho ông thủ tướng để yêu cầu những chuyện ở Hoàng Thành với hội trường Ba Đình?

    - Thì tôi cũng định làm cái việc giống như Hoà thượng Thích Trung Hậu ấy mà.

    - Nhưng hình như ông Hoà thượng có nói tới lịch sử 825 năm họ liên tục sở hữu chùa Báo Thiên. Với lại một Hoà thượng ít ra cũng có lí do lên tiếng nhân danh bên Phật giáo. Còn bác sẽ yêu cầu nhân danh ai đây.

    - Tôi đã bảo chú rằng tôi là tộc trưởng. Tôi yêu cầu nhân danh dòng họ. Chú vẫn biết dòng họ nhà tôi đấy chứ.

    - Vâng, thì danh tính bác đương nhiên em phải biết. Bác là trưởng tộc họ Lê.

    - Điều chú không biết là trong gia phả nhà tôi có ghi rằng dòng họ nhà tôi vốn gốc tích ở mãi Lam Sơn, Thanh Hoá, là một nhánh của Đức Lê Trừ, anh trai Đức Thái Tổ nhà Lê.

    - Vâng, nhưng em nào có thấy liên quan gì đến chuyện ông Hoà thượng Thích Đức Hậu với chuyện viết thư cho ông thủ tướng?

    - Thật đúng là chú học nhiều mà hiểu ít. Chú vẫn mang tiếng là giỏi về sử mà lại không biết rằng trước thời Lê Trung Hưng, nhà Lê bị nhà Mạc diệt. Sau cụ Nguyễn Kim muốn gây dựng lại nhà Lê. Từ bên Lào, cụ Nguyễn Kim về Thanh Hoá tìm lại con cháu nhà Lê, nhưng không còn ai. Sau cụ Nguyễn Kim tìm được một người con cháu xa của Đức Lê Trừ và lập lên làm vua, đó là vua Lê Trang Tông.

    - Chuyện đó thì em có biết.

    - Vậy thì có phải tôi thuộc hoàng tộc nhà Lê không?

    - Bác nói cũng có lí.

    - Sao lại cũng có lí. Phải nói là hoàn toàn hợp lí chứ.

    - Vâng, nhưng bác định sao nữa đây.

    - Thì ông Hoà thượng Thích Trung Hậu nói tới chuyện bên Phật giáo liên tục sở hữu Chùa Báo Thiên 825 năm. Vậy chứ dòng hoàng tộc nhà tôi lại không sở hữu kinh thành Thăng Long, mà Hoàng Thành là trung tâm, cả đến hơn 350 năm à? Chuyện này chú cũng biết là trong sử sách Việt Nam chẳng ai chối được.

    - Nhưng bác ơi, bác nói thế thì chẳng lẽ lại không có ông tộc trưởng họ Trần, rồi tộc trưởng họ Lý, rồi xa hơn là con cháu Cao Biền cũng sẽ đòi tham khảo ý kiến khi nhà nước định làm gì ở khu vực Hoàng Thành.

    - Đó là việc của họ, tôi không cần biết. Chứ tôi nghĩ ông Hoà thượng Thích Trung Hậu nào đó liệu có một bằng chứng tương tự như cuốn gia phả nhà tôi hay không?

    - Em thì vẫn thấy cái chuyện bác định làm nó viển vông quá sức.

    - Ơ cái chú này. Muốn nhờ chú một việc mà chú toàn nói ngang thôi.

    - Bác ạ, người ta nói việc quan cứ giấy, chứ không thể nói vu vơ được.

    - Trời ơi, chú thật là hồ đồ. Cả cuốn gia phả nhà tôi chưa phải là giấy hay sao? Vậy chứ ông Hoà thượng kia dựa trên giấy nào mà đòi tham khảo ý kiến? Mà tôi cũng có đòi hỏi gì chuyện trả hay không trả đâu, tôi cũng chỉ học ông Hoà thượng kia để yêu cầu nhà nước tham khảo ý kiến dòng họ nhà tôi, khi định làm gì trên mảnh đất mà dòng họ nhà tôi đã sở hữu suốt một thời gian dài.

    - Em thật chịu bác rồi.

    - Bây giờ ý tôi như thế, chú thảo giúp thư cho tôi được chứ?

    - Bác ơi, bác nhờ chuyện gì em cũng giúp, còn chuyện này thì bụng chữ nghĩa nửa mùa của em đúng là vô ích.

    - Thế thì cái đám chữ nghĩa của chú đúng là đáng vứt vào sọt rác. Thôi, nếu vậy thì tôi sẽ bảo thằng con tôi cứ thảo y như cái thư của ông Hoà thượng Thích Trung Hậu, chỉ cần thay vài con số, vài cái tên là xong chuyện. Khỏi phải nhờ tới chú.

    - Bác ơi, em can bác đừng làm chuyện này. Em xin quay lại với cái chuyện bên Công giáo họ đòi cơ sở. Cái chuyện chuyển giao lúc đất chùa thành đất nhà thờ thì em không biết cụ thể ra sao, nhưng bên Công giáo họ có đầy đủ giấy tờ sở hữu từ lâu rồi. Lúc nhà nước mượn của họ cũng chẳng có văn bản giấy tờ gì cả. Chỉ là mượn bằng miệng. Tức là cứ theo giấy thì cơ sở đó đến giờ vẫn là của họ. Thế mà đơn lên đơn xuống hàngbao nhiêu năm nay, nhà nước chỉ ỡm ỡ hứa hẹn. Vậy nên họ mới phải có cách của họ đấy chứ. Thế mà theo em, những diễn biến mấy ngày gần đây cho thấy là nhà nước hình như vẫn không muốn trả. Cứ xem cái cách họ tuyên truyền trên các trang báo thì biết. Nào là bài viết của linh mục Trương Bá Cần trên báo Công giáo và dân tộc, rồi chính cái thư của ông Hoà thượng nữa đấy. Em nghĩ là họ thấy dùng các cách xưa nay họ quen dùng theo kiểu “cả vú lấp miệng em” có vẻ chẳng đi tới đâu, nên đang thử bài mới vậy thôi theo cái kế “tá đao sát nhân” hay “cách ngạn quan hoả” với lại “dương đông kích tây” ấy mà.

    - Chú lại mắc cái bệnh chữ nghĩa rồi. Tôi nhắc cho chú là hình như chú lại lẫn lộn giữa tôn giáo và nhà nước rồi đấy.

    - Em nào dám.

    - Vậy sao chú lại vơ ông Trương Bá Cần và ông Thích Trung Hậu vào bộ máy tuyên truyền của nhà nước?

    - Tại vì mấy tờ báo của họ có bao giờ nói khác ý của nhà nước đâu. Bên Công giáo họ có nhận báo Công giáo và dân tộc là tiếng nói của họ đâu. Rồi báo “Công giáo và Dân tộc” với báo “Phật Tử: Đạo Pháp – Dân Tộc – Thời Đại” nghe cứ như là hai anh em ấy. Chắc bác không biết chứ có chùa người ta còn đặt tượng ông Hồ Chí Minh to tướng ngay trước Đức Phật, rồi còn treo dòng chữ Đạo Pháp – Dân Tộc – Chủ Nghĩa Xã Hội, cứ như ba thứ đó là anh em sinh ba với nhau không bằng. Nên mấy cái loại báo giấy hay báo điện tử đó em cũng vẫn coi là tuyên truyền theo một đường lối.

    - Cái chú này, càng nói càng lạc đề. Thôi, tôi không dài dòng với chú nữa, chú không thảo giúp thì để tôi tự làm vậy. Chú cứ đợi đấy. Có ngày nhà nước với ông thủ tướng sẽ tới nhà tôi hỏi ý kiến cho mà xem.
     
    Hoàng Cúc
     
     
    February 25

    GIÁ TRỊ LICH SỬ VÀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI QUYỀN SỞ HỮU BẤT ĐÔNG SẢN CỦA TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NÔI

     
    Điểm nhấn :
     
    Điều 256 Bộ Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11: quyền đòi lại tài sản

    "Chủ sở hữu, người chiếm hữu hớp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người xử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đôí với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó..."
     
     Điều 247: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:

    1- Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thi trở thành sở hữu chủ tài sản đó, kể từ thới điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp qui định tại khoản 2 này. (Khoản 2 :  Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.)
     
    Ls Trần Lê Nguyên : "Việc HT Thích Trung Hậu quyết đoán vô bằng cớ rằng GHPGVN, là chủ ngôi chùa và tháp Báo Thiên là không có cơ sở, không đúng với thực tế cũng như dữ liệu lịch sử." ...
     
    "Đã không phải là chủ bất động sản hay có lợi ích gì liện quan đến phần đất cũ xa xưa của chùa Báo Thiên từ 1051 năm (1057-2008) nay, GHPGVN, đã tỏ ra ý đồ không minh bạch trong việc đòi đựơc tham vấn vụ việc."
     

     
     
    VietCatholic News (Thứ Hai 25/02/2008 07:25)
     
    GIÁ TRỊ LICH SỬ VÀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI
    QUYỀN SỞ HỮU BẤT ĐÔNG SẢN CỦA TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NÔI


    Từ gần hơn tuần nay, nhiều bài viết và ý kiến được phát biểu trên các phương tiện truyền thông khá dồi dào và đôi khi có những lý giải hoàn toàn trái ngược nhau trên cùng một sự kiện lịch sử, khởi đầu từ khi công bố Văn Thư của HT Thích Trung Hậu, thừa ủy nhiệm Hội Đồng Trị Sư Giáo Hội Phật Giáo Việt nam (GHPGVN) gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng với lập luận rằng khu đất Tòa Khâm sứ tọa lạc từng thuộc quyền sở hữu của Phật giáo và yều cầu GHPGVN cần được tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên (1).

    A- Trước tiên chúng tôi thử phân tách những luận cứ trong Văn Thư nói trên và đem so sánh với những tư liệu lịch sử hiện có nhằm tìm ra sự thật của nhửng sự kiện lịch sử đã xẩy ra như thế, không thêm bớt.

    Những luận cứ trong Văn Thư của GHPGVN:

    1. Mở đầu Văn Thư cho biết rằng căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong bốn di sản văn hóa lớn của Phật giáo được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông", sau đó HT Thích Trung Hậu tự đồng hoá Phật giáo với Giáo Hội Phật Giáo Việt nam (GHPGVN) đã là sở hữu chủ liên tục chùa Báo Thiên trong suốt 825 năm, tức từ năm 1057 cho đến năm 1883.

    2. Tiếp theo HT Thích Trung Hậu quyết đoán rằng vào năm 1883, chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    3. Sau cùng HT Thích Trung Hậu diễn giải Chùa Báo Thiên tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó và HT kết luận là GHPGVN cần được tham khảo trước khi Thủ Tướng có quyết định ( thỏa thuận trao trả đã được Toà Tổng Giám Mục và Chính quyền đồng ý trên nguyên tắc và theo một tiến trình bắt đầu từ hai tuần trươc Tết Mậu Tý).

    Những Chứng Từ Lịch Sử:

    - Về sở hữu chủ chùa Báo Thiên

    • Sách Việt nam Danh Lam Cổ Tự, Võ Văn Tường, Nhà Xuật Bản Khoa Học Xã Hội 1992, trang XIV: Vua Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất của thiền phái Thảo Đường; trang XV: các chùa tháp lớn ở Thới Lý phần lớn do nhà vua hay các quan bỏ tiền xây dụng, nhất là những nơi có cảnh đẹp nuí non. Trong ngoài Thành Thăng Long chùa được xây dựng khắp nơi.

    Vậy sở hữu chủ chùa Báo Thiên có tháp cao ngất khoảng trên dưới 100 mét, nằm gần cạnh Hố Hoàn Kiếm, một cảnh đẹp thiên nhiên là của tư nhân, vua hay quan lớn.

    Việc HT Thích Trung Hậu quyết đoán vô bằng cớ rằng GHPGVN, là chủ ngôi chùa và tháp Báo Thiên là không có cơ sở, không đúng với thực tế cũng như dữ liệu lịch sử.

    Hơn nữa chính bản thân GHPGVN chỉ mới được thành lập và có tư cách pháp nhân vào ngày 7 tháng 11 năm 1981, làm sao mà Hoà Thượng bạo gan dám xác quyết GHPGVN là sở hữu chủ liên tục bất động sản Chuà Báo Thiên từ 825 năm để đòi được tham khảo ý kiên về việc trao trả lại bất động sản thuộc quyền sở hữu của Toà Tổng Giám Mục.

    - Về việc Chính Quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm

    Mốc thời gian 1883, Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp nhưng vẫn do quan chức của Triều Đình Huế quản trị hành chánh. Vị Tổng Đốc Hà Nội lúc bấy giờ là ông Nguyễn Hữu Độ.

    Chính vị Tổng Đốc này sau khi không tìm ra các thừa kế bất động sản chùa Báo Thiên, đã bị hoang phế đổ nát do thời gian và chiến tranh đã cấp quyền sở hữu chủ cho Giám Mục Puginier, cai quản giáo xứ Hà nội.

    Ông Bonnal, lúc bấy giờ là Công Sứ Pháp Hà Nội đã từ chối lời yều cầu xin cấp đất xây Nhà Thờ Lớn ( Saint-Joseph) lấy lý do là ông không có thẩm quyền.

    • Xin Xem Hanoi pendant la période héroique. 1873-1888 ” trang 125, của tác giả André Masson. Librairie Orientaliste Paul Genthner. 13 rue Jacob (VIe). 1929’, Masson-Hanoi và Souvenir de Bonnal.

    • Xin xem tình trạng hoang tàn của chùa Báo Thiên: Hà Nội Nghìn Xưa, trang 177.

    Sau 4 năm xây dựng, Ngôi Thánh Đưòng Nhà Thờ Lớn được khánh thành ngày 23 tháng 12 năm 1887.

    Vậy việc HT Thích Trung Hậu cáo buộc bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo vào 1883 là không xác thực và vô căn cứ.

    Đó là những dữ kiện và tài liệu lịch sử dễ dàng kiểm chứng.

    Đã không phải là chủ bất động sản hay có lợi ích gì liện quan đến phần đất cũ xa xưa của chùa Báo Thiên từ 1051 năm (1057-2008) nay, GHPGVN, đã tỏ ra ý đồ không minh bạch trong việc đòi đựơc tham vấn vụ việc.

    Sự kiện nền đất chuà Báo Thiên có liên quan tới Bất Động Sản nay thuộc Quyền Sở Hữu thuộc Tòa TGM Hà Nội cũng chỉ có tính cách dấu vết lịch sử giống như việc đổi chủ của bất cứ bất động sản nào tại Việt nam hay trên thế giới.

    Tuyệt nhiên không mang lợi gì hay quyền gì cho những vết tích lịch sử đó.

    Chỉ người chủ đích thực của bất động sản mói có đầy đủ các quyền lợi phát sinh từ quyền sở hữu theo quy định của các Điều 192, 193,, 195, 197 vv... của Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11.

    B- Luât pháp Việt nam qui định thế nào về Bất Đông Sản trong tình huống trên.

    Bộ Luật Dân Sự Việt nam, Luật số 33/2005/QH11;

    Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

    Điều 246: Quyền sở hưũ có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

    Vị Tổng Đốc Hà Nội lúc bấy giờ là ông Nguyễn Hữu Độ, đại diện Triều Đình Huế cấp quyền sở hữu chủ cho GM Puginier, quản trị giáo xứ Hà nội là đúng pháp luật.

    Điều 247: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu:

    1- Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản, thi trở thành sở hữu chủ tài sản đó, kể từ thới điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp qui định tại khoản 2 này.

    Nếu như Chính Quyền thực dân Pháp có làm áp lực vói Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ trong việc cấp quyền sở hữu bất động sản cho GM Puginier thì quyền sở hữu này cũng không bị ảnh hưởng gì vì thời hiệu tới này đã 125 năm.

    Ngoài ra Điều 1 phần cuối: Bộ Luật Dân Sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức...; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự...

    Tóm lại việc thủ đắc bất động sản số 40 Phố Nhà Chung của GM Puginier từ Vị Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ là hoàn toàn hợp pháp.

    Tài sản naỳ được chiếm giữ và truyền kế liên tục qua các vị GM nối tiếp khác nhau kể từ 1883 cho tới nay là TGM Ngô Quang Kiệt.

    Việc Giáo Phận Hà Nội cho Đức Khâm Sứ John Dooley mượn một toà nhà (chính Quyền quận Hoàn Kiếm Hà Nội cho gắn vào số 42) làm Toà Khâm Sứ cho đến khi Ngài bị trục xuất vào năm 1959 không thể coi là bất động sản thuộc quyền sở hữu của Toà Thánh Vatican.

    Việc một giáo phận cho Đức Khâm Sứ mược làm Toà Khâm Sứ tại một quốc gia có bang giao với Toà Thánh Vaican là một thông lệ trên toàn thế giới chứ không riêng Tổng Giáo Phận Hà nội.

    Người thuê nhà luôn luôn vẫn là người thuê nhà.

    Ngày nay việc Tổng Giáo Phận Hà Nội đòi laị tài sản của giáo phận mình, bị chiếm dụng trong thời điểm Chính Quyền cai trị bằng vũ lực, vô luật lệ từ hơn 50 năm nay cũng là tuân thủ theo luật pháp.

    Thực vậy:

    Điều 256: quyền đòi lại tài sản


    Chủ sở hữu, người chiếm hữu hớp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người xử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đôí với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó...

    Điều 259: Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp...


    Điều 260: quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

    Kết Luận:

    Giá trị pháp lý Quyền Sở Hữu Bất Động Sản số 40 Phố Nhà Chung bao gồm Toà Khâm Sứ rõ ràng là chắc chắn minh bạch và bất khả tranh cãi.

    Việc trì hoãn trả lại bằng cách dàn dựng những lý do không chính càng làm mất uy tín và niềm tin trong dân chúng. Cả nước và cả thế giới đang chăm chú theo dõi cách ứng xử của Chính quyền.

    Ls Trần Lê Nguyên

    Ghi Chú: [1]

    Nội dung Văn Thư:

    Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó.

    Vừa qua, một số người lên tiếng đòi Chính phủ giao trả Tòa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.

    Trân trọng kính chào Cụ Thủ tướng.

    Kính thư

    T.U.N. BAN THƯỜNG TRỰC HĐTS GHPGVN
    TRƯỞNG BAN VĂN HÓA TRUNG ƯƠNG
    (đã ký)
    Hòa thượng THÍCH TRUNG HẬU
    Ls Trần Lê Nguyên
     
     

    Vụ chùa và tháp Báo Thiên

     
    VietCatholic News (Thứ Hai 25/02/2008 03:36)
     
    Vụ chùa và tháp Báo Thiên

    Lữ Giang

    Trong khi Giáo Phận Hà Nội và nhà cần quyền Hà Nội đang thảo luận về việc trả lại khu đất Tòa Khâm Sứ ở số 42 phố Nhà Chung, Hà Nội, Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc đã huy động hai cơ quan tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước là tờ Công Giáo và Dân Tộc của nhóm Công Giáo quốc doanh và trang nhà phattuvietnam.net, cơ quan ngôn luận chính thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) , thường được gọi là Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh hay Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, bày trò phá rối. Đây là chiến thuật “vùa đánh vừa đàm” rất quen thuộc của Đảng CSVN.

    NHỮNG TRÒ PHÁ RỐI

    Ngày 15.2.2008, tờ “Công Giáo và Dân Tộc” số 1644 do Linh Mục Trương Bá Cần, một cán bộ tôn giáo vận quản lý, đã chạy tít lớn đăng một bài loan truyền tin đồn thất thiệt về mâu thuẫn giữa Công Giáo và Phật Giáo hải ngoại, xuyên tạc lịch sử về vấn đề chủ quyền Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội, bênh vực cơ chế tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, phê phán cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội, và xuyên tạc lá thư của Đức Hồng Y Bertone gởi cho Giáo Phận Hà Nội.

    Tiếp theo, ngầy 17.1.2008, báo điện tử “phattuvietnam.net” cho đăng “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ" của một người ở trong nước dấu tên cho rằng khu Tòa Giám Mục Hà Nội và Tòa Khâm Sứ hiện nay trước đây là chùa và tháp Báo Thiên của Phật Giáo, bị Pháp chiếm đoạt và đập phá đi rồi giao cho Công Giáo xây Tòa Giám Mục và nhà thờ lớn Hà Nội.

    Ngày hôm sau, 18.1.2008, trang nhà này đăng tiếp một bài thứ hai dưới đầu đề “Tâm thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đòi Toà Khâm Sứ” với tên người viết được ghi là Phật tử Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng, cũng đưa ra luận điệu tương tự như bài trước.

    Các websites thân cộng ở hải ngoại hoặc các thành phần theo “Nhóm Thân Hữu Già Lam”
    đều ủng hộ lập luận này. Chúng ta nhớ lại, trrong buổi thuyết pháp trong chương trình “Tiếng Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh Little Saigon, Hòa Thượng Thích Chơn Thành ở Chùa Liên Hoa, Garden Grove, California, đã từng tuyên bố: “Thiên Chúa Giáo Việt Nam cũng như vậy. Dưới thời thực dân Pháp, họ dựa vào Pháp chiếm các chùa rồi xây dựng nhà thờ trên nền chùa, như nhà thờ Đức Bà Hà Nội nguyên là tháp Báo Thiên, được xây dựng từ thời nhà Lý. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn xây trên nền chùa. Nhà thờ Cây Mai trước kia cũng là ngôi chùa. Nhà thờ La Vang trước kia cũng là ngôi chùa tên là chùa Lá Vằng, vân vân.”

    Ai cũng biết, GHPGVN ở trong nước chỉ là một cơ quan ngoại vi của Đảng CSVN, đặt trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Trong Đại Hội VI được tổ chức năm 2007 vừa qua, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, vốn trực thuộc Giáo Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây, được tái bầu làm Chủ Trịch Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ 2007 – 2012. Nhưng ông chỉ đóng vai trò bù nhìn. Người lãnh đạo thật sự của giáo hội này là Hòa Thượng Thích Thanh Tứ, một đảng viên Đảng CSVN, giữ vai trò Phó Chủ Tịch.

    Trên nguyên tắc, hai cơ quan ngoại vi nới trên không thể nói, viết hay làm gì mà không có sự chỉ đạo hay chấp thuận trước của Mặt Trận Tổ Quốc hoặc Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Do đó, chúng tôi tin rằng đây là một trò xảo thuật của Đảng CSVN.

    Những sự kiện và những lập luận do các bài nói trên đưa ra đều hoàn toàn trái với lịch sử và pháp lý, nhưng chúng tôi không trả lời ngay, vì tin rằng đây chỉ mới là những bước thăm dò: Nếu thấy có những phản ứng bất lợi, Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ sẽ tuyên bố rằng đó chỉ là ý kiến riêng của độc giả hay quan điểm riêng của cơ quan ngôn luận đã phổ biến. Nếu thấy không có phản ứng gì đáng kể và được nhóm thân cộng ở hải ngoại tiếp ứng, họ sẽ cho đưa ra tiếng nói chính thức.

    Sự tiên đoán của chúng tôi đã đúng. Ngày 18.2.2008, Website phattuvietnam.net đã công bố văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, hiện là Trưởng Ban Văn Hóa Trung Ương của GHPGVN, đã thừa ủy nhiệm Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của Giáo Hội này, gởi đến Thủ Tướng Nguyễn Tiến Dũng yêu cầu “xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo” trước khi có quyết định về việc trao Tòa Khâm Sứ cho Giáo Phận Hà Nội!

    NHỮNG LỜI XUYÊN TẠC

    Trước khi đưa ra một vài nhận xét, chúng tôi xin trích đăng lại những điểm xuyên tạc chính mà các cơ quan ngôn luận ngoại vi của Đảng CSVN đã cho phổ biến:

    Trong “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ", một độc giả giấu tên đã viết như sau:

    “Khi giặc Pháp đánh cướp Hà Nội, dùng thủ đoạn để cướp đoạt, san phẳng khu chùa Báo Thiên rồi “dâng” cho nhà thờ Ca tô giáo, do đã cúc cung tận tụy phục vụ ngoại xâm, xây lên đó là nhà thờ Lớn bây giờ. Như vậy, sẽ là hồ đồ khi đòi lại và bất công khi trao lại...

    “Sự thật lịch sử đó là hiển nhiên tuyệt đối. Lý do, lực lượng và quá trình để khu đất đó rơi vào tay Giáo hội Thiên chúa còn là một sự thật hiển nhiên hơn nữa. Tất cả các sự thật đó không ai và không bằng chứng nào có thể biện bác, thưa Ngài?”


    Phật tử Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng, trong “Tâm thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đòi Toà Khâm Sứ” , còn đi xa hơn:

    “Đến năm 1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay. Rồi những ngôi chùa khác quanh hồ Hoàn Kiếm, chùa thì bị Pháp triệt hạ (như chùa Báo Ân), chùa thì bị Pháp lấn chiếm cấp đất cho giáo dân (như chùa Bà Đá – trụ sở THPG Hà Nội ngày nay).”

    Văn thư đề ngày 18.2.2008 Hòa Thượng Thích Trung Hậu gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cững đã lặp lại những luận điệu tương tự. Văn thư viết:

    “Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất từ năm 1057 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.

    “Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét vuông, đã bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội và Tòa Khâm sứ lên trên đó.


    “Vừa qua, một số người lên tiếng đòi Chính phủ giao trả Tòa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.”


    Trong vụ này, chúng tôi sẽ trình bày về cả phương diện lịch sử lẫn pháp lý để độc giả có thể nhận ra đâu là sự thật.

    VỀ PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ

    Để trả lời những luận điệu do các cán bộ tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước đưa ra, chúng tôi thấy tốt hơn cả là dùng những tài liệu lịch sử do Đảng và Nhà Nước cho phổ biến

    Cuốn “Tự Diển Hà Nội Địa Danh” do Bùi Thiết biên soạn và do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 1993 với giấy phép mang số 503-CT/VHTT, đã nói về Chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên như sau:

    Chùa Báo Thiên: “Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm, hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá hủy hoàn toàn.” (tr. 26).

    Tháp Báo Thiên:
    “Tòa tháp dựng năm 1057 trước Chùa Báo Thiên, tên chữ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp có 13 trượng (chừng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên bằng đồng. Đỉnh tháp bị trận bảo năm 1258 làm đổ, và phần đồng bị sét đánh bạt năm 1332.

    “Tháp Báo Thiên là một trong những vật báu của Đại Việt thời Lý – Trần. Năm 1427, khi bị vây hảm ở Đông Quan, giặc Minh đã tháo gỡ hết đồng ở tháp để đúc súng đạn. Năm 1547 tòa tháp bị dổ sập nốt phần đá. Cuối thế kỷ XVIII tháp bị phá hủy. Trên nền chùa – tháp họp chợ Báo Thiên.”
    (tr. 26).

    Như vậy, theo tài liệu Đảng và Nhà Nước cho phổ biến, Chúa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên đã bị phá hủy hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII và khu đất đó đã được dân chúng dùng làm nơi họp chợ. Thế thì tại sao bây giờ Đảng và Nhà Nước lại cho các cán bộ tuyên giáo vận nói rằng Chùa và Tháp Báo Thiên bị người Pháp phá rồi lấy đất cấp cho Công Giáo xây nhà thờ và Tòa Giám Mục Hà Nội?

    CẦN NÓI RÕ THÊM

    Sau khi trình bày về Chùa và Tháp Bảo Thiên theo tài liệu của Đảng và Nhà Nước phổ biến năm 1993, chúng tôi thấy cần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề

    Về Tháp Báo Thiên: “Đại Việt Sử Ký” của Lê Văn Hưu và “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên cho biết: Năm Đinh Dậu (1057), mùa xuân, tháng 3, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên, 30 tầng (có sách ghi 12 tầng). Tháp nằm bên cạnh ngôi chùa xây trước đó một năm, tức năm 1056, nhằm năm Long Thụy Thái Bình. Ở tầng thứ ba, nơi cửa tháp có khắc chữ “Thiên tử vạn thọ” (Vua sống trường thọ). Trên chót đỉnh tháp có hàng chữ “Đạo Lý Thiên” , có nghĩa là Đạo Lý của Trời chiếu khắp thiên hạ.

    Về Chùa Báo Thiên: Sách “Đại Việt Sử Ký” cho biết: Dựng Chùa Sùng Khánh Báo Thiên. Lấy 11.000 cân đồng (nhiều sách ghi 12.000 cân) ở trong phủ ra đúc chuông đặt tại chùa ấy... Sự việc xảy ra sau khi vua được nhà Tống phong làm Quận Vương (!) và tiếp sứ Chân Lạp sang cống (tháng 8 năm 1056).

    Sách “Hà Nội Nghìn Xưa” cho biết đời Tiền Lê "đắp núi đất phủ lên nền cũ. Chùa bỏ hoang, cuối thế kỷ XVIII làm chợ Báo Thiên, núi làm chỗ xử tử người có tội. Năm 1791, đào lấy những gạch đá nền tháp để tu bổ thành Thăng Long.” (tr. 177).

    Cuốn “Souvenirs” (Hồi Ký) của Bonnal, Công Sứ Hà Nội lúc đó, có ghi lại rằng khi thấy ngôi Chùa Báo Thiên bỏ hoang, dân chúng trong vùng đã họp nhau lại bàn bạc và nhận thấy ngôi chùa đã bị bỏ hoang phế từ lâu không người quản lý và hiện thời đã biến thành phế tích, có thể đổ sập gây tai nạn cho người qua lại bất cứ lúc nào. nên đã đề nghị chính quyền rỡ bỏ và thu hồi đất đai vô chủ. Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ đã chấp thuận cho phá bỏ ngôi chùa.

    Công Sứ Bonnal cho biết thêm: Cuối năm 1883, Giám mục Puginier có xin ông khu đất vô chủ đó để xây nhà thờ lớn Hà Nội, nhưng ông trả lời rằng vấn đề đó không thuộc thẩm quyền của ông vì Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ chứ không phải thuộc địa của Pháp. Ông yêu cầu Giám mục Puginier trình bày vấn đề này với quan Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ, một quan chức do Triều Đình Huế bổ nhiệm. Giám mục Puginier đã nêu lên ước muốn của ông với ông Tổng Đốc Độ. Ông Độ đã cho mở một cuộc điều tra tìm con cháu những người trước đây là sở hữu mảnh đất, nhưng mấy trăm năm đã trôi qua, hơn nữa chiến tranh loạn lạc, xã hội biến động, nên không tìm được ai là chủ miếng đất đó. Vì thế, ông đã quyết định cấp cho Giám mục Puginier xây cất nhà thờ.

    Qua một số sử liệu nói trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

    (1) Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là nơi tế trời của vua như Nam Giao ở Huế, nên không liên hệ gì đến Phật Giáo.

    (2) Khu đất có Chùa Bảo Thiên trước đây chỉ còn là một khoảng đất tróng đang được dùng để họp chợ và được Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ cấp cho Giám mục Puginier, chứ không phải Tây đã cho đập phá Chùa Bảo Tháp rồi lấy đất cấp cho Công Giáo.

    (3) Chùa Báo Thiên nằm ở thôn Báo Thiên Thị, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, do vua Lý Thánh Tông dùng tài sản quốc gia để xây dựng vào năm 1056. Như vậy, chùa này tuy được dùng để thờ Phật nhưng không thuộc quyền sở hữu của bất cứ tông phái Phật Giáo nào. Nói theo danh từ ngày nay, đây là “Chùa quốc doanh” . Vậy Hòa Thượng Thích Trung Hậu lấy tư cách gì để đòi lại? Phải chăng ông đã chính thức nhìn nhận GHPGVN là một giáo hội quốc doanh (state-run Church), tức một công cụ tôn giáo vận của Nhà Nước chứ không phải là một tôn giáo?

    (4) Tại sao vua Lý Thánh Tông lấy đất dân xây Chùa Báo Tháp cho Phật Giáo thì không bị gọi là ưu đãi Phật Giáo, còn Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ lấy đất đó cấp cho Công Giáo xây nhà thờ thì bị coi là ưu đãi Công Giáo? Phải chăng chỉ một mình Phật Giáo mới được quyền ưu đãi mà thôi sao?

    VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ

    Trong thời Pháp thuộc, hai Bộ Dân Luật Trung và Bắc đều quy định thời hiệu để thủ đắc quyền sở hữu bất động sản vô chủ là 100 năm. Dân Luật Việt Nam sau này rút xuống còn 20 năm.

    Điều 1452 của Bộ Dân Luật Việt Nam quy định; “Sự chấp hữu một bất động sản trong 20 năm, nếu hội đủ điều kiện đã định ở điều 1444, sẽ là người chấp hữu thủ đắc quyền sở hữu về bất động sản ấy.”

    Điều kiện án định nói ở điều 1444 như thế nào? Điều này nói: “Muốn được thủ đắc thời hiệu, cần phải chấp hữu liên tiếp yên ổn, công khai và minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ.”

    Những trường hợp nào bị coi là không chấp hữu liên tiếp yên ổn? Theo điều 1460, bị coi là gián đoạn thời hiệu, một trong 3 trường hợp sau đây:

    Trường hợp 1: Có trát đòi người chấp hữu ra trước tòa về sự chấp hữu ấy.

    Trường hợp 2: Có sự sai áp đồ vật (ở đây là đất) chấp hữu.

    Trường hợp 3: Có sự đốc thúc người chấp hữu phải trả lại đồ vật (ở đây là đất) bằng một văn thư do một công lại hữu quyền tống đạt.

    Nếu trong 20 năm không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, sự chấp hữu được coi như là “liên tiếp và yên ổn” nên đương nhiên có quyền thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản.

    Nói chung, các luật pháp thuộc hệ thống Roman Law như ở hầu hêt các nước Âu Châu và Việt Nam trước đây, đều quy định tương tự như thế. Chỉ có chế độ cộng sản mới áp dụng luật man rợ mà thôi.

    Tòa Giám Mục Hà Nội đã chấp hữu khu đất làm Tòa Giám Mục và Tòa Khâm Sứ hiện nay “liên tiếp và yên ổn” từ năm 1884 đến nay, tức 122 năm, không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, nên phải được coi là người thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản đã chấp hữu.

    Ngoài ra, về phương diện pháp lý, chỉ có sở hữu chủ của sở đất nói trên trước năm 1884 và các thừa kế hợp pháp của họ mới có quyền đứng đơn khiếu nại. Giáo Hội Phật Giáo Nhả Nước và tất cả các tổ chức Phật Giáo khác không có tư cách để khiếu nại.

    Đây là đều GHPGVN phải biết.

    ĐIỀU ĐÁNG NGẠC NHIÊN

    Chúng tôi tự hỏi: Trong lịch sử, các vua Việt Nam đã ban cho Phật Giáo vô số tài sản, nhất là dưới thời Lý – Trần và dưới thời các Chúa Nguyễn, nhưng sau đó đã bị Hồ Quý Ly và vua Quang Trung “cướp” sạch. Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước không đòi lại các tài sản đó mà chỉ đòi khu đất Tòa Khân Sứ ở phố Nhà Chung, Hà Nội, mà thôi?

    Trong lịch sử Trung Hoa cũng như Việt Nam, Phật Giáo luôn trải qua những thời kỳ thịnh suy nối tiếp nhau: Vua nào thích Phật Giáo thì xây chùa, cấp đất và nông nô cày ruộng cho chùa, đem nhiều báu vật của quốc gia dâng cho chùa. Vua nào không thích Phật Giáo hay thấy việc chu cấp cho Phật giáo gây nhiều tổn thất cho quốc gia, lại ra lệnh đập phá chùa và thu hồi tài nguyên quốc gia, gây ra “Pháp nạn”.

    Tại Trung Hoa, có ba Pháp nạn lớn nhất, thường được gọi là “Tam Võ Nhất Tôn Pháp Nạn” . Ở Việt Nam, Phật Giáo đã phải trải qua hai “Pháp nạn” kinh hoàng nhất trong lịch sử, đó là “Pháp nạn” dưới thời Hồ Quý Ly và “Pháp nạn” dưới thời vua Quang Trung.

    Thời Lý – Trần, Phật Giáo được các vua cấp đến 1/3 đất đai và tài nguyên của quốc gia. Trong bài Ký Tháp Linh Tế, Trương Hán Siêu đã ghi: “trong thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ dứt luân thường, hao tổn của báu...” . Nhưng sau đó, để có tài nguyên chống lại giặc Minh, Hồ Quý Ly (1400 – 1407) đã quyết định áp dụng chế độ hạn điền và hạn nô, lấy lại phần lớn các tài sản đã cấp cho nhà chùa, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhập ngũ hay làm lao dịch. Tuy nhiên, ông hành động quá chậm và không triệt để nên Việt Nam bị mất vào tay nhà Minh.

    Để có tài nguyên chống lại giặc Thanh, vua Quang Trung (1788 – 1792) đã chơi bạo hơn: Ông ra lệnh đập phá hầu hết các chùa, đem tượng Phật và chuông chùa ra đúc vũ khí, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhâp ngũ hay đi lao dịch... Nhờ vậy, Quang Trung đã thắng trận vẽ vang. Tập “Tonkin et Cochinchine” của các nhà truyền giáo Pháp đã ghi: “Họ đã cướp phá chùa và họ đã đốt những ngôi chùa danh tiếng nhất của các cựu vương Bắc Hà.” Vua Quang Trung không không cho phép mỗi làng đều có chùa như trước. Ông ra lệnh phá hủy các chùa riêng và tuyên bố khoảng 200 làng mới có thể họp lại để xây một ngôi chùa chung.

    Việc kiểm kê các tài sản đã bị “cướp” này rất dễ dàng, vì trong cổ sử đều có ghi năm nào vua nào đã xây chùa nào cho Phật Giáo, chẳng hạn như Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu có ghi: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể...” Những đoạn như thế đươc gặp rất nhiều trong cổ sử, nên Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước có thể sưu tra và đòi Nhà Nước phải trả lại cho Phật Giáo. Miếng đất thuộc khu Tòa Khâm Sứ có đáng giá gì đâu mà đứng lên đòi được tham khảo?

    TÂY CHÈN ÉP PHẬT GIÁO?

    Trong các bài viết về Tòa Khâm Sứ, nhóm quốc doanh ở trong nước và nhóm thân cộng ở hải ngoại luôn rêu rao rằng dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã chèn ép Phật Giáo và nâng đỡ Công Giáo. Nhưng sự “xác tín” này hoàn toàn trái với các sử liệu. Vì bài báo có hạn, chúng tôi chỉ xin ghi lại một số điểm chính.

    Có thể nói, chính quyền Pháp đã yểm trợ Phật Giáo tối đa. Họ cho các viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa đứng ra thành lập các hội Phật Giáo và xuất bản các tâp san Phật Giáo trong cả ba Kỳ để giúp Phật Giáo phát triển.

    Trước hết, Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương đã ban hành Nghị Định ngày 28.1.1930 thành lập “Viện Nghiên Cứu Phật Giáo Tiểu Thừa Bản Xứ” (Institut Indigène d’Étude du Bouddhisme du Petit Véhicule) để truyền bá Phật Giáo Tiểu Thừa cho dân bản xứ. Sau đó, tại Nam Kỳ, năm 1931 Pháp đã thúc đẩy một số cư sĩ Tây học như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vinh, Trần Nguyên Chấn, Nguyễn Văn Cần, v.v. đứng ra thành lập “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” và xuất bản tạp chí “Từ Bi Âm” ... Ông Trần Nguyên Chấn đã mời Thống Đốc Nam Kỳ Khrautheimer làm hội trưởng danh dự của hội.

    Tại Trung Kỳ, năm 1932, Bác Sĩ Lê Đình Thám đã được chính quyền thuộc địa đưa ra Huế thành lập “Hội An Nam Phật Học” và xuất bản tạp chí “Viên Âm Nguyệt San” , sau đó lập ra “Trường An Nam Phật Học” tại chùa Trúc Lâm để đào tạo các tăng sĩ.

    Tại Bắc Kỳ, ngày 23.12.1934, Tổng Đốc Nguyễn Năng Quốc đã chính thức tuyên bố thành lập “Phật Giáo Bắc Kỳ Hội” , lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở và cho xuất “Tập Kỷ Yếu số 1” và sau đó là tạp chí “Đuốc Tuệ”. Tạp chí này cho biết trong vòng một năm đã có 2.000 tăng ni và hơn 10.000 Phật tử là hội viên.

    Trong bộ “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” , Tập III, Nguyễn Lang, tức Thiền Sư Nhất Hạnh, đã cho biết: “Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đã lan ra hầu khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ.” (tr. 168)

    Trong “Việt Nam Phật Giáo tranh đấu sử” Tuệ Giác đã công nhận: “Phải nói rằng từ năm 1920 đến hết năm 1956, Phật giáo Việt Nam thật là một thời kỳ hưng thịnh. Số Phật Tử càng ngày càng đông các tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh Phật tử đều được sắp xếp quy củ.” (tr. 77)

    Trên đây là những sự ghi nhận của các sử gia Phật Giáo. Như thế mà bảo Phật Giáo bị Pháp chèn ép sao?

    MỘT VÀI NHẬN XÉT

    Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23.2.2008, Thượng Tọa Không Tánh thuộc GHPGVNTN không được công nhận, đã nhận xét về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu gởi cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau:

    “Cái vấn đề là mình phải biết rằng bây giờ là do ai thúc đẩy mà Hòa Thượng Trung Hậu đã làm cái văn thư đó, là do cái lệnh của ai, và người ta đã mượn tay Hòa Thượng Trung Hậu làm cái văn thư đó nhắm mục đích gì. Mình phải biết cái chuyện đó.

    “Bây giờ biết cái tài sản đó là của Tòa Khâm Sứ từ thời xa xưa rồi. Cái chuyện đó ai cũng biết. Từ cái thời xa xưa đó, lúc đó Hòa Thượng Trung Hậu cũng chưa sinh ra, và cái GHVN cũng chưa có. Bây giờ người ta lại mượn tay Phật Giáo.

    “Có những cái luật bất hồi tố. Thí dụ như có những tài sản, theo quốc tế người ta quy định, thí dụ như là những cái đất đai, những cái tài sản mà nó có từ Đệ Nhất hay Đệ Nghị Thế Chiến, thí dụ như vậy, hay là những cái thời điểm nào đó thì nó đã trở thành bất hồi tố. Cho nên bây giờ nó đã qua như vậy rồi.

    “Bây giờ thì Nhà Nước Cộng Sản họ thấy họ khó đáp ứng theo cái đòi hỏi, cái đấu tranh, cái nguyện vọng của bên Công Giáo, thì họ mượn tay của Phật Giáo Việt Nam, rồi cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể giải quyết hay là đình lại, hay là thế nọ thế kia gì đó. Như vậy, vai trò GHPGVH trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà Nước, trước cái hoàn cảnh Nhà Nước không có cái cách để mà giải quyết.

    “Còn đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử, đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. Còn cái việc của GHVN đã làm đó, mình chẳng có để ý gì cái việc đó.”


    Trong cuộc phỏng vấn ngày 21.2.2008, ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó Vụ Trưởng Vụ Công Giáo thuộc Ban Tôn Giáo Chính Phủ Việt Nam đã nói về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu như sau:

    "Nếu nói nguồn gốc của tổ chức cá nhân này, thì tổ chức cá nhân khác, người ta cũng có các căn cứ, các chứng lý, để nói đó là của người ta."

    Ông nói sẽ xử lý các vấn đề trên tinh thần của Luật Đất Đai năm 2003 đã được Quốc Hội thông qua và phía Chính phủ sẽ giải quyết các nhu cầu của cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng về nhà, đất lâu dài và ổn định trên cơ sở thấu tình đạt lý.

    Ông Thịnh bênh vực GHPGVN là chuyện đương nhiên, vì tổ chức này là một công cụ tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước. Nhưng ông đã ngụy biện. Như chúng tôi đã nói ở trước, GHPGVN mới được thành lập năm 1981, không phải là sử hữu chủ hay thừa kế hợp pháp của sở đất mà vua Lý Thánh Tông đã lấy để xây chùa và tháp Báo Thiên trên đó, nên về phương diện pháp lý, Giáo Hội này không có tư cách và thẩm quyền để khiếu nại. Do đó, không cần phải xét đến văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu làm gì.

    Chúng tôi tin rằng nhà cầm quyền thừa biết rằng không hề có chuyện Pháp đã cho đập chùa Báo Thiên rồi lấy đất cấp cho Công Giáo và Giáo Phận Hà Nội đã thủ đắc hợp pháp quyền sở hữu của sở đất này theo thời hiệu. Nhưng họ vẫn dùng tờ Công Giáo và Dân Tộc và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để quấy rối, với mục đích nói với phía Công Giáo rằng yêu cầu của các ông có sự chống đối của Phật Giáo. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xét và cấp đất cho Giáo Hội theo sự quy định của Luật Đất Đai năm 2003. Đây là một trò chơi lá mặt lá trái rất quen thuộc của Đảng CSVN.

    Về sự ưu đãi: Nếu Thiên Chúa Giáo Việt Nam có được một chính quyền nào đó ưu đãi một vài thừ gì đó thì những ưu đãi đó cũng chưa bằng 1/10.000 những ưu đãĩ mà các chính quyền đã dành cho Phật Giáo trong quá trình lịch sử. Dưới thời Lý – Trần, chính quyền đã dâng hiến cho Phật Giáo một số tài sản lên đến bằng 1/3 tài sản quốc gia, khiến nền kinh tế bị kiệt quệ.

    Trong 32 năm qua, nhà cầm quyền CSVN cũng đã và đang xây nhiều chùa và trung tâm rộng lớn cho Phật Giáo ở Vũng Tàu, Sài Gòn, Đà Lạt... Một ngôi chùa tuyệt đẹp vừa được chính quyền địa phương dựng lên ở Tiên Sa, Đà Nẵng. Trong khi đó, chính quyền chẳng những không xây một nhà thờ nào cho Thiên Chúa Giáo, trái lại còn đập phá hay ngăn cản không cho sửa chửa các ngôi thánh đường đã quá cổ và hư nát.

    Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước thử suy nghĩ xem: Tại sao chỉ một mình Phật Giáo được hưởng các sự ưu đãi tối đa, còn các tôn giáo khác không được? Ở các nước Tây Phương, nơi có đông Thiên Chúa Giáo, có quốc gia nào áp dụng thứ luật kỳ thị đó đối với Phật Giáo đâu?
     
    Lữ Giang
    February 24

    ĐỪNG ĐÁNH LẠC MỤC TIÊU, ĐỪNG ĐÁNH TRÁO CHỦ ĐỀ

     

    MẶC GIAO

    VIẾT TỪ CANADA

    Bài này không có mục dích tranh cãi hơn thua và gây bất hòa giữa đồng bào Phật tử và đồng bào Công Giáo. Tôi luôn luôn chủ trương hòa đồng dân tộc, vì trước khi được rửa tội dể có đức tin Công Giáo, tôi được sinh ra là một người Việt Nam. Vì thấy có một số người đi vào con đường tranh luận nguy hiểm, tỏ mờ xuất hiện âm mưu chia rẽ và gây hận thù giữa hai khối tôn giáo lớn nhất Việt Nam, có thể gây nguy hại khôn lường cho dân tộc, chẳng những trong cuộc đấu tranh chống độc tài hiện tại mà còn cả cho công cuộc xây dựng lại đất nước trong mai sau, tôi buộc lòng phải phát biểu đôi điều.

     

    80225PhuLy2
    Hình ảnh Lễ khởi công xây cất nhà thờ Phủ Lý, Hà Nam, giáo phận Hà Nội 22/02/2008 ( hình VietCatholic)

    Trong khi hàng ngàn giáo dân Hà Nội liên tiếp tụ tập trước trụ sở tòa Khâm Sứ Tòa Thánh cũ, từ cuối tháng 12-2007, để cầu nguyện cho việc nhà cầm quyền cộng sản trả lại khu nhà đất này, trong khi đồng bào trong nước và ngoài nước nhìn về cuộc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động này với niềm ưu tư và hy vọng, nôn nóng chờ đợi kết qủa để xem cộng sản sẽ giải quyết ra sao, để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm và tiền lệ nào cho cuộc đấu tranh đòi công lý, không phải chỉ cho Công Giáo, mà còn cho các tôn giáo khác, nếu không nói là cho toàn dân, thì Nhóm Giao Điểm ở Mỹ, khét tiếng thù hận Công Giáo, tung ra những luận điệu kết án Công Giáo đã triệt hạ và cướp đất chùa Báo Thiên để xây nhà thờ Thánh Giuse, khu nhà chung và tòa Khâm Sứ ở Hà Nội. Nhóm này cho rằng Phật Giáo mới là chủ nhân của khu đất tranh chấp và kêu gọi Phật tử đứng lên đòi lại. Để đánh động tâm lý của Phật tử, có ông còn chơi trò ghép hình gian, lấy tấm hình đẹp đẽ của một chùa khác, chùa Báo Ân (tức chùa Liên Trì), ghép bên cạnh hình nhà thờ lớn Hà Nội với ngầm ý là ngôi chùa trong hình chính là chùa Báo Thiên, đã bị đập phá để xây nhà thờ. Đòn khích động của nhóm Giao Điểm không nhiều thì ít đã gây tác hại cho tình đoàn kết dân tộc, thí dụ web Huongtran “hatnangusa@yahoo.com”, vẫn hàng ngày phổ biến tin tức và bài vở bênh vực Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, ngày 21-01-2008 đã đăng một số lời kêu gọi và kết án có nội dung rất “cạn tầu ráo máng”, khởi đầu bằng một khẩu hiệu in chữ lớn đậm: “Bà con Phật Tử hãy đến nơi gọi là “tòa khâm sứ” đòi bọn Việt gian Catô trả lại chùa Báo Thiên cho PGVN”. Đọc khẩu hiệu khích động này, người ta có thể hiểu đó là một lời kêu gọi thánh chiến, báo trước một cuộc chiến tranh tôn giáo sắp xảy ra. Đó là một cuộc chiến tranh giữa Phật Giáo và Công Giáo, không phải là cuộc tranh đấu giữa các tôn giáo và chế độ độc tài vô thần. Tôi tin rằng các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đa số đồng bào Phật tử không mong muốn có một cuộc chiến tranh như vậy, nhất là khi các vị và các Phật tử chân chính đang cần sự hỗ trợ của toàn dân để đấu tranh cho sự sống còn của Giáo Hội trước mưu chước triệt tiêu Giáo Hội của nhà cầm quyền hiện nay.

    Người ta lại càng có lý do nghi ngờ việc đánh lạc mục tiêu cuộc đấu tranh của giáo dân khi ông Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng Ban Tôn Giáo nhà nước, người đã từng nhiều năm đứng đầu một cơ quan chuyên lo triệt hạ, kiểm soát, cấm đoán, kềm kẹp, gây chia rẽ và lợi dụng các tôn giáo, đứng ra đỡ đòn cho nhà nước bằng việc gây mâu thuẫn giữa Phật Giáo và Công Giáo với hy vọng làm cho hai tôn giáo này đánh đấm lẫn nhau thay vì đánh chế độ độc tài. “Đao phủ thủ” của các tôn giáo Lê Quang Vịnh cho phổ biến ngày 03-02-08 một bài ngắn có tựa đề “Lịch sử Phố Nhà Chung” kể lại việc ông được vị sư trụ trì chùa Lý Quốc Sư “đưa cho đọc những tư liệu qúy giá mà nhà chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa. Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chứng tích rằng toàn bộ khu đất rộng 300 mét vuông ấy, ngày nay gọi là Phố Nhà Chung (Công giáo), ngày xưa là một ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính, tráng lệ, đồ sộ vào bậc nhất nước ta. Chùa có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự, gọi đầy đủ là là Sùng Khánh Báo Thiên Tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp cao vời vợi (12 tầng), cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt hồ Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp, gọi tắt là Báo Thiên Tháp…”. Chưa cần bàn tới tài liệu này chính xác tới đâu, chỉ nguyên việc ông Vịnh nói dóc đã đủ gây nghi ngờ về sự trung thực của ông. Trước hết, ông nói ông “đọc” những tư liệu của vị sư trụ trì. Những tư liệu này chắc chắn phải được viết bằng chữ Nho, lại là chữ Nho cổ. Một giáo sư Hán học của trường đại học văn khoa chưa chắc đã đọc thông liền tại chỗ, có khi còn phải lập cả một ủy ban để nghiên cứu và dịch thuật mới có thể tìm hiểu tận tường. Chữ nghiã của ông cán bộ Lê Quang Vịnh được bao nhiêu mà ông thoáng đọc đã hiểu hết mọi chi tiết? Thứ hai, ông nói tháp Báo Thiên cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt nước hồ Hoàn Kiếm. Ai cũng biết nhà thờ chánh tòa không nằm gần bờ hồ Hoàn Kiếm. Nếu đúng tháp Báo Thiên nằm ở địa điểm nhà thờ lớn ngày nay có thể soi bóng trên mặt hồ thì tháp phải cao cả cây số, còn cao hơn tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới đang được xây ở Dubai, Trung Đông. Sự thật, theo tài liệu sưu tầm của Hội Khoa Học Lịch Sử VN, tháp chỉ cao 20 trượng, tức 80 mét. Phét lác như thế mà được “Giaodiem online.com” của các ông “trí thức” vồ lấy đăng ngày 13-02-08, cùng ngày phổ biến bài này trên web Báo Đại Đoàn Kết, cơ quan Trung Ương của Mặt Trận Tổ Quốc, cơ quan ngoại vi của đảng cộng sản. Tuy nhiên, nói về việc ông cộng sản gộc nhẩy vào cuộc để chỉ đạo một cách vụng về không có nghiã là phủ nhận các sự kiện lịch sử.

    THẢO LUẬN TRÊN DIỄN ĐÀN TALAWAS

    Trên diễn đàn điện tử TALAWAS ngày 20-01-08, ông Lê Tuấn Huy đã có bài “Xin hãy dừng lại trước khi qúa muộn” bàn về vấn đề một số người muốn khích động việc tranh chấp đất đai giữa Phật Giáo và Công Giáo. Tác giả tự xác nhận là người vô thần 100%, nhưng “sống bằng lẽ phải và lương tâm, không hề thấy đúng nói sai hay thấy sai nói đúng”. Ông giật mình lo ngại trước nguy cơ tranh chấp giữa hai tôn giáo chỉ vì chuyện đất đai. Ông nhìn thấy có sự lẫn lộn giữa lịch sử và hiện thực. Theo ông, khi một trong các bên chủ thể của tranh chấp không còn tồn tại, hoặc khi đã qua một thời gian đủ lâu, lúc mà các chủ thể trực tiếp đã biến thành các chủ thể hậu duệ, thì xem như lịch sử đã được xác lập. Không ai thay đổi được lịch sử và không ai có thể giải quyết được mọi hậu qủa của lịch sử. Trong khi đó hiện thực là cái ta phải đối mặt và có thể thay đổi. Về lịch sử, chính quyền thực dân Pháp, chủ thể phát đất cho Công Giáo xây nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác, đã trở thành cát bụi từ lâu rồi. Những người bị lấy đất cũng không còn để có thể khiếu nại. Không thể viện quyền thừa kế vì khi đó chỉ có các cá nhân tu sĩ và Phật tử, chưa có Giáo Hội Phật Giáo, nên chưa có tập đoàn có tư cách pháp nhân. Vả lại Phật Giáo và Công Giáo vẫn sống hài hòa từ đó tới nay, chẳng ai thắc mắc, chẳng ai đòi gì của ai, tại sao bây giờ lại moi ra vấn đề đã đi vào lịch sử? Về hiện thực, ngược lại, chính quyền cộng sản lấy nhà đất tòa Khâm Sứ năm 1959 vẫn còn đó, những người thừa kế quyền sở hữu vẫn còn đó với giấy tờ đầy đủ, nên việc khiếu nại có cơ sở. Vì vậy, ông e ngại việc khích động Phật Giáo đòi đất chỉ là cớ chống Công Giáo. Ông kêu gọi những nhóm người thuộc “tôn giáo” nào đó hãy ý thức “lợi ích dân tộc là lợi ích của toàn thể khối nhân dân, của tất cả các tôn giáo và người không theo đạo sống trên mảnh đất hình chữ S này, không phải của riêng ai, riêng một đảng phái hay tôn giáo nào. Vì lợi ích riêng mà bất chấp viễn cảnh được giả định của một cuộc xung đột tôn giáo và xã hội, vốn sẽ đi kèm – không tránh khỏi trong thời đại ngày nay - với giải pháp khắc chế lẫn nhau giữa các tôn giáo, sẽ dẫn đến một đại họa, và là một tội ác! Xin hãy dừng lại trước khi qúa muộn!”

    Chỉ ba ngày sau khi bài của ông Lê Tuấn Huy xuất hiện, ông Nguyễn Hữu Liêm nhảy vào cuộc với bài “Một lịch sử đã muộn” (Góp ý với Lê Tuấn Huy về vấn đề Phật Giáo và Công giáo ở Việt Nam), được đưa lên Diễn Đàn Talawas ngày 23-02-08. Thật ra ông Nguyễn Hữu Liêm không có góp ý trực tiếp với vấn đề và những luận điểm ông Lê Tuấn Huy nêu lên. Ông chỉ mượn cớ để đổ thêm dầu vào lửa bằng lối nói cố làm ra vẻ trí thức và hòa nhã. Trước hết, ông viện dẫn Ludwig Feuerbach đả kích đạo Công Giáo rồi lại dùng Barth để đả kích Feuerbach đã lún sâu vào tín lý Công Giáo khi phủ định đạo này. Kế đến ông cho rằng những “người trí thức Phật Giáo Việt Nam đã nảy sinh một tinh thần hận thù Công Giáo như là một năng thức phủ định đối với một bản sắc văn hóa mới, ngoại lai trong ý chí bảo tồn truyền thống của mình”. Liền đó ông lại chê các trí thức Phật Giáo VN chưa có, hay không có khả năng tạo nên cơ hội để biến niềm căm phẫn đối với Công Giáo thành ra một phản biện thuần lý luận (như Feuerbach chuyển hóa niềm bất mãn nội tại thành ngôn từ triết học). Chỉ hơn một thập niên qua, nhóm Giao Điểm mới có những công trình biên khảo phê phán đạo Công Giáo. Trong số những tác giả ông ca tụng và kê tên, có cả cây viết cộng sản Hoàng Văn Giàu. Ông cho rằng ông dùng chữ “hận thù” là không qúa đáng vì Công Giáo, nhiều hay ít đã nhờ vào thực dân Pháp mà bành trướng. Đó cũng là lý do “người trí thức Phật tử Việt Nam cảm thấy họ gần gũi với người cộng sản trong bản chất phản đề và phủ định đế quốc phương Tây”.

    Sau khi xử dụng trích đoạn Thánh Kinh bị ông cắt vụn và giải thích sai lạc: “Ta đến để nổi lửa trên thế gian… để mà gây chia rẽ” (Luke 12) dể chứng minh Công Giáo bành trướng bằng sức mạnh chinh phục, ông chê Phật Giáo ngây thơ đối với vấn đề tôn giáo và quyền lực và dậy các trí thức Phật tử “phải có khả năng và ý chí để nhân danh truyền thống dân tộc Việt, tạo nên một một năng lực phản đề và phủ định đối với đạo Chúa một cách có hiệu năng hiện thực”. Ngoài việc kết án Công Giáo xây nhà thờ Thánh Joseph trên nền Tháp Báo Thiên, ông Liêm còn tạo thêm tội vương cung thánh đường La Vang được xây trên nền chùa Lá Vàng ở Quảng Trị. Ông cho rằng “Đây là, và phải là một cáo trạng nặng nề đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” “ít nhất là trên bình diện đạo đức lịch sử của người Công Giáo, khi đòi lại cơ sở của họ, Giáo Hội Công Giáo phải trả lời cáo trạng này”.

    Cũng trên diễn đàn Talawas, ngày 08-01-08 ông Nguyễn Mai Sơn cho đăng bài “Xin đừng bi quan bởi không có gì qúa muộn”. Bài này không có gì đặc biệt ngoài việc tác giả chỉ trích Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt là ngây thơ, có thái độ khiêu khích khi phát động cầu nguyện để đòi lại nhà đất. Lý do là Tổng Giám Mục Kiệt đã coi thường phản ứng của Phật Giáo và xem nhẹ khả năng “đáp trả” của chính quyền. Ông viết thêm: “Điểm đáng chú ý và cũng gần như là mấu chốt của vấn đề chính là phần nhiều người Công Giáo vẫn xem Vatican là “nước Mẹ”, khiến mọi người nghĩ rằng người Công Giáo Việt Nam đặt lợi ích tín ngưỡng của mình lên trên lợi ích dân tộc”.

    Phải ghi nhận diễn đàn Talawas đã có thiện chí mở cửa cho cuộc thảo luận rộng rãi về vấn đề tranh chấp đất đai, nhờ đó nhiều người có dịp đọc được những ý kiến trái ngược, có cơ hội nhận định tâm trạng của những người viết cũng như những tính toán của nhà cầm quyền qua những ngôn từ và những ẩn ý.

    NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ VÀ NHỮNG NGHI VẤN

    Bỏ qua những xác định khơi khơi của ông Lê Quang Vịnh, chúng ta có một số tài liệu lịch sử nói về chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên với nhiều chi tiết bổ túc cho nhau và đáng để cho người sau suy nghĩ.

    Trước hết, sự hiện diện của chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên ở khu gần nhà thờ lớn hiện nay đã được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên và Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815) xác nhận. Tháp được xây trước (1056), chùa được xây sau một năm (1057), đều do lệnh của vua Lý Thái Tông (1054-1072).

    Về sự xụp đổ của tháp Báo Thiên, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Việt Sử Lược, những tầng trên của tháp được ghép bằng đồng nên dễ bị sét đánh. Vì thế tháp đã xụp đổ và được sửa lại nhiều lần. Lần đổ cuối cùng, theo Tang Thương Ngẫu Lục, “khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng Đế tiên triều (Lê Lợi) tiến binh vây Đông Đô, viên quan giữ thành là Thành Sơn Hầu Vương Thông phá hủy cây tháp (lấy vật liệu) chế ra súng đồng để giữ thành (1414). Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên” (Talawas 04-02-08).

    Theo tài liệu của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, trong bài Nghĩ về Thăng Long Hà Nội (Nhà Xuất Bản Trẻ 2001, TP. HCH, tr 100-105) thì sau khi tháp Báo Thiên bị tướng nhà Minh là Vương Thông triệt hạ để lấy đồng, từ đó chùa Báo Thiên cũng bị bỏ hoang. Triều Lê cho đắp núi đất phủ lên nền cũ. Cuối thế kỷ 18, nơi sân chùa thì họp chợ gọi là chợ Báo Thiên. Núi dùng làm nơi xử chém những tội nhân bị kết án tử hình. Năm 1791, người ta đào lấy những gạch đá nơi nền tháp để tu bổ thành Thăng Long.

    Như vậy sử liệu đã ghi rõ tháp Báo Thiên bị quân Minh phá sập dể lấy đồng khi Lê Lợi bao vây thành Thăng Long, chùa Báo Thiên bị bỏ hoang phế sau đó, dân chúng họp chợ trên sân chùa, núi đất được dùng làm pháp trường, gạch đá được moi lên để tu bổ thành. Vậy mà ông Nguyễn Quốc Dũng hò hét trên Giaodiem online (18-01-08) “Thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay”. Phá tháp, phá chùa là tội lớn lắm. Nếu tin lời ông Nguyễn Quốc Dũng và những người thích vu khống và thù hận như ông thì những người công giáo VN phải là những tội đồ số 1 của dân tộc. Ông Nguyễn Hữu Liêm nói rằng trí thức Phật tử cảm thấy gần gũi với người cộng sản, chẳng lẽ các ông lại muốn hô hào Phật tử hãy mau tiếp tay với cộng sản để cùng trừng trị đám “tội đồ số 1” này (!?)

    Chưa xong vụ Báo Thiên, ông Nguyễn Hữu Liêm lại lôi ra vụ chùa Lá Vàng ở Quảng Trị: “chùa Lá Vàng trở thành thánh địa La Vang, từ một ngôi chùa “không tên” trở nên Vương cung Thánh đường”. Khác với trường hợp Tháp và Chùa Báo Thiên, không có một tài liệu lịch sử nào chứng minh có một Chùa Lá Vàng ở địa điểm nhà thờ La Vang hiện nay. Có chăng là một am nhỏ đã được dân địa phương nhường lại cho đồng bào công giáo khi biết Đức Mẹ đã hiện ra gần đó. Ông Nguyễn Lý Tưởng, người gốc Quảng Trị, đã viết về khu đất này như sau: “La Vang ngày xưa là một xóm đạo thuộc giáo xứ Trí Bưu (gọi là xóm Lá Vằng)… Toàn vùng La Vang ngày xưa là đất thuộc làng Thạch Hãn (chỉ trừ xóm Lá Vằng tức La Vang bây giờ là do giáo dân Trí Bưu vào rừng làm củi đã khai phá ra đất đó, nên La Vang thuộc giáo xứ Trí Bưu). Đọc lịch sử Đức Mẹ La Vang chúng ta biết ba làng Thạch Hãn, Ba Trừ và Cổ Thành, sau khi tìm hiểu về chuyện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang vào cuối thời Tây Sơn, đã đồng thuận trao di tích Cây Đa (nơi dân đi rừng đã làm một cái am để thờ Một Bà Hiển Linh nào đó mà họ không biết tên) lại cho người bên đạo”http:/ttntt.free.fr 25-01-08). Như vậy làm gì có chuyện giáo dân phá chùa Lá Vàng để xây Vương Cung Thánh Đường lên đó. (Nguyễn Lý Tưởng 05-12-2005, đăng lại trên

    ĐÁNH LẠC MỤC TIÊU

    Trong khi cuộc đấu tranh bằng cầu nguyện của giáo dân Hà Nội có mục đích đòi hỏi nhà nước cộng sản trả lại nhà đất của Giáo Hội để xử dụng vào những việc công ích, thay vì để mở tiệm phở, quán nhạc, bán và giữ xe gắn máy, thì một số người nhận mình là trí thức Phật tử lại phát động chiến dịch khơi lại hận thù với Công Giáo, xuyên tạc Công Giáo phá chùa, chiếm đất để xây nhà thờ. Nếu Lê Quang Vịnh làm điều này, chúng ta không có gì thắc mắc vì đó là bổn phận của ông ta trong việc “ăn cây nào rào cây nấy”. Biết đâu ông chẳng được lệnh từ trên phải thi hành mánh khoé gỡ rối cho đảng và nhà nước bằng cách xúi cho Phật Giáo và Công Giáo đánh lẫn nhau thay vì đánh cộng sản. Có bao nhiêu người rơi vào âm mưu này vì vô tình? Có bao nhiêu người tiếp tay với nhà nước cộng sản thực hiện âm mưu này một cách cố ý? Đọc những lời lẽ của một số người tự nhận là Phật tử, chúng ta chỉ toàn thấy hận thù, tố cáo, xuyên tạc, mạ lỵ, lập cáo trạng để hỏi tội Công Giáo, không hề thấy một chút từ bi hỷ xả nào của tinh thần Phật Giáo. Họ còn chê những trí thức Phật tử khác dốt, không biết lý luận rốt ráo và cao cấp khi chống đối Công Giáo, chê đa số Phật tử thụ động và hiền lành, không chịu nghe lời xách động của họ để nổi lên hỏi tội Công Giáo.

    Ai cũng biết vụ giáo dân Hà Nội đòi nhà đất là một vấn đề rất khó giải quyết cho nhà cầm quyền cộng sản. Không trả thì những cuộc đấu tranh, dù bất bạo động, vẫn dai dẳng tiếp diễn, có thể lôi kéo người tham gia càng ngày càng đông, không phải chỉ riêng giáo dân, mà còn dân chúng thuộc các thành phần khác, không phải chỉ đòi nhà đất, mà còn đòi những thứ khác. Nhà cầm quyền VN hiện nay rất sợ những cuộc tụ tập đông người vì có thể biến thành những cuộc biểu tình chống nhà nước, sẽ khơi ngòi bất mãn bùng nổ khắp nơi. Khi đó liệu chính quyền có dám và có khả năng đàn áp các cuộc biểu tình này không? Nếu có máu đổ thì máu sẽ gọi máu, dân càng thêm căm phẫn và càng đấu tranh quyết liệt hơn. Nếu đàn áp xảy ra, quốc tế có nhắm mắt làm ngơ hay sẽ áp dụng những biện pháp chế tài, cụ thể là “đóng băng” (freese) tài sản của các công ty và của các ông bà lớn gửi tại các ngân hàng nước ngoài? Việc này đã có tiền lệ. Mới nhất là vụ đàn áp tại Miến Điện. Tại quốc gia này, đàn áp có thành công nhưng chế độ bị xỉ vả, bị chế tài, bị đóng băng trương mục, bị Liên Hiệp Quốc bắt phải nói chuyện với đối lập, thay đổi hiến pháp, lập chính phủ liên minh, đi đến việc thực hiện tự do dân chủ. Vì thế, khi thấy hàng ngàn giáo dân tụ tập cầu nguyện liên tục, nhà cầm quyền đã nhức đầu tìm cách gỡ ngòi nổ. Họ đã liên lạc thẳng với Vatican để xin can thiệp giải tán các buổi cầu nguyện đông người với lời hứa hẹn sẽ giải quyết thỏa đáng. Giáo dân đang chờ. Ngòi nổ được tạm quay ngược vòng cho chậm giờ nổ nhưng vẫn có thể được cho chạy lại (restart) bất cứ lúc nào. Không nhượng bộ không xong. Nhưng nhượng bộ chỗ này chỗ khác sẽ đòi hỏi. Điển hình là 7000 người tụ tập tại Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà ngày lễ minh niên mồng 3 Tết. Công Giáo đòi được, Phật Giáo và các tôn giáo khác cũng sẽ đòi, cá nhân bị chiếm nhà chiếm đất cũng sẽ gia tăng cường độ khiếu nại. Lúc đó nhà nước sẽ giải quyết ra sao? Cái mớ bòng bong này không có mối gỡ. Vì vậy, phải đánh lạc mục tiêu tranh đấu của giáo dân, phải có bộ phận nhập cuộc gây hận thù giữa Công Giáo và Phật Giáo để hai tôn giáo tấn công lẫn nhau, làm suy yếu hàng ngũ đấu tranh với nhà nước cộng sản. Chúng ta mong rằng giáo dân Công Giáo và đồng bào Phật Tử sẽ có ý thức cao độ về vấn đề này.

    ĐÁNH TRÁO CHỦ ĐỀ

    Chủ đề của những cuộc đấu tranh bất bạo động đang diễn ra là Công Giáo đòi nhà đất do nhà cầm quyền cộng sản chiếm giữ. Bỗng nhiên một đám người ngoài nhẩy vào đòi đổi chủ đề tranh đấu thành tranh chấp đất đai giữa Phật Giáo và Công Giáo. Trầm trọng hơn là họ còn muốn đổi chủ đề đất đai thành đề tài Công Giáo quan hệ với thực dân và Công Giáo phá hoại văn hóa dân tộc. Vì không có thời giờ thảo luận đến nơi đến chốn, tôi chỉ xin nhắc vài sự kiện để chúng ta cùng suy nghĩ

    1/ Công Giáo và thực dân: Đạo Công Giáo có mặt tại Việt Nam từ năm 1533. Ba thế kỷ rưỡi sau, năm 1884, với Hòa ước Giáp Thân, Pháp mới chính thức đặt nền đô hộ tại Việt Nam. Trong khoảng thời gian dài đó, Giáo Hội ít khi được yên hàn giữ đạo và mở đạo. Ngược lại toàn bị bách hại, hết bởi vua đến quan (Văn Thân). Trong 351 năm đó, có thực dân đâu mà cộng tác? Điều nghịch lý là sau 351 năm bị cấm, giết bởi chính những người cùng máu mủ với mình, Công Giáo Việt Nam chỉ được hồi sinh khi ngoại bang đến cướp nước. Khi cả triều dình dều khép nép tuân lệnh thực dân, khi cả nước phải làm theo ý của những ông chủ mới, người Công Giáo có thể đơn phương chống lại thực dân Pháp được không, hay phải tương kế tựu kế để sống còn? Đồng ý rằng dưới thời Pháp cai trị, có những người Công Giáo làm tay sai cho chính quyền thực dân, nhưng những tay sai khét tiếng như Hoàng Cao Khải, Vi Văn Định, Tôn Thọ Tường… thuộc tôn giáo nào? Có phải ông Hồ Chí Minh cũng đã viết đơn xin học trường Bảo Hộ để mong được làm quan bản xứ cho Pháp hay không? Mặt khác, Công Giáo trong thời này, nhờ điều kiện thuận lợi để phát triển, đã xây dựng được nhiều trường học, nhà thương, viện tế bần, viện mồ côi, trại cùi… phục vụ tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo. Đừng nên có thiên kiến và chỉ biết kết án. Hãy xét hoàn cảnh thời bấy giờ và hãy cân nhắc những điều tốt đạo Công Giáo đã đóng góp cho dân tộc Việt Nam.

    Về cách hành xử của nhà cầm quyền bảo hộ Pháp (tạm gác việc nói về những chính sách thực dân), họ có truyền thống thiết kế thành phố với việc xây cất ưu tiên ở trung tâm sáu cơ sở chính: tòa thị chính, tòa án, nhà tù, nhà bưu điện, nhà hát và nhà thờ. Chúng ta thấy rất rõ cách thiết kế này tại Hà Nội và Sài Gòn. Nếu không đủ đất để xây, họ dùng biện pháp truất hữu hay phá cái cũ để xây dựng cơ sở mới. Vì lý do này, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có thời được gọi là nhà thờ nhà nước, nhà thờ lớn Hà Nội được chính quyền bảo hộ Pháp cấp đất trên nền của chùa và tháp Báo Thiên đã bị xụp đổ và bỏ hoang phế. Họ không dại gì giao chùa và tháp còn đang đứng sừng sững của Phật Giáo cho Công Giáo phá đi để xây nhà thờ trên đó. Là người cai trị, dù là thực dân, họ cũng không muốn có sự xáo trộn xã hội. Những chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn ở ngay giữa trung tâm Hà Nội, có ai dám đụng tới đâu? Giám mục Puginier được chính quyền thời đó cấp đất để xây nhà thờ và nhà chung. Ông không chiếm đất của ai. Những người thừa kế của ông có bằng khoán hợp lệ. Nay nếu ai muốn đòi đất này thì phải đi kiện chính quyền thực dân trong khi chính quyền này đã đi vào lịch sử. Giả dụ muốn trả thì trả cho ai? Cho Giáo Hội Phật Giáo nào? Hay để hóa giải “hận thù” thì phải đập xập luôn nhà thờ lớn Hà Nội và toàn khu Nhà Chung để một số người được thỏa lòng? Có ai tìm được giải pháp thần diệu nào cho vấn đề này không, hay càng nói càng gây chia rẽ và hận thù giữa các thành phần dân tộc?

    2/ Công Giáo và dân tộc: Đây là một đề tài lớn, không thể trình bầy trong một bài viết. Tôi chỉ xin góp ý về một vài điểm đã được một số tác giả nêu lên trong cuộc tranh luận mà tôi đã trích dẫn ở phần trên. Trước hết, có một số người mang định kiến sẵn với Công Giáo, bất cứ cái gì của Công Giáo đều xấu, từ giáo lý đến giáo chủ. Ông Nguyễn Hữu Liêm mở đầu bài viết bằng việc dẫn Karl Barth và Feuerbach để đả kích thần học Công Giáo, gọi tín đồ Công Giáo là những cá thể “nửa thú vật, nửa thiên thần”, cần phải được giáo dục để trở về “làm người, toàn diện con người”. Đã có triết gia định nghiã con người là nửa thánh nửa qủy. Nay ông Liêm mượn lời của Barth để chửi đồng loại là nửa vật nửa thiên thần, vậy ông là gì? chắc không phải là nửa thiên thần nửa thánh? Ông lại xuyên tạc Thánh Kinh khi dẫn lời Chúa Giêsu nói: “Ta đến là để nổi lửa trên thế gian… để mà gây chia rẽ” để chứng minh rằng Công Giáo truyền đạo bằng bạo lực. Ông bẻ vụn hai câu 49 và 51, đoạn 12 của Phúc Âm Luca để làm sai ý và dịch sai nghiã của câu nói. Bản tiếng Anh của The Holy Bible, New International Version (Michigan 1984) viết : “I have come to bring fire on the earth, and how I wish it kindled… Do you think I came to bring peace on earth? No, I tell you, but division”. Bản dịch Tân Ước của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn (1997) như sau: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên… Anh em tưởng rằng Thầy đến để đem hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Lối nói của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu hay dùng những ẩn dụ, những hình ảnh. Câu này không có nghiã là Ngài đem lửa đến để gây chiến tranh, để đốt thế gian, nhưng là đem sự thật, áng sáng, hơi ấm và sự cứu độ cho nhân loại. Vì thế mới mong lửa bùng lên. Tôi cũng đã nghe nhiều lần Phật Giáo ca tụng “lửa từ bi”. Chắc chắn lửa này cũng không phải là lửa gây chiến tranh. Ở câu sau, Ngài nói Ngài đem chia rẽ đến trần gian chứ không phải đến để chia rẽ trần gian. Đó là một lời tiên tri, vì những ai theo Ngài sẽ bị ghét bỏ, bị người ta lăng nhục và nhiều khi bị chém giết. Nhân loại sẽ ganh ghét và chia rẽ vì sự có mặt của Ngài và của môn đệ Ngài. Điều này đã xảy ra đúng như vậy. Bằng chứng là những người Công Giáo ở thế kỷ 21 vẫn còn bị những người như ông Liêm lăng mạ. Mong ông “giáo sư” hãy chịu khó nghiên cứu để hiểu biết thêm một chút. Nếu đã hiểu rồi, xin ông hãy giữ lương thiện trí thức một chút.

    Còn việc ông Nguyễn Mai Sơn cho rằng phần nhiều người Công Giáo vẫn xem Vatican là “nước mẹ” thì đó là một sự hiểu lầm to lớn. Người Công Giáo VN chỉ liên hệ với Vatican về tôn giáo mà thôi. Vả lại, mỗi một giáo phận, chưa nói tới giáo hội Công Giáo cả nước, được coi như một giáo hội địa phương hoàn toàn độc lập, chỉ liên hệ với Vatican về tín lý và kỷ luật nội bộ của Giáo Hội. Người Công Giáo Việt Nam là công dân Việt Nam toàn phần (không phải công dân hạng hai), tôn trọng luật lệ VN, xả thân bảo vệ tổ quốc VN, không bảo vệ nước Vatican. Họ chỉ bảo vệ đức tin. Vì vậy đừng sợ người Công Giáo đặt lợi ích tín ngưỡng của mình trên lợi ích dân tộc. Đòi nhà đất bị chiếm một cách bất công có vi phạm lợi ích dân tộc không?

    Cũng liên quan đến vấn đề Công Giáo và dân tộc, ông Nguyễn Hữu Liêm đã nói huỵch toẹt lý do thù hận Công Giáo như sau: “Người trí thức Phật Giáo Việt Nam đã nẩy sinh một tinh thần hận thù Công Giáo như là một năng thức phủ định đối với một bản sắc văn hóa mới, ngoại lai trong ý chí bảo tồn truyền thống của mình”. Ông ca đi ca lại bài Phật Giáo là dân tộc. Không ai phủ nhận ảnh hưởng lớn lao của Phật Giáo trong truyền thống và văn hóa của dân tộc. Nhưng cũng không ai có thể phủ nhận những đóng góp của các tôn giáo khác trong đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Không kể Khổng Giáo và Lão Giáo đã cùng Phật Giáo tạo thành bộ ba “tam giáo đồng nguyên”, đạo thờ tổ tiên ông bà còn có gốc rễ sâu xa hơn và phổ biến trong dân gian rộng hơn bất cứ đạo nào khác tại Việt Nam. Đạo Công Giáo đã có mặt tại Việt Nam gần 500 năm nay, đã trở thành một phần tinh thần và máu thịt của dân tộc Việt Nam, tại sao vẫn còn bị kỳ thị, bị coi như đối tượng hận thù? Người Việt Công Giáo có khác gì những người Việt khác ngoài đức tin của họ? Họ cùng chia một nguồn gốc, một lịch sử, một tiếng nói, một văn hóa và phong tục với mọi người Việt Nam, họ cùng nổi trôi theo vận nước với toàn thể dân tộc. Hàng triệu người Công Giáo cũng đã ngã xuống trong công cuộc bảo vệ quê hương. Có ai phân biệt tôn giáo của các tử sĩ? Tại sao cứ nói đến hận thù, là tiếng không có trong giáo lý nhà Phật?

    Nếu Công Giáo đem lại chút gì khác cho dân tộc thì đó chính là việc giao lưu tất yếu khi các định chế chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội có khuynh hướng đi đến chỗ được tổ chức một cách hợp lý và tiến bộ trên toàn thế giới. Có một số người vẫn chỉ trích mô thức tổ chức này trong khi vẫn cố gắng làm theo vì trong thời buổi chúng ta đang sống, không ai có thể tiếp tục mặc áo the, đi guốc mộc, búi tó củ hành để “bảo tồn truyền thống dân tộc”. Bảo tồn truyền thống và văn hóa dân tộc mới chỉ là khía cạnh tĩnh, tiêu cực, dậm chân tại chỗ. Đời sống văn hóa còn có khía cạnh động. Chỉ nên coi cái tĩnh là cốt lõi, và phải có cái động để hội nhập với thời đại, tìm tiến bộ. Giỏi thì vẫn tiến cùng người trong khi vẫn giữ được bản chất của mình. Dở thì sẽ thành một thứ không giống ai, không cạnh tranh nổi với người, nên đòi quay về ôm lấy truyền thống dân tộc.

    Ở khía cạnh đóng góp cho văn hóa Việt Nam, những người Công Giáo cũng không phải là những người ngoài cuộc. Không kể chữ quốc ngữ, ai có thể phủ nhận công trình của những Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký của lịch sử cận đại, những giáo sư triết học Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Vũ Đình Trác, giáo sư ngữ học Việt Nam Lê Văn Lý… của thời hiện đại? Nêu tên những vị này không phải để khoe khoang hay kể công. Họ là người Việt Nam, đóng góp tài ba cho dân tộc Việt Nam là chuyện tự nhiên. Nhưng vì có người muốn gạt hết mọi người Công Giáo sang thành phần bị loại bỏ với tội vọng ngoại, phản bội văn hóa dân tộc, nên chúng tôi phải nhắc lại những tên tuổi này để mọi người thấy Công Giáo Việt Nam có phản bội văn hoá dân tộc không.

    Nói mãi cũng không cùng và càng gây thêm hiểu lầm. Tôi xin kết thúc bài này bằng kết luận sau đây:

    * Chúng ta có bằng chứng và lý do cho thấy nhà cầm quyền cộng sản rất bối rối trong việc giải quyết những vụ tụ tập cầu nguyện đòi nhà đất của giáo dân Hà Nội. Họ tìm cách gỡ bí bằng cách chuyển mặt trận sang địa bàn khác: biến nạn nhân đi đòi trở thành đối tượng bị đòi.

    * Một số “trí thức” Phật tử vô tình hay hữu ý nhảy vào cuộc, hành động đúng theo chiến thuật của nhà cầm quyền cộng sản. Họ còn đi xa hơn bằng việc biến cuộc tranh chấp đất đai thành cáo trạng hỏi tội người Công Giáo đi theo ngoại bang, phản bội truyền thống và văn hóa dân tộc.

    Đối với những người cố tình hành động theo sách lược của cộng sản, tôi không cần nói đến nữa. Họ đã có niềm tin và sự lựa chọn rất khác với tinh thần Phật Giáo dù vẫn núp dưới danh nghiã Phật Giáo. Nhưng đối với những người anh em Phật tử vô tình bị cuốn hút vào trận thiên la địa võng này, tôi xin anh em hãy tỉnh táo nhìn ra vấn đề, nhận ra đâu là đồng minh, đâu là đối phương, việc gì phải làm trước, việc gì nên làm sau. Nếu đất nước có tự do và công lý, anh em một nhà còn thiếu gì thời giờ và cơ hội để giải quyết những bất đồng qúa khứ và hiện tại trong tinh thần vô úy nhưng khoan nhượng. Tiếp tục chia rẽ và hận thù sẽ làm lợi cho ai? Phật Giáo vốn coi mọi sự là sắc không, là vô thường, há chi nặng lòng với những “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”, bởi vì như Bà Huyện Thanh Quan đã cảm khái

    Lớp sóng phế hưng coi đã mỏi

    Chuông hồi kim cổ lắng càng đau

    MẶC GIAO

    Nguồn Blog Sát Thát

    SỰ THỰC VỀ ĐẤT ĐAI TÒA KHÂM SỨ, NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI & CHÙA BÁO THIÊN

     
    Điểm nhấn : "Do vậy cũng có thể nói Chùa Báo Thiên là thuộc hoàng gia chứ chưa bao giờ là sở hữu của Giáo Hội Phật Giáo, vì Giáo Hội Phật Giáo với tư cách là Giáo hội pháp nhân mới được thành lập trong thế kỷ XX mà thôi" (GM Nguyễn Văn Sang).
     
     
    VietCatholic News (Thứ Bảy 23/02/2008 20:01)
     
    SỰ THỰC VỀ ĐẤT ĐAI TÒA KHÂM SỨ, NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI & CHÙA BÁO THIÊN

    Tôi không là nhà sử học, lẫn địa dư học, song tôi có bộ óc hoài niệm và suy nghĩ. Tôi đã vâng lời Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, đã viết một số bài liên quan tới khu đất 40 Phố Nhà Chung (tôi không dùng số 42, vì số đó là con số chính quyền quận Hoàn Kiếm đặt, nhằm hợp thức hóa việc chiếm đoạt khu đất 40 của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội từ năm 1876 - năm xây dựng Tòa Giám Mục - xem bài của Lê Thiện, VietCatholic, 19/2/2008). Bài đó là “Bài hồi ức về đất Tòa Khâm Sứ cũ…”. Trong bài đó, tôi nêu rõ các lý do pháp lý, tình cảm, hoài niệm tập quán lẫn lời chứng của các tiền nhân để xác định chủ quyền sở hữu của Tòa Tổng Giám Mục trên mảnh đất 40 (gồm cả 42) Phố Nhà Chung mà còn có thể các khu đất khác chung quanh. Sau này Tòa Tổng Giám Mục cũng công bố trên VietCatholic bản đồ rõ rệt của đất mượn Nhà Chung Hà Nội, đúng như tôi đã trình bày trong bài Hồi ức; trong đó tôi cũng đã động tới Ngôi Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, được xây dựng trên nền tháp Báo Thiên theo thông tin của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (sau này tôi hồ nghi nhà văn này đã lấy nguồn tin đó trong tài liệu của cha thừa sai Pháp như ông Lê Thiện đã viết bài nói trên).

    Hiện nay, việc tranh luận về đất đai nhà Chúa hay nhà Chùa (đầu đề của Lm. Thiện Cẩm) đang đi vào chỗ gay cấn. Tôi xin phát biểu vài tư tưởng nhỏ mọn sau:

    Về mặt lịch sử, bên Phật giáo đòi lại các khu đất đó đã có bài lý luận rất giá trị và xúc động của nhà “vô thần” Lê Tuân  Huy đăng trên VietCatholic và một số bài khác. Tuy ngay trong các bài tôi viết cũng đã khẳng định lý luận đòi lại các khu đất, thì phải đào bới toàn thể thủ đô Hà Nội phá đi chỉ còn là đống gạch vụn.

    Song tôi xin đặt vấn đề thực tế hơn: Chùa và rõ hơn Tháp Báo Thiên gồm khu đất nào? Rộng bao nhiêu? Dài bao nhiêu? (Vài tài liệu chỉ nói tới chiều cao 30 tầng).

    May mắn tôi được đọc bài của nhà sử học Nguyễn Đình Tư cho biết chi tiết gồm cả một bản đồ theo bản vẽ từ đời Hoàng Đức 1490. Năm 1056, đời Lý Thánh Tông cho xây chùa trên bờ hồ Lục Thủy (Hồ Hoàn Kiếm) phía đông Thăng Long lại. Năm 1075 xây Tháp tại chùa quen gọi Tháp Báo Thiên và sắp xếp các phường phố của thành Thăng Long, cũng gọi phường ở khu vực này là phường Báo Thiên.

    Vậy theo bản đồ 1490 Tháp Báo Thiên bên cạnh hồ Lục Thủy, có người nói ở chỗ nhà Bưu điện hiện nay, có người nói ở Nhà Báo Nhân dân bây giờ. Việc này có vẻ phù hợp với lời Đức Hồng Y Giuse Trịnh Như Khuê nói với tôi: “Xem đầu óc của Đức Cha Phước sâu sắc lớn lao dường nào. Nhà thờ Thánh Giuse bây giờ ngài chỉ xây để dùng làm Nhà Nguyện cho trường Lý đoán (Đại Chủng Viện) Hà Nội, còn nhà thờ Chính Tòa sẽ được xây dựng bên bờ Hòan Kiếm (bên này, hoặc bên kia hồ???)”. Ông Nguyễn Đình Tư cho biết rõ hơn:

    “Thiết nghĩ… chính quyền Hà Nội nên cho phục chế ngôi tháp Báo Thiên đã bị quân Minh phá hủy (chứ không phải thừa sai Công giáo v.v…) trong khuôn viên khu đền thờ Vua Lê” (hiện nay bên cạnh hồ Hoàn Kiếm và một nhà Ngân hàng).

    Như vậy, có thể đoán được rằng: khu Chùa và Tháp Báo Thiên cũ là ở phía bên này hồ Hoàn Kiếm, trong khu đất Tam giác, nơi có Hội Trí Đức cũ, và đầu kia là cơ sở của Báo Nhân Dân đứng trên mảnh đất nhà binh Pháp cũ.

    Lại nữa, xem trên bản đồ thời Hồng Đức 1406, Chùa và Tháp Báo Thiên ở cạnh hồ Lục Thủy (Hoàn Kiếm) mà Nhà Thờ Lớn ngày nay ở bên kia huyện Thọ Xương (ngõ Huyện ngày nay) cách xa nhau từ 1 đến 2 cây số. Không chắc mảnh đất được dùng để xây Nhà Thờ Lớn có ở trong khu vực tháp Báo Thiên không? Theo ông Nguyễn Đình Tư viết: “Tháp được xây trên gò đất cao… nền tháp xây đá và gạch…” Chúng ta thử tưởng tượng tháp trên gò đất đó, nền bằng đá, mà chân nó rộng, dài 2km, thì tháp đó vĩ đại thế nào, trong thời kỳ nước ta vào năm 1054 có đủ kỷ thuật để xây dựng chăng, mặc dù theo sử tháp đó cao tới 30 tầng!!!

    Chỉ có Nhà Nguyện của trường Lý đoán được xây trên khu đất “hồ nghi” của tháp Báo Thiên, còn Nhà Thờ Lớn theo ý định của Đức Cha Phước sẽ xây bên hồ Lục Thủy, nơi đất ngày nay báo Nhân Dân đặt trụ sở, mà có thể là nơi có Tháp Báo Thiên thực sự thì đã không diễn ra.

    Vậy nên có bài viết đầy khôi hài trong báo điện tử VietCatholic rằng: “Đáng lẽ phải thắp nến và cầu nguyện trước Bưu Điện thành phố hay trước Báo Nhân Dân!!”.

    Còn đất Tòa Khâm Sứ cũ và đất cả Tòa Tổng Giám Mục Hà nội có phải là đất Chùa và Tháp Báo Thiên không, thì xem bản đồ Hồng Đức 1406 càng xa địa điểm giả định của Tháp Báo Thiên bên hồ Hoàn Kiếm như trên đã nói. Bài báo do ông Lê Thiện viết trích dịch sự kiện của Hội Thừa Sai Paris đã viết: “Đức Cha Phước muốn chọn các thửa đất giữa Tràng Thi ở phía Nam và chùa Báo Thiên ở phía Bắc…” Thế thì đất Khâm Sứ cũ nằm trong đất Tòa Tổng Giám Mục, đâu có nằm trên khu đất của chùa Báo Thiên (Tháp Báo Thiên), mà là đất giữa Tràng Thi và chùa Báo Thiên cũ, rõ ràng không phải là đối tượng cho một số phật tử đòi phải trả lại (!!!)

    Đằng khác, bài viết mới đây của linh mục Hồng Kim Linh (VietCatholic 22/2/2008) đã trình bày cặn kẽ ảnh hưởng của đạo Phật trong cách điều khiển đất nước của các vua quan đời Lý lúc đó, đã đem lại rất nhiều tệ nạn, làm suy nhược đất nước. Điều này rất phù hợp với nội dung của cuốn tiểu thuyết Hồ Quí Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

    Có thể nói, đất đai chùa chiền chiếm phần lớn đất của quốc gia. Dân thì “trốn việc quan đi ở chùa” làm thành phần sư sãi đông gấp bội… ruộng vườn bị bỏ hoang, nên có câu ca dao phản ứng với câu cổ truyền: “Nhất sĩ nhì nông, tam công tứ thương, thành ra “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ”.

    Trong hòan cảnh đó, chùa chiền mọc lên như nấm, trong đó có chùa Báo Thiên, Tháp Báo Thiên. Sang đến đời Trần và các đời sau, đạo Phật bị mất ảnh hưởng nơi các triều đại kế tiếp, chùa chiền vắng bóng các sư coi sóc, để hoang phí dột nát, kể cả chùa Báo Thiên, lẫn Tháp bị Quân Minh năm 1426 phá sập, triều Lê cho đắp mú đất phủ lên nền cũ. Cuối thế kỷ XVIII, nơi sân chùa thì họp chợ, núi (gò) dùng làm nơi xử chém những tội nhân bị kết án tử hình. Vậy thì còn đâu là Chùa, là Tháp để cho các Thừa Sai hoặc những người Công giáo năm 1883 đập phá, rỡ bỏ nơi cơ sở văn hóa như một số người đã phát biểu.

    Còn như lấy lý do bên Phật giáo quản lý từ năm 1054 tới 1883, thì ai làm chủ khu đất và ngôi Chùa bị hoang phế từ 1426. Và trước năm 1054, ai quản lý các đất có trước và họ có quyền đòi lại không? Trong lịch sử, các ngôi chùa là do nhà một nhà sư (hoặc một ông vua, chúa, hoặc một người giàu có lập ra và trao cho một nhà sư trù trì), và đó là sở hữu của nhà sư hoặc của người lập ra... (Trích lá thư của Pina năm 1623, có liên quan đến quyền sở hữu của các ngôi chùa: Công cuộc truyền giáo tại Quảng Nam năm 1623 và vấn đề ngôn ngữ: Bức thư của Francisco De Pina, tác giả Roland Jacques) Do vậy cũng có thể nói Chùa Báo Thiên là thuộc hoàng gia chứ chưa bao giờ là sở hữu của Giáo Hội Phật Giáo, vì Giáo Hội Phật Giáo với tư cách là Giáo hội pháp nhân mới được thành lập trong thế kỷ XX mà thôi.

    Và thường hiện nay, đại đa số nhà nhà chùa vẫn còn là sơ hữu của tư nhân, chứ không phải là sở hữu của Giáo Hội Phật Giáo. Trường hợp một sư trù trì qua đời thì di chúc lại cho đệ tử.

    Như trên có nói thời Lý, chùa chiền mọc lên như nấm, thì tất cả những khu đất mảnh vườn chúng ta đang sống trên đó ở thủ đô Hà Nội này, đều xây dựng và sinh sống trên đất chùa cũng nên, mà phải hoàn lại cho Phật giáo chăng – cũng như một số lý luận khôi hài rằng: đất miền Trung phải trả cho dân Chiêm Thành, đất miền Nam phải trả cho Cao Mên!!! Do đó, tôi rất tán thành nhà văn “vô thần” Lê  Tuân Huy, cho rằng phải quan niệm đúng đắn về lịch sử để giải quyết các đất đai còn vướng mắc như vụ đất của Tòa Khâm Sứ cũ. Nhưng tôi cũng không đồng ý với lập luận của linh mục Trương Bá Cần cho rằng: “Đất của Tòa Khâm Sứ cũ là đất vắng chủ, nên nhà nước tạm quản lý”.

    Xin thưa tôi đồng ý với linh mục Thiện Cẩm rằng: Không biết luật nào, nghị định nào để linh mục Trương Bá Cần dựa vào đó mà phát ngôn như vậy, đất Tòa Khâm Sứ cũ mà linh mục cứ cố ý gọi là số 42 cho khác đi số 40, (như tôi đã trình bày: số 42 là do Quận Hoàn Kiếm tự đổi từ số 40 mà ra), không bao giờ vắng chủ từ năm 1883 tới giờ này, 12 giờ trưa ngày 23/2/2008, tôi đang viết dòng này! Tòa Tổng Giám Mục có chủ là Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt; trước đó là Đức Hồng y Phạm Đình Tụng, trước đó nữa là Đức Hồng y Căn v.v…ngược lên 1883… Ngay khi Tòa Giám Mục được tuyên bố là trống tòa thì vẫn có chủ: là Đức Cha Giám quản, không thì Cha Tổng đại diện vv… và cơ quan về pháp lý đất đai của giáo phận.

    Tòa Khâm Sứ cũ không có chủ là Đức Khâm Sứ John Dooley, mà ngài chỉ mượn Nhà, Đất của Tòa Giám Mục Hà Nội và khi bị trục xuất, ngài lại trả lại cho Tòa Giám Mục Hà Nội vào năm1959. Còn trước năm 1950, tòa nhà đó, đất đó vẫn có chủ và sau 1959 vẫn có chủ, không một giây phút nào vắng chủ. Vậy nhà nước không có lý do gì để tạm quản lý khu đất đó. Biết rõ như vậy nên sau khi Đức Khâm sứ Dooley rời bỏ (cả cha Thư ký) Hà Nội được ít lâu, (thời Đức Hồng y Căn) chính quyền mới phải mời linh mục Cương, linh mục Mai ra làm việc để các ngài “hiến” khu đất đó cho chính quyền(!!!). Nếu nhà nước đương nhiên quản lý nhà vắng chủ, thì cần gì phải bầy ra vụ “hiến” làm chi cho phí công nhọc sức. Lý luận đó phản lại lập luận nhà vắng chủ của linh mục Trương Bá Cần.

    Nhưng tôi không đồng ý với linh mục Thiện Cẩm ở chỗ: đứng về phương diện lịch sử, nếu có đủ bằng chứng về đất Khâm Sứ, Nhà chung Hà Nội, Nhà Thờ Lớn là thuộc chùa Báo Thiên, thì trả lại cho bên Phật giáo. Vấn đề này xin lại viện tới quan niệm lịch sử của tác giả Lê  Tuấn Huy. Vả lại, tôi thấy chính linh mục cũng cảm thấy đuối lý nên đã phải vín vào cớ “nên chăng” của chính tôi cũng đã đề ra: “liệu mọi người kể cả chính quyền Hà Nội và chính phủ nữa, có đồng ý biến Nhà thờ Chính Tòa thành nhà Chùa, hoặc phá bỏ đi mà xây nhà Chùa mới hay không? Hỏi như thế tức là trả lời rồi”.

    Nói tóm lại, theo thiện ý của tôi, đứng về phương diện nào đi nữa, mảnh đất mang số 42 cũng dứt khoát là thuộc sở hữu của Tòa Giám Mục Hà Nội, vấn đề trả lại là hợp tình hợp lý. Còn những lý do cao cả đem lại sự đoàn kết, an bình cho nhân dân cả hai tôn giáo: Công giáo và Phật giáo, là bạn với nhau trong việc xây dựng đất nước, thì không còn vì một mảnh đất cỏn con, hoặc sỹ diện của một vài cá nhân mà làm mất đi nghĩa lớn của tổ quốc. Tôi rất thích lý luận của nhà văn Lê  Tuấn Huy mà muốn xin làm câu kết luận cho vài dòng thô thiển của tôi, và cũng là lời khuyên tốt đẹp trong các vụ tranh chấp đất đai của các tôn giáo và chính quyền:

    “Muốn chấm dứt việc người Công giáo cầu nguyện đòi tài sản mà không can dự đến Phật giáo, trước những viễn cảnh tồi tệ giả định, tại sao không xúc tiến giải pháp đơn giản hơn rất nhiều, là có bước đi pháp lý thích hợp và một ít thoả hiệp để giải quyết rốt ráo vấn đề? Nhà nước “mất” về tay các giáo phận một vài toà nhà hay khu đất mà trong quá khứ không lâu đã là của họ, chẳng tốt hơn là mất đi khối đoàn kết dân tộc và sự bình yên trước viễn cảnh xung đột tôn giáo sao? Về phía (những người lấy danh nghĩa) Phật giáo, đã mấy trăm nay mất những chùa chiền nào đó, nay nếu tiếp tục “mất” thì có tăng thêm chút mất mát nào không, thay vì lại “tự nguyện” nhảy vào thế chân Nhà nước trong cuộc tranh chấp này, để mất đi cả căn tính vốn có của đạo Phật? Nếu những tài sản mà phía Công giáo chứng minh được sở hữu có về với họ, thì cũng chỉ là thêm cho một bộ phận con dân nước Việt được có được những cơ sở vật chất mới phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc giáo dục, giải trí, hay làm từ thiện…, không phải là điều Nhà nước ta cũng chủ trương hay sao? Và thêm một bộ phận chúng sanh có được niềm hoan hỉ như thế, nào có khác chăng với tinh thần nhà Phật?” (VietCatholic ngày 22/2/2008 – Lê Tuấn Huy).

    Xin cảm tạ mọi người, đã kiên nhẫn đọc những dòng trên và xin tha thứ những gì sai phạm hoặc đụng chạm tới lòng tự ái của quí vị.

    Thái Bình ngày 24/02/2008.
    + GM. F.X. Nguyễn Văn Sang
    Giám Mục Thái Bình
     
     
    February 23

    CHÙA BÁO THIÊN VÀ NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI

     
    VietCatholic News (Thứ Bảy 23/02/2008 06:52)
     
    CHÙA BÁO THIÊN VÀ NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI

    Từ hơn hai tháng qua, có một số ý kiến cho rằng khu đất của Toà Giám Mục Hà Nội vốn được dùng làm Toà Khâm Sứ là sở hữu của Chùa Báo Thiên.

    Gần đây nhất, ngày 16.02.2008, Hoà thượng Thích Trung Hậu, đã gửi lên Thủ tướng một văn thư trong đó có viết: “Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của cộng đồng dân tộc, đã liên tục là sở hữu chủ của cơ sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng” . Rồi Hoà thượng còn “đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên” (xem trong phattuvietnam.net)

    Chúng tôi thấy những hành động trên đây không thể chấp nhận được trong cái nhìn của những người có lý trí bình thường, ít nhiều am hiểu lịch sử và pháp lý đồng thời tha thiết với công lý và hoà bình, với công cuộc xây dựng một nhà nước pháp quyền, một đất nước dân chủ, công bằng và văn minh.

    Bản đồ thành Thăng Long xưa


    Để góp phần giải toả những quan niệm sai lầm và hạn chế những hành động có nguy cơ gây mất đoàn kết dân tộc và chia rẽ mối tương quan Phật giáo - Công giáo, chúng tôi xin đăng ở đây một bài viết của tác giả Hoàng Nhân, một người Hà Nội cũng là một nhà nghiên cứu độc lập, đã xuất bản một số tác phẩm về lịch sử Việt Nam.

    A. Chùa Báo Thiên

    Chùa Báo Thiên (còn gọi là chùa Sùng Khánh) nằm ở thôn Báo Thiên Thị, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, Do Vua Lý Thánh Tông dựng năm 1056.

    Năm 1057, Lý Thánh Tông sau khi đem quân đi đánh Chiêm Thành trở về nhà vua cho dựng tháp Đại Thắng Báo Thiên, nhân dân thường gọi là tháp Báo Thiên và chùa Báo Thiên.

    Tháp xây trên một gò đất nằm ở phía tây hồ Lục Thủy. Tháp có 12 tầng cao khoảng 80m phần dưới là đá, phần trên tháp xây bằng gạch, đỉnh tháp đúc bằng đồng, tháp khá cao nên từ xa đã nhìn thấy.

    Trong chùa còn có quả chuông nặng 7000 cân, trên chuông có khắc bài minh do vua Lý Thánh Tông làm. Theo Hòang Đạo Thúy trong sách Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội thì tháp Báo Thiên nằm sau đền Đông Hương phố Hàng Trống.

    Năm 1258, sau 202 năm xây dựng, có trận bão lớn làm đổ sập ngọn tháp, các cụ bô lão cho là điềm chẳng lành, đất nước sẽ có chiến tranh loạn lạc. Chẳng bao lâu ba lần quân Nguyên xâm lược Việt Nam.

    Năm 1322 sét đánh sạt hai tầng trên của tháp, vì ngọn tháp làm bằng đồng.

    Năm 1426 khi bị vây hãm ở Đông Quan (Hà Nội) Vương Thông đã lấy quả chuông nặng 7000 cân và phá tháp để lấy đồng ở trên nóc tháp đúc đạn.

    Năm 1434 vua Lê Thái Tông cho dựng lại chùa, nhưng không dựng lại tháp, nền tháp còn lại chỉ là một gò đất cao.

    Sang thời Hậu Lê chùa bị điêu tàn đổ nát nên nhà vua đã dùng nền Tháp Báo Thiên làm pháp trường để hành quyết tử tù hoặc cho dân họp chợ ở quanh đấy.

    Năm 1547 chùa bị bỏ hoang phế.

    Năm 1791 quân Tây Sơn đã phá nền Báo Thiên lấy gạch đá để tu sửa thành Hà Nội.

    B. Nhà Thờ Lớn Hà Nội

    Theo hiệp ước ngày 5 tháng 6 năm 1862 nhà Nguyễn cho phép các giáo sĩ đạo Thiên Chúa được tự do truyền đạo và dân được tự do theo đạo.

        

    Giám mục Puginier

     
    Tháng 12 năm 1872 giám mục Puginier (ở nhà thờ Kẻ Sở - Hà Nam) được tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương mời lên làm phiên dịch về vụ Jean Dupuis và Millot dùng sông Hồng ngược lên Vân Nam Trung Quốc. Sau đó vào ngày 12 tháng 11 năm 1873 Đức Cha lại được quan Tổng đốc mời đến làm phiên dịch vụ Francis Garnier đưa quân từ Sài Gòn vào Hà Nội.

    Tháng 12 năm 1872 Đức Giám mục Puginier cùng giáo dân ở thôn Báo Thiên Thị đã làm tạm một nhà thờ nhỏ bằng gỗ để lấy chỗ cầu nguyện. Theo Cha Dronet kể lại thì nhà thờ bằng gỗ ấy làm theo kiểu An Nam, có một phòng rộng có cột gỗ lim chống đỡ. Còn Paul Bourbe viết sách De Paris au Tonkin thì ngôi nhà thờ nhỏ này có gác chuông kiểu gothique. Thỉnh thoảng mới có một giáo sĩ ở nhà thờ Bằng Sở (Thường Tín) đến làm lễ. Hocquard trong sách Une Campagne au Tonkin cũng xác định như vậy.

    Quân Cờ Đen


    Năm 1876 Đức Giám mục Puginier xây ngôi nhà đầu tiên của Hội Truyền Giáo, ngôi nhà đó có lẽ đến nay vẫn còn, nhà làm theo kiều Châu Âu cổ. Chính tại ngôi nhà này cha Puginier đã mất ngày 25 tháng 4 năm 1892.

    Ngày 25 tháng 4 năm 1882 Henri Rivière đánh chiếm Hà Nội.
    Vào lúc 21 giờ ngày 12 tháng 5 năm 1883 quân cờ đen tấn công vào khu nhà thờ Hà Nội. Nhưng do nhà thờ có sự chuẩn bị trước và giáo dân đã chống trả quyết liệt nên quân cờ đen phải rút lui.

    Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 5 năm 1883 bốn ngàn quân cờ đen quay lại tấn công vào khu nhà của Hội Truyền Giáo. Chúng vào được trong nhà, đập phá nội thất và trước khi rút lui chúng đã đốt nhà thờ tạm bằng gỗ và mang đi bức
    tượng Đức Mẹ ra treo trên một cành cây sau khi đã buộc hai tai của một em bé bị chúng cắt trước đó, buộc vào tượng (Louvet: Vie de Mgr Puginier-HN-1894-trang 431).

    Ngôi nhà Hội Truyền giáo năm 1876

    Trong đợt quân cờ đen tấn công khu nhà thờ lần thứ hai (16 tháng 5 năm 1883), sư cụ chùa Bà Đá (ở phố Nhà Thờ hiện nay) đã che dấu các cha Landais (cha Lan) - cha Rival (cha Mỹ) – cha Bertrand (cha Phúc) và nhiều người khác nên nhà thờ rất nhớ ơn chùa Bà Đá và từ đó hai bên có sự giao hảo tốt và bền vững. Cách chùa Bà Đá không xa có chùa Lý Triều Quốc Sư thờ Phật và thờ nhà sư Minh Không (mất năm 1114) đã chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Như vậy, ở rất gần nhà thờ lớn Hà Nội tồn tại hai ngôi chùa là: chùa Bà Đá và chùa Lý Triều Quốc Sư.
     
           
    Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ                          Đô đốc Courbert
    Cuối năm 1883, Đức Giám mục Puginier có xin công sứ Hà Nội là Bonnal đất để xây Nhà Thờ Lớn nhưng Bonnal từ chối vì không thuộc thẩm quyền của mình và gợi ý nên đặt vấn đề với tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ, vì ông Độ là quan triều đình Huế bổ nhiệm và Bắc Kỳ chỉ là xứ bảo hộ chứ không phải thuộc địa. Hơn nữa đây là vấn đề tôn giáo, là vấn đề rất nhạy cảm nên công sứ Bonnal không dám coi nhẹ. Sau đó Đức Giám mục Puginier đặt vấn đề với ông Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ.

    Ông Độ cho mở một cuộc điều tra tìm con cháu những người trước đây đã sở hữu mảnh đất, nhưng mấy trăm năm đã trôi qua, hơn nữa chiến tranh loạn lạc, xã hội biến động, nên không tìm được ai là chủ miếng đất đó. Dân bản địa hiện sống tại khu đất khi ấy đều là dân tứ xứ đến ở, không phải dân gốc, họ họp nhau lại bàn bạc và nhận xét thấy ngôi chùa đã bị bỏ hoang phế từ lâu không người quản lý và hiện thời đã biến thành phế tích, có thể đổ sập gây tai nạn cho người qua lại bất cứ lúc nào và đề nghị chính quyền rỡ bỏ và thu hồi đất đai vô chủ. Sau khi rỡ bỏ chùa đất vẫn bỏ không lúc ấy tổng đốc Nguyễn Hữu Độ cấp giấy nhượng quyền sở hữu miếng đất cho nhà thờ (theo hồi ký của Bonnal trong sách Souvenirs).

     

    Nhà thờ lớn Hà nội năm 1906

     
    Sau khi xin được giấy tờ hợp pháp, giám mục Puginier đứng ra lo liệu xây cất nhà thờ lớn (còn có tên gọi là nhà thờ Saint Joseph).
    Ngày 28 tháng 1 năm 1884 đô đốc Courbet cấp giấy phép cho nhà thờ mở sổ số lần thứ nhất và ngày 14 tháng 8 năm 1886 tòan quyền Paul Bert cấp giấy phép mở sổ số lần thứ hai, cộng thêm tiền quyên góp để xây dựng nhà thờ.

    Nhà thờ có kích cỡ 33m x 55m và cao 17 m, chi phí xây dựng hết 200 nghìn quan là số tiền rất lớn lúc đó.

    Sau 4 năm xây dựng lễ khánh thành đã được tổ chức ngày 23 tháng 12 năm 1887 để kịp làm lễ mừng Thiên Chúa Giáng Sinh vào ngày hôm sau.

    Hoàng Nhân

    Sách Tham Khảo

    André Masson: Hà Nội pendant une periode heroique.
    Claude Bourin: Le Vieux Tonkin.
    Hocquard: Une Campgne au Tonkin.
    Bonal: Souvenirs.
    Madrolle: Guide en Indochine.
    Hoang Đao Thuy: Thang Long- Dong Do- Ha Noi.
    Paul Bourbe: De Paris au Tonkin.
    NTG: Hà Nội - Thủ đô nước CHXHCN Việt Nam.
    Nguyễn Vinh Phúc & Trần Huy Bá: Đường phố Hà Nội.
    Nguyễn Văn Uẩn: Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX.
     
     

    Chùa Báo Thiên- Toà Khâm Sứ- và Luật Đất Đai

     
    VietCatholic News (Thứ Bảy 23/02/2008 00:28)
     
    Chùa Báo Thiên- Toà Khâm Sứ- và Luật Đất Đai

    Trong thời gian qua, kể từ khi có việc đồng bào công giao lên tiếng đòi lại quyền sở hữu Tòa Khâm ở Hà Nội, chúng ta thấy có nhiều bài báo đã lên tiếng với những lời lẽ không đúng sự thật về Chùa Sùng Khánh Báo Thiên và ngôi Tháp Đại Thắng Tự Thiên, tức tháp Bảo Thiên, gây nên những hiểu lầm tai hại như người Công giáo cộng tác với thực dân Pháp phá chùa, phá tháp, cướp đất chùa, đặc biệt chúng ta thấy có Hòa Thựơng Thích Trung Hậu nhập cuộc. Hòa Thựơng đã lên tiếng chính thức như là môt đại diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam xác nhận quyền sở hữu Tòa Khâm Sứ thuộc về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Do Đó, trong bài viết này, tôi xin được tập trung vào một câu hỏi rất quan trọng là aì thực sự sở hữu Chùa Báo Thiên? Có phải mấy ông cố đạo tiếp tay với Tây để phá chuà cất nhà thờ? Và cuối cùng giải tỏa một thắc mắc về luật đất đai tại việt nam mà Ông Nguyễn Thế Duyệt đã lập đi lập lại nhiều lần trong suốt thời gian qua.

    I. Ai Là Chủ Ngôi Chùa Bảo Thiên?

    Trứơc hết, theo sử liệu khi tôi còn học bậc tiểu học mà bây giờ hãy còn nhớ thì triều đại nhà Lý là một triều đại cực thịnh về Phật Giáo. Khởi đầu từ vua Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn, (1009-1028) người đã khai sáng thành lập triều đại nhà Lý, xuất thân từ một ngôi chùa. Chính ngài đã là một chú tiểu trong chùa. Chính ngài cũng có một vị Đại Quốc Sư Vạn Hạnh hộ giá tham chính như là một khai quốc công thần. Sau này khi rút lui khỏi việc triều chính, vua Lý Thái Tổ đã lui về ở ẩn trong chùa. Kế nghiệp nối ngôi, các vua nhà Lý rất thấm nhuần giáo lý Đức Phật. Chính sách trị nước đặt căn bản trên sự phát huy đức từ bi với chính sách “dân vi quý” mà toàn dân được sống trong thanh bình, ấm no, hoan lạc.

    Về việc xây dựng chùa và tháp Bảo Thiên chúng ta biết rõ ràng rằng vị vua thứ ba triều Lý, Vua Lý Thánh Tông (1023-1072) đã cho dựng chùa Báo Thiên vào năm Bính Thân 1056. Tháng Giêng năm sau, Năm Đinh Dậu 1057, cũng chính vị vua n ày tự tay viết bài minh văn, đồng thời cho xây bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên, cao vài chục trượng, tức tháp Báo Thiên. Riêng bảo tháp, đã nhiều lần bị sét đánh, đỉnh tháp rơi gãy, mãi đến năm Đinh Mùi 1547 thì tháp bị sập. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ).

    Cụ thể là:

    • Vào tháng 8 năm Mậu Ngọ 1258, triều vua Trần Thái Tông, ngọn tháp bị cuồng phong quật đổ rơi xuống.

    • Tháng 3 năm Nhâm Tuất 1322, triều vua Trần Minh Tông, sét đánh Tháp Báo Thiên sụt mất 2 tầng góc phía Đông.

    • Tháng 6 năm Bính Tuất 1406, triều Hồ Hán Thương, đỉnh tháp lại bị rơi đổ.

    • Cuối cùng, vào năm 1426, Tháp Báo Thiên đã bị quân Minh dưới quyền của Vương Thông phá sập để lấy đồng đúc súng đạn chống lại quân Lam Sơn. Từ đó, chùa bị bỏ hoang. Triều Lê cho đắp núi đất phủ lên nền cũ.

    Như vậy chúng ta phải công nhận rằng Tháp đã bị phá sập từ năm 1426. Còn chùa trở thành nơi họp chợ và pháp trường vaò cuối thế kỷ XVIII. Qua xuốt chiều dài lịch sử này chúng ta không tìm thấy một chứng từ nào xác minh là chùa và tháp thuộc Giáo hội Phật Giáo, nhưng nó thuộc về hoàng gia nhà Lý. Chùa và Tháp đựơc xây dựng bởi vua nhà Lý. Chùa và Tháp cùng theo số phận thăng trầm của triều đại nhà Lý, cuối cùng đã để hoang phế bởi những triều đại sau và trở nên vô thừa nhận.

    II. Có phải mấy ông cố Tây tiếp tay với thực dân cướp đất chùa?

    Theo như bài viết của Nguyễn Quốc Dũng, một Phật tử, với tựa đề “Tâm thư gửi đồng bào Công giáo đang “cầu nguyện” đăng trên Giao Điểm online nói về chùa và tháp Báo Thiên như sau: “Thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Joseph, tức Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay.”

    Đây là một cáo buộc rất thâm độc và ngừơi công giáo Việt Nam đã phải gánh chịu biết bao đau thương, hận thù. Nếu chúng ta chịu khó truy tầm và đối chiếu lịch sử một chút thì chúng ta sẽ thấy rằng vào thời điểm Pháp xâm chiếm nứơc Việt Nam của chúng ta cũng là lúc nứơc Pháp ở vào thời cực thịnh của cách mạng. Với cuộc cách mạng này đệ Nhất Quốc Tế Cộng Sản Thành hình. Với Công Xã Paris, toàn bộ tài sản của giáo hội công giáo bị tịch thu. Tất cả các linh mục tu sĩ công giáo phải tuyên thệ trung thành với Cách Mạng và ly khai với Vatican. Bất cứ ai từ chối thì bị lãnh án tử hình hoặc tù ngục. Chính vì cuộc Cách Mạng này mà hàng chục ngàn linh mục đã vượt biên chạy trốn tới những quốc gia khác để dung thân, trong đó có Việtnam. Trong tinh thần đó, ở bất cứ đâu mấy ông Thừa sai luôn luôn bênh vực ngừơi bản xứ chứ không tiếp tay với Chính Quyền Cách Mạng Pháp. Không ít những ngừơi yêu nứơc ở Việt Nam đã nhờ sự giúp đỡ của mấy ông cố Tây giải thoát mỗi khi bị bắt bớ, giam cầm, tù tội. Cái gai mắt cho mấy cố Tây về miếng đất để cất nhà thờ Chính Tòa Hà Nội không phải vì đó là một ngôi chùa của Phật Giáo đang sinh hoạt mà là chỗ để hoang vô thừa nhận và đựơc dùng làm pháp trường xử tử những ngừơi Việt Nam yêu nước.

    Do đó, có ai đã thấy hoặc bằng chứng nào chứng minh ngừơi công giáo Việt nam phá chùa phá tháp để cứơp đất?

    Tiếp theo cáo buộc của Phật Tử Nguyễn Quốc Dũng, Hòa thượng Thích Trung Hậu, Trưởng ban văn hóa trung ương Phật giáo, đã đựơc ủy nhiệm bởi HĐTS GHPGVN, gửi văn thư, đề ngày 16/2/2008, cho thủ tứơng Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị “nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một thành phần trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên” thì chúng ta phải hỏi tại sao. Tại Sao Hòa Thượng chỉ lên tiếng đòi hỏi để được tham khảo ý kiến mà thôi? Mục đích Của Hòa Thượng là gì khi lên tiếng như vậy? Dựa vào yếu tố pháp lý nào để xác minh?

    III. Luật đất đai ở Việt nam.

    Nhiều người đã thắc mắc khi nghe ông NguyễnThế Doanh, Trưởng BanTôn giáo của Chính phủ, cho rằng “ dứơi chế độ Xã hội chủ nghĩa, tất cả đất đai đều quyền sở hữu của Nhà nước,” Và đọc thấy Tác giả bài báo viết: “Trong cuộc di cư năm 1954-1955 cũng như trong cuộc di tản sau 30-4-1975, tất cả các ngôi nhà vắng chủ mà không có người được sở hữu chủ ủy quyền, trên nguyên tắc, đều do Nhà nước quản lý, cả những ngôi nhà cho người nước ngoài thuê.” Thì đã ngỡ ngàng hỏi luật đó từ đâu ra? Xin thưa đó là luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cũng giống như thời cách mạng ở Pháp. Luật này đựơc ban hành bởi chỉ đạo của đảng để làm căn bản đấu tố diệt địa chủ, cừơng hào, tư sản. Sau đó chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa sai và sau này các đảng viên đã vất bỏ khi chính họ đã trở thành địa chủ, tư sản, cừơng hào. nếu có áp dụng thì chỉ áp dụng với ngừơi dân chứ không đựơc áp dụng cho các đảng viên, bằng không thì đấu tố sẽ bũng nổ và làm mất mặt đảng, mất uy quyền nhà nước. Tựu chung, luật này chưa được Quốc Hội biểu quyết và ban hành nên ngày nay không có hiệu lực. Cũng như năm 1959 Thủ Tứơng Phạm Văn Đồng viết thư xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng Quốc Hội chưa biểu quyết chấp thuận thì lá thư đó không có gía trị, và ngày nay ngừơi dân Việt nam vẫn có quyền đòi lai những hòn đảo này.

    Để kết luận, Việc tranh chấp đất đai cấn phải áp dụng luật pháp một cách minh bạch. Việc cải cách ruộng đất đã được sửa sai, nhưng những nạn nhân chưa đựơc phục hồi và bồi hoàn những thiệt hại mất mát. đề nghị mấy ông Thợ Cãi thành lập ngay một website tư vấn luật pháp để giúp đỡ dân nghèo thấp cổ bé miệng.
     
    Thợ Nề New York
     

    Tháp Báo Thiên (1057) trong bối cảnh lịch sử thăng trầm của đất nước

     
    VietCatholic News (Thứ Sáu 22/02/2008 18:37)
     
    Tháp Báo Thiên (1057) trong bối cảnh lịch sử thăng trầm của đất nước
    hay Tháp Báo Thiên và mối liên hệ với quan niệm Trời trong tâm thức dân gian.
     
    Ngôi tháp Báo Thiên là một trong tứ đại khí (bốn vật lớn: tháp Báo Thiên, Tượng Di lặc, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh) làm thành bảo vật của lịch sử và quốc bảo của dân tộc. Tháp nầy xây dựng riêng rẻ hay làm thành một quần thể kiến trúc nào khác; xây dựng thời nào, bởi ai, và tại sao lấy tên là Báo Thiên. Vấn đề đưa đến việc đặt ngữ nghĩa của tên gọi. Điểm cứ xây dựng và sự hiện hữu xuyên lịch sử, tới giai đoạn nào là không còn dấu vết?


    Đó là những câu hỏi mà bài sưu tra nầy muốn thử đặt ra để tự tìm hiểu, nhân thể bàn rộng ra theo mối tương quan của tháp có tên là Báo Thiên với chữ Thiên (Trời) mà dân gian Việt nam rất quen thuộc.

    Năm xây cất và việc đặt tên:

    Trong khuôn khổ bài nầy chúng tôi dựa sát tài liệu Đại Việt sử lược (VS) và Đại Việt Sử ký Toàn Thư (ĐST). Quyển Đại Việt Sử Lược, khuyết danh, người dịch: Nguyễn Gia Tường, hiệu đính Nguyễn khắc Thuần, nhà xuất bản TP Hồ chí Minh năm 1993 (sẽ dùng chữ tắt: VS) là một cổ thư về lịch sử Việtnam có khoản 1127-1140, trước Đại Việt sử ký (Lê văn Hưu, 1272) và Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô sĩ Liên, 1470). Theo hai sách sử đó thì Năm Đinh Dậu (1057), mùa xuân tháng 3, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên, 30 tầng. Có sách sử khác ghi tháp có 12 tầng cao vài chục trượng (60-80m) (xem Hà Nội nghìn xưa của Trần quốc Vượng và Vũ Tuấn San, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 1975 xb tr.176). Tháp không đứng riêng, mà nằm bên cạnh ngôi chùa xây trước đó một năm tức là năm 1056 nhằm năm Long Thụy Thái Bình.

    Sách ĐạiViệt sử ghi: Dựng chùa Sùng Khánh Báo Thiên. Lấy 11000 cân đồng (nhiều bộ sử ghi 12000 cân đồng ở trong phủ ra đút chuông đặt tại chùa ấy (xem chú thích số 322 sách VS tr.144). Nhà vua (Lý Thánh Tông) thân hành làm bài minh khắc vào chuông. Sự việc xảy ra sau khi vua được nhà Tống phong làm Quận Vương (!) và tiếp sứ Chân Lạp sang cống (tháng 8 năm 1056). Như vậy chùa và tháp xây xong chỉ cách nhau 5, 6 tháng. Phải chăng để đánh dấu biến cố mà chùa và tháp hoàn thành vào thời điểm nầy. Danh gọi Báo Thiên, Tự Thiên gợi đến có ý nghĩa gì?

    Chữ Thiên trong truyền thống đặt tên qua các triều đại.

    Lý Nam Đế (544-548) mở đầu truyền thống với chữ ‘Thiên’ đặt cho niên hiệu mình là Thiên Đức. Bẵng đi một thời gian tới thời tự chủ với Lê đại Hành (941-1006), chữ Thiên bắt đấu tái xuất hiện, rồi kinh qua suốt đời Lý, chữ Thiên đã được các vua dặt cho niên hiệu và cung điện, đền, chùa, và các công chúa.

    Niên hiệu Thiên Phúc (980-988) đánh dấu năm tức vị và kế tiếp của vua Lê Đại Hành và niên hiệu Ứng Thiên (994-1005) để ghi dấu các thắng lơi về binh bị và chính trị của Vua. Đặc biệt Đại Việt sử lược còn ghi khi lâm nguy trong chiến trận, vua bị giặc bao vây, con vua (Vệ Vương Đinh Tuệ) bị trúng tên chết: Nhà Vua kêu ‘Trời’ ba tiếng, giặc tự nhiên thua (VS tr103). Đại Việt sử ký toàn thư (ĐST) ghi thêm: “Vua kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ” (Bản kỷ, q1, kỷ nhà Lê, tờ 23a) Cũng năm Ứng Thiên thứ 8 (1002) quân đội Đại Việt giàu mạnh đến đổi vua sai chế tạo mũ trận bằng bạc hơn vài nghìn cái, đem phân phát cho quân nhân(VS,103). Chùa Ứng Thiên ở làng Cổ Pháp có lẽ cũng được xây dựng thời nầy, có liên hệ với việc sinh ra của Lý Công Uẩn sau nầy (xem thêm Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ).

    Đến năm 1006, con vua Lê Đại Hành là Long Đĩnh tuy không có quân cách và quân phong như vua cha nhưng theo truyền thống? cũng mang tôn hiệu là “Khai thiên ứng vận thánh thần võ tắc thiên sùng đạo (VS). Ông vua hoang độ nầy không sống theo tôn hiệu có hai chữ thiên làm hộ mạng nên vắng số tiêu vong để triều Lý lên thay.

    Triều Lý (mà sách Đại Việt sử lược ghi triều Nguyễn theo lệnh của nhà Trần sau đó) mở đầu với Lý Công Uẩn (1009-1028) một đệ tử thuần thành của thiền sư Vạn Hạnh, đã nghe lời khuyên của quần thần lên làm vua (xưng là Lý Thái Tổ) ‘để cho trên thuận lòng trời, dưới theo nguyện vọng của dân’ (VS và ĐST q1, tờ 33b) lấy tôn hiệu là:

    Phụng thiên chí lý ứng vận tự tại thánh minh Long hiển duệ văn anh võ sùng nhân quảng hiếu, thiên hạ thái bình khâm minh quang trạch chiêu ngưỡng vạn bang hiển ứng phù cảm oai chấn phiên man duệ mưu thần công thánh trị tắc thiên đạo chánh. “ (chúng tôi gạch dưới).

    Ông vua nhân ái vì theo Thiên Đạo Phụng Thiên nên khi lên ngôi tháng 11 tha hết những người bị tù tội, đốt bỏ những dụng cụ tra tấn (VS và ĐST q1, tờ 33b) đổi niên hiệu là Thuận Thiên (1010) và ra lệnh qui định lại luật pháp họp với lẽ nhân đạo cho thuận lòng Trời, đổi sông Bắc giang là sông Thiên Đức và làng Cổ Pháp là phủ Thiên Đức...

    Trong thành dựng chùa Hưng Thiên (VS)... Năm 1011 dựng chùa Tứ Thiên Vương.

    Năm 1012 “Vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân’ nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hoá, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Vòn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trunghiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nổi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gập tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét“ (ĐST q2, tờ 5b: Chúng tôi gạch dưới).

    Năm 1016, năm Thuận Thiên thứ 7, được mùă to, miễn thuế cho trong cõi ba năm (VS 119 và ĐST q2, tờ 7b) dựng chùa Thiên Quang, chùa Thiên Đức và đắp tượng Tứ Thiên Đế. Giúp cho hơn 1000 người chốn kinh sư làm tăng đạo (VS 119 và ĐST q2,tờ 9a). Năm 1021 nhằm sanh nhựt của vua, vua cho dùng ngày ấy là tiết Thiên thành (VS từ tr.109-122).

    Vua Lý Thái Tông năm Mậu Thìn (1028) đổi niên hiệu Thuận Thiên của vua cha làm năm Thiên Thành thứ nhất (ĐST q2, tờ 14b), đặt tôn hiệu mở đầu bằng 4 chữ Khai Thiên thống vận tôn đạo... (VS t.124 và ĐST q 2 tờ 14b)), lấy ngày sinh nhật vua làm tiết Thiên Thánh (VS 125 và ĐST q2, tờ 16b), dựng chùa Thiên thắng (VS 126); đổi diện Càn Nguyên thành điện Thiên An (VS tr.126 và ĐST tờ 19b), xây điện Phụng Thiên (ĐST tờ 20a) trước lầu chuông cho dân chúng đánh kêu oan. Năm 1030, năm Thiên Thành thứ ba, cho dựng điện Thiên Khánh. Năm Thiên thành thứ 4 (1031) dân Châu Hoan (Nghệ An) làm phản, vua dẹp yên giặc Xây cất chùa chiền 150 ngôi (VS 127 và ĐST tờ 20b)., Ruộng Đỗ Động Giang cho giống lúa chín bông, vua xuống chiếu đổi tên ruộng là Ứng Thiên (ĐST tờ 20b) Năm 1035 lập người thiếp yêu làm Thiên Cảm hoàng hậu(ĐST tờ 23a).

    Năm 1037, dựng đền Hoàng Thánh Đại Vương. Trước đây vua thấy phủ Đô hộ để nhiều án ngờ, quan sĩ sư không xé đoán được’ muốn tỏ rõ sự linh htiêng sáng suốt để tiệt diệt kẻ gian trá, bèn tắm gội đốt hương khấn Thiên Đế’(ĐST tờ 25a).

    Mùa đông 1041, vua ngự đến núi Tiên Du xem làm viện Từ Thị Thiên Phúc. Khi về, xuống chiếu phát 7560 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di Lặc và hai vị Bồ tát cùng chuông để ở viện ấy’(ĐST tờ 29a).Năm 1043 dẹp yên giặc châu Văn, bắt được ngựa tốt, vua đặt tên cho một con tên là Tái Thiên (ĐST tờ 31b).

    Năm 1045, tháng 7 vua thân chinh vào thành Phật Thệ của Chiêm Thành (bị đổi là Thừa Thiên), tháng 10 đổi niên hiệu là Thiên Cảm Thánh Vũ và tăng tôn hiệu thêm tám chữ là Thánh Đức Thiên cảm Tuyên Uy Thánh Vũ (ĐST tờ 36a). Năm ấy được mùa to (VS136). Năm 1054 vua băng hà Vua đưọc táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức(VS 141).

    Vua Lý Thánh Tôn (1054) lên ngôi lấy tôn hiệu với câu đầu: Pháp Thiên ứng vận sùng nhân chí đức. truy tôn mẹ họ Mai là Kim Thiên Hoàng Thánh hậu. Đặt quốc hiệu là Đại Việt (ĐST tờ 39b)... Xuống chiếu bỏ những hình cụ tra tấn (VS 142) để sống đúng với tôn hiệu sùng nhân chí đức,theo luật Trời. Năm 1055 lấy ngày sinh nhật làm thành tiết Thừa Thiên. (ĐST q3 tờ 1a). Vua Thánh Tôn cho hậu thế một câu để đời, đó là câu mà VS ghi:

    “Mùa đông, tháng 10 lạnh lắm, vua bảo kẻ tả hữu rằng: Ta ở trong cung sâu, sưỡi lò than, mặc áo hồ cừu mà còn lạnh như thế nầy, huống chi những kẻ ở trong tù, khốn khổ vì trói buộc, phải trái chưa phân minh mà quần áo không đủ, thân thể không có gì che, nên mỗi khi cơn gío lạnh khắc nghiệt thì há không chết được người vô tội hay sao! Ta vô cùng thương xót Rồi lệnh vua truyền xuống quan Hữu ty phải cấp phát chăn chiếu ở trong kho phủ ra cho tù nhơn, luôn luôn cung cấp cơm ngày hai bữa (ĐST q3 tờ 1b).

    Năm nay (năm Ất mùi) trong cõi được miển tiền thuế một nửa (VS 143). Năm sau (1056) bày ra hội La Hán ở điện Thiên An, dựng chùa Sùng Khánh Báo Thiên, ‘phát một vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn Vua thân làm bài minh. Mùa xuân (1057) xây tháp Đại Thắng Tự Thiên cao vài chục trương, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên) (ĐST q3,tờ 1b. tờ 2a): trong vòng nửa năm xây dựng hai công trình kiến thiết có tiếng vang để đời (ta sẽ đề cập tiếp phần cuối).

    Tháng chạp năm ấy dựng chùa Thiên Phúc và chùa Thiên Thọ, đúc tượng Phạn Vương’ tượng Đế Thích để an vị vào chùa ấy (VS 144) Năm 1058 dựng điện Bát giác Khổn Thiên (có sách chép là Hồ Thiên xem chú thích số 325 sách VS145).

    Mùa hạ, tháng 6 (năm 1065) VS còn thuật một câu nói đượm tình nhân ái khi nhà vua ngự ở điện Thiên Khánh nghe việc kiện tụng, bên cạnh có công chúa Động Thiên đứng hầu,: Vua nhìn công chúa rồi bảo viên ngục lại rằng: Ta yêu thương ta cũng như yêu thương thiên hạ. Ta yêu thiên hạ như bậc cha mẹ yêu thương con của họ vậy. Nhưng trăm họ có nhiều kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đưòng phạm pháp, ta thương xót lắm vậy. Vậy từ nay tội trạng bất kể nặng nhẹ cũng nên theo một cách là khoan thứ cho họ(VS 150 và ĐST q3 tờ 3b)).

    Muà xuân 1066 đổi niên hiệu là Long Chương Thiên Tự năm thứ nhất... Gả công chúa Thiên Thành cho Thân đạo Nguyên.

    Năm Mậu thân (1068) đổi niên hiệu là Thiên Huống Bảo tượng thứ nhất sau khi nhận 2 con voi trắng (Trời cho con voi trắng) (ĐST tờ 4b).

    Năm Kỷ Dậu (1069) bỏ niên hiệu Thiên Huống lấy niên hiệu Thần Võ thứ nhất: thân chinh chiếm thành Phật Thệ (quốc đô Chiêm Thành nay là làng Nguyệt Bậu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên), phá rụi hơn 2660 căn nhà dân, bắt vua Đệ Củ của Chiêm Thành về Thăng Long (ĐST tờ 4b). Năm Thần Võ thứ 2 (1070) xây chùa Đông nam Nhị Thiên Vương. Năm Thần Võ thứ 3(1071) vua viết chữ Phật dài 6 trượng” có sử ghi dài 1 trượng 66 thuớc (VS 156 với chú thích số 356). Năm 1072 vua qua đời, an táng tại Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức.

    Vua Lý Thánh Tôn được sử sách ghi nhiều câu nói đầy lòng nhân ái suốt những năm lấy thiên đạo làm kim chỉ nam. Chỉ những năm cuối đời, lúc bỏ chữ Thiên làm niên hiệu để mặc lấy chữ Võ thay vào thì thấy để lại những sự việc đáng tiếc, nhứ t là đối với dân tộc Chiêm Thành.

    Vua Thánh Tôn băng được dâng tôn hiệu với câu đầu là: ’Ứng Thiên Sùng Nhân chí đạo... ’

    Vua Lý Nhân Tông sanh năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất (1066) bởi Nguyên phi Ỷ Lan, khi lên ngôi, lấy tôn hiệu mở đầu bằng câu: Hiển Thiên Thể Đạo Thánh... lấy sanh nhựt làm tiết Thọ Thiên và tôn mẹ lên bậc Thái Phi. BàThái Phi Ỷ Lan sau nầy vì chuyện tranh quyền hành hay vì có tính hay ghen ghét (VS 161 va ĐST tờ 7a) đã nhúng tay vào việc giam giữ Thái Hậu Thượng Dương và 72 thị nữ rồi bức bách bắt đem chôn sống theo vua Thánh Tông (VS 162 và ĐST tờ 7b) Sau vụ việc nầy bà nghiểm nhiên làm Thái Hậu lấy tên là Linh Nhân. Sử ghi là bà giỏi về chính sự: như việc ở nhà yên trị giữ nước để cho vua (Thánh Tôn) đi đánh giặc (ĐST tờ 4 b), và vào cuối đời (1103) Bà hay làm việc tế bần như xuất tiền trong kho ra để chuộc lại số con gái nhà nghèo bị cầm thế, đem về gả cho những người góa vợ (VS 177 và ĐST 14a) và cho xây nhiều chùa chiền thờ Phật như để sám hối về việc đã lở lầm xưa (VS chú thích 393 tr.177).

    Triều đại nầy sử nhắc nhiều đến việc Chiêm Thành đi cống 2,3 lần trong năm: cống mùa đông, mùa thu, có khi cả mùa hè và Chân Lạp cũng cống mỗi năm 1,2 lần. Không thấy nhắc nhiều tên gọi có chữ Thiên như các đời vua truớc, chỉ có 2 lần kể trên và 2 lần cuối với niên hiệu là Thiên Phù Duệ Vũ thứ nhất (Canh Tý 1120, ĐST 20a) ) sau khi nhà Tống phong cho chức Thủ Tư Không, và Thiên Phù Khánh Thọ (1127, ĐST 24b) sau khi nước Tống loạn to. Cũng năm ấy vua từ trần và an táng tại Phủ Thiên Đức.

    Vua Lý Thần Tông lên ngôi năm Thiên Phù thứ nhất (1127) ở điện Khổn Thiên, lấy tôn hiệu Thuận Thiên Quảng vận khâm minh nhân hiếu Hoàng đế (29b). Năm 1128 lấy niên hiệu Thiên Thuận (ĐST 28b), sách lập con gái của Lý Sơn là Lệ Thiên hoàng hậu(ĐST 30b). ‘Lá phướn của hai chùa Thiên Long và Thiên Sùng không gió mà tự lay động như múa. Vua ngự xa giá đến hai chùa ấy để lễ tạ’(ĐST 29a) An táng vua Nhân Tông ở lăng Thiên Đức. Lấy ngày sinh nhựt của vua làm tiết Thiên thụy. (ĐST 31b).Năm 1129, Chân Lạp đánh phá Nghệ An, dẹp được giặc, năm 1129 làm lễ mừng tại gác Thiên Phù về việc 84000 bảo tháp đã hoàn thành (tháp nhỏ bằng đất nung VS 194và ĐST 32b). Năm 1132 sinh hoàng thứ trưởng tử đặt tên là Thiên Lộc (ĐST 37a). Dựng điện Cảm Linh và gác Phụng Thiên (ĐST 37b) Năm 1133 đổi niên hiệu là Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất. Năm 1134 dựng hai chùa Thiên Ninh và Thiên Thành (ĐST 38a). Vua được rùa mắt có 6 ngươi, bèn xuống chiếu cho các học sĩ và các tăng đạo biện nhận, đọc thành tám chữ: Thiên thư hạ thị thánh nhân vạn tuế ‘ (ĐST 38b). Năm 1136 Hoàng trưởng tử sinh được đặt tên là Thiên Tộ (ĐST 40a).Tô Vũ dâng rùa thần. Các quan nhận ra bốn chữ “Nhất thiên vĩnh thánh” (40a) Năm 1137 vua ngự đến chùa Báo Thiên, làm lễ Phật Pháp Vân để cầu mưa. Đêm ấy mưa to’(ĐST 40b). Năm 1138 vua qua đời (ĐST 42a), an táng tại phủ Thiên Đức.

    Vua Lý Anh Tông tên húy là Thiên Tộ lấy tôn hiệu bằng câu đầu: Thể Thiên thuận đạo... Năm 1147 dựng 6 sở kho Thiên Tư. Tháng 11 làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng (ĐSTq4,6a). Năm 1149 công chúa Thiên Thành mất (ĐSTq4, 6b).Năm 1153 xây cung điện Ngự Thiên (VS 107) Năm 1155 làm cung Lệ Thiên (ĐST,12a). Tháng 12 làm hành cung Ngự Thiên (12 b).

    Năm 1158, xây chùa Chân Giáo ở Hà nội. Nhà vua hạ chiếu lấy vàng ở trong kho ra mạ tượng Phạn Vương và tượng Đế Thích rồi cho đặt vào chùa Thiên Phù, chùa Thiên Hỗ (có sách chép là Thiên Hựu (VS 210). Cây cột chùa Thiên Phù, Thiên Hỗ chảy máu. Năm 1164 sửa lại điện Thiên An.

    Nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ làm An nam quốc. Trước đó gọi là Giao chỉ Quận Vương (ĐST 14a). Thật ra quốc hiệu vua Lý Thánh Tôn đã đặt là Đại Việt từ năm 1054. Năm 1168 công chúa Thiên Cực về với quan Lạng châu mục là Hoài Trung Hầu (VS 213). Sau khi trao 10 con voi cho nhà Tống làm lễ Nam Giao, đổi niên hiệu năm 1174 là Thiên Cảm Chí Bảo thứ nhứt. (VS 215) Theo VS thì Nhà Tống gọi nước Việt ta là nước An Nam, vua là Quốc Vương quốc hiệu được lập bắt đầu từ đó (VS 215). Vua băng năm Thiên Cảm chí bảo thứ hai và an táng tại phủ Thiên Đức.

    Vua Lý Cao Tông lên ngôi’ tôn mẹ là Thái Hậu Chiếu Thiên Chí Lý, và lấy tôn hiệu là Ứng Thiên ngự cực hoành văn hiến vũ.... đạo chí nhân ái (VS217)

    Năm 1179, có động đất. Thái úy Tô HiếnThành chết. Vua bớt ăn 3 ngày’ nghỉ thiết triều 6 ngày (ĐST q4,18b). Nhà vua và Thái hậu xem con em các bậc tăng quan (thày tu làm quan) thị tụng kinh Bát Nhã. Coi khoa thi Tam giáo. Năm 1180: nhà vua xuống chiếu cho hàng Tam giáo (Nho Phật Lão) sửa sang các văn bia ở trong đại nội (VS 223). Năm 1186, tháng giêng, nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, chế thư đại khái nói: “Ngay bắt đầu đã phong cho tước ấp ở một nước yên vui, được theo lệ cha truyền con nối ban sắc mệnh cho được thực thụ tước vương’ cần gì phải đợi thăng dần theo thứ tự” (ý nói không theo thứ tự thăng dần từ Qiao chỉ Quận Vương rồi Nam Bình Vương rồi An Nam Quốc Vương). Năm 1187, tháng 7, bắt được voi trắng đặt tên là Thiên Tư (của Trời). Xuống chiếu đổi niên hiệu là Thiên Tư Gia Thụy năm thứ nhất. (ĐST q4,20b và VS227). Năm 1188, đại hạn, vua đến chùa Pháp Vân để đảo vũ, nhân rước tượng Phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên (ĐST 20b). Năm 1194, mưa đá, có tảng to bằng đầu ngựa. Đóng thuyền Thiên Long. Năm 1195: động đất. (ĐST 22a). Năm 1197, vua ngự ở điện Thiên Khánh để cân nhắc phán xét các tội ngục hình (VS 235) Năm 1202, động đất, hoàng tử Thầm sinh. Đổi niên hiệu là Thiên Gia Bảo Hựu năm thứ nhất (ĐST 22b). Năm 1203, Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai xây cất cung mới ở phía tây tẩm điện. Ở giữa dựng điện Thiên Thụy. Bên tả dựng điện Dương Minh. Bên hữu dựng điện Thiên Quang. Phía trước là điện An Chánh Nghi. Ở trên lại dựng điện Kính Thiên (VS 237 và ĐST 23a) Năm 1205 Điện Thiên Thủy xây cất hoàn thành, nhà vua cho quần thần ba ngày dự yến tiệc (VS245) Năm 1206, nhà vua ngự ở gác Kính Thiên, tháng ba cung Phụng Thiên bị cháy. Năm 1207-8: giặc cướp nổi như ong. Đói to, người chết nằm gối lên nhau (ĐST24b,25a). Năm 1210 vua băng.

    Vua Lý Huệ Tông kế vị (1211-1224) không thấy có chữ Thiên, loạn lạc: giặc trong giặc ngoài tứ tung. Năm cuối đời có lúc phát điên. Quyền trong nước dần dần về tay người khác. Vua xuất gia ở chùa Chân Giáo truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh.

    Vua Lý Chiêu Hoàng (1224) công chúa Chiêu Thánh với tên húy là Phật Kim sau đổi là Thiên Hinh lên ngôi lấy tôn hiệu là Chiêu Hoàng và đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo. Ở ngôi được hai năm rồi truyền ngôi cho họ Trần (ĐST 32a).

    Kết thúc một triều đại mà chữ Thiên được đặt lên hàng đầu trong các danh gọi: từ tôn xưng, niên hiệu, sanh nhựt, tên công chúa chí đến cung, điện, chùa chiền, lăng phủ, sông rạch.

    Qua đến đời Trần: chữ Thiên được nhắc ở tôn hiệu năm đầu (1225) là “Khải Thiên lập cực chí nhân chương hiếu hoàng đế” (ĐST 34b) và năm 1232 vua Trần lấy niên hiệu là Thiên Ứng Chính Bình và năm 1369 là năm Thiên định. Được một năm là dứt điểm.

    Thế là chấm dứt cả mấy thế kỷ liên tục lấy chữ Thiên làm chủ đạo trong việc cai trị đất Đại Việt (216 năm triều Lý). Kết thúc trang sử đời Lý, sử thần Ngô sĩ Liên viết như sau: ’Từ đời Huệ Tông trờ lên đến Thái Tổ là tám đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý được nước là tự trời, mất nước cũng là tại trời vậy” (ĐST 35a, 35b)

    “Thiên” một chữ gợi nhiều âm hưởng trong tâm thức dân gian.

    Các vua thời đại cựờng thịnh của Đại Việt đã hiểu thấu tâm cảm của dân gian nên chi đã chẵng ngần ngại coi việc mình lên trị vì thiên hạ là một việc Ứng Thiên, Thiên định, Thiên Hựu do vậy phải chăm lo săn sóc dân chúng cho họp đạo Trời: Thiên đạo. Phải lo xây cất những chùa chiền Phụng Thiên, điện đài Kính Thiên, để tỏ bày lòng thành kính cho thuận với lòng Trời: Thuận Thiên. Như vậy Thiên Ý mới được Thiên Thành. Trong ý hướng đó điện Kính Thiên (1202) phải ở trên trước các điện khác, không phải ở bên tả hữu hay ở giữa mà phải ở trên trước (xem phần lịch sử ở trên). Và để kiểm chứng hành vi cai trị có họp Thiên ý và Thiên đạo hay không, ngoài việc tế Nam Giao còn phải báo đáp, báo ân Trời và tường trình báo cáo Trời về công việc của mình. Nơi thể hiện tâm tìnhỳ báo đáp, báo ân, báo cáo đó phải ở trên trước cao tận Trời với Tháp Báo Thiên (xây năm 1057). Tính cách nổi vượt nầy đã được nhà thơ lớn Phạm Sư Mạnh (đời Trần) diển tả như sau:

    Trấn áp đông tây củng đế kỳ,
    Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
    Sơn hà bất động kình thiên trụ
    Kim cổ nan ma lập địa chùy

    (Đề Báo Thiên tháp)

    Trấn áp đông tây, giữ vững kinh kỳ,
    Ngọn tháp sừng sững trội vượt hẳn lên.
    Chiếc cột chống trời đứng đó làm cho non sông yên ổn,
    Như mũi dùi trên đất xưa nay chẳng hề mòn.


    Bài thơ nầy diển tả được tính cách trổi vượt của Tháp, nhưng chưa chắc diển đúng ý nghĩa của tên Tháp là Báo Thiên, bởi lẽ trên đĩnh tháp có hàng chữ Đạo Lý Thiên một thể hiện cung kính rõ rệt về đạo lý của Đấng Tối Cao (Ông Trời) mà từ vua tời chí dân cả nước cần chiêm bái và tuân thủ vâng phục, chứ có lẽ nào dựng cột để chống Trời như thi sĩ đời Trần kia!

    Chữ Thiên qua suy nghiệm trên không thể hiểu một cách hời hợt phiến diện: tức không thể vì nhà Tống qua hai triều đại Tống Thiên Hy và Tống Thiên Thánh (1012-1031) có dùng chữ Thiên mà nhà Lý bắt chước dùng theo. Cũng không thể coi rằng đây chỉ là do ảnh hưởng Khổng Nho, vì theo thờI điểm lịch sử nầy Phật Giáo mớI thịnh hành, chiếm địa vị độc tôn, khiến các sữ gia Lê văn Hưu và Ngô sĩ Liên về sau đã đem lờI phê phán (như sẽ bàn sau) chứ Khổng Nho chưa hẳn được thịnh hành và ảnh hưởng sâu rộng ở Đại Việt. Vả lại nếu coi là nhờ ảnh hưởng của các Nho thần đi nữa thì cũng phải hiểu Khổng Nho cũng không sáng tạo quan niệm từ không không mà là làm công việc kết đúc định hình hệ thống hóa từ quan niệm “Trời” có sẳn của dân gian, như vậy mớI có sức phổ biến và dân gian mớI dễ dàng chấp nhận. Hẳn là dân gian Đại Việt đã sống theo tín niệm nầy (chứ không phải nhờ đọc chữ Nho mà biết Trời vì đa số còn ít chữ) nên chi các vua Triều Lý đã nắm bắt được tâm lý ấy để làm nổI bật việc mình lên ngôi vua là “ứng mệnh trời, thuận lòng người “theo như sữ thần Ngô sĩ Liên nhận định (ĐST q2,tờ 1a). Và khi lên ngai trị vì, gặp lúc nguy nan thì kêu trời, lúc đánh giặc gặp bất trắc,” biết đốt hương khấn trời, xin lòng trời soi xét” (ĐST q2,tờ 5b) Ngô Sĩ Liên nhận ra niềm tin tưởng đó của vua nên đưa ra lờI nhận định rằng:” Trời và người cảm ứng nhau rất nhỏ nhạy, ảnh hưởng rất chóng, ai bảo là trong chỗ tối tăm mặt trời không soi đến ta mà dám dối trời chăng?” (ĐST q2, tờ 6a).

    Dù sao nếu các nho thần của Triều Lý có đóng góp phần mình để làm nên những niên hiệu, tôn hiệu, danh hiệu, danh tánh có ngữ nghĩa “siêu linh” như thế thì cũng là một việc họp lẽ Trời và thuận lòng dân vậy.

    Tháp Báo Thiên một công trình vĩ đại lưu danh thiên cổ.

    Đây là một công trình kiến thiết quy mô vĩ đại với bao nhiêu vật liệu đặc sản đồ đồng của nước có Núi đồng (Đồng sơn: phải chăng văn hóa Đông sơn (culture dongson-nienne) là cách nói trại không dấu của tây phương). Núi đồng là quốc thổ và đồ đồng làm nên trống đồng chủ hữu, chủ địa của dân tộc từ ngàn xưa.

    Dựng Tháp để tôn vinh đạo lý của Trời cách công khai thanh thiên bạch nhựt, xây trên thửa đất cao ráo (gò nổng) và có nhiều tầng để ai dù ở xa cũng phải thấy, phải biết: tính cách đạo lý phải nêu cao. Ngoài ra đạo lý đó còn phải được khắc ghi trong tâm khảm mọi người. Từ vua tới chí dân, phải lấy luật trời Pháp Thiên làm mẫu mực đức độ, làm ánh sáng chiếu soi: các ngôi Chùa Thiên Đức, Thiên Quang được xây dựng với các tên gọi có ngữ nghĩa tỏ rõ đức sáng của Trời phải chăng là để nhắc nhỡ dân chúng tề tựu cúng bái ở chùa chiền noi theo đức độ sáng soi chiếu giọi của Trời. Ngoài ra tên gọi Báo Thiên của ngọn tháp cao tận trời nầy tự nó nói lên ý thức của việc báo đáp, báo ân, báo cáo với trời những việc trong nhân gian mà nhà Vua là bậc Thiên tử con trời phải lo chu tất để thi hành nghĩa vụ của mình. Trời là trên trước cần nhắc nhỡ và kêu gọi nên danh tánh Trời đã được gọi trong tôn hiệu như Ứng Thiên, Thuận Thiên, Thể Thiên, Phụng Thiên, Pháp Thiên; trong niên hiệu như Thiên cảm, Thiên Thuận, Thiên Phù, Thiên Huống, Thiên Thành; trong các ngày sanh nhựt, khánh tiết của vua như Thừa Thiên, Thiên Thụy, Thiên Thánh; trong việc đặt tên hoàng hậu như Chiếu Thiên, Thiên cảm, Lệ Thiên; đặt tên con cái vua như điện hạ Khai Thiên, công chúa Thiên Thành, công chúa Động Thiên, công chúa Thánh Thiên và tất cả những đền chùa cung điện v.v... Tất cả như đều hàm ngụ ý hướng cao cả hướng thượng quy Thiên nầy.

    Vị trí xây dựng: Tháp có tên đầu tiên là “Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp” dựng kế bên ngôi chùa có tên là ‘Sùng Khánh Báo Thiên” nên sau được gọi là Tháp Báo Thiên. Đất Thăng Long nguyên là đồng bằng có nhiều ao hồ sông rạch và đầm lầy mà nay vẫn còn dấu vết. Tìm chổ cao ráo để xây dựng một công trình to lớn như chùa và Tháp có tầm cở bực nhứt như thế, Vua Thánh Tôn phải chọn một qủa đồi gần Bờ Hồ Lục Thủy (hồ quanh năm có màu lục). Hồ nầy trước kia lớn, vua có thể tổ chức đua thuyền, tổ chức trò chơi các dịp lễ lớn, sau vì nhiều công trình kiến thiết Thăng Long làm cho hồ thu hẹp dần diện tích, nay chỉ còn là một hồ nhỏ ta gọi là hồ Hoàn Kiếm.

    Vật liệu kiến trúc: Hai vật liệu nặng nhứt có thể tìm thấy vào thời nầy là đá và gạch nung. Nền tháp bằng đá có 4 góc, tức là theo hình vuông có bốn cửa ăn thông. Gạch xây trên nền đá đều có khắc ghi chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”: tức là làm đời vua Lý thứ ba có niên hiệu là Long Thụy Thái Bình. Tường vách trang trí còn có những mẩu đá tạc tượng người, tiên, chim muông và các vật dụng như chén bát, giường ghế ‘không thể kể xiết, toàn bằng đá cả ‘(sd Hà nội nghìn xưa tr.176).

    Chiều cao và các tầng: Theo Đại Việt sử lược thì tháp cao tới 30 tầng, nhưng nhiều sách khác cho là 12 tầng với bề cao vài chục trưọng(60-80 m). các tầng trên cùng làm bằng đồng, vật sản văn minh bản địa. Tầng thứ ba trên cửa tháp có khắc chữ “Thiên tử vạn thọ” một lời ước chúc Vua sống trường thọ muôn tuổi. Trên chót đỉnh tháp có hàng chữ “Đạo Lý Thiên” để tỏ rõ Đạo Lý của Đấng tối cao chiếu rọi kháp nhân gian thiên hạ. Vì ở chổ cao ngất tầng mây không có gì che khuất: từ xa ai cũng trông thấy. Thiền sư Nguyễn Minh Không từ chùa Keo xứ nam, thuyền giăng ba ngọn ngược dòng sông Hồng Hà để tới bến An Duyên (Yên sở, Thanh Trì) đã cho biết nhìn thấy tháp Báo Thiên từ xa, đã để lại bài cảm thán với câu mở đầu như sau:

    “Tằng tằng bảo sái nhập vân yên... ”
    (Tầng tầng bảo tháp quyện mây trời!)


    Tháp cao bằng đồng với giông tố sấm sét và thời gian:

    Sách sử đã ghi lại nhiều cảnh mưa lũ, lụt lội, mưa đá giông bảo sấm sét xảy ra thưòng xuyên trên vùng đất nước nầy. Suốt chiều dài lịch sử với thời tiết bảo táp như vậy, không lạ gì một ngôi tháp cao với đỉnh bằng đồng khối bị sét đánh làm gây hư hại nhiều phen. Dù có xuất công quỹ sửa chữa nhưng kinh phí qúa nặng: qua đời Lý, đời Trần không đủ sức để trùng tu. Ngay cả những công trình ít tốn kém hoặc dể hơn, như Chùa Một Cột cũng không khôi phục như nguyên thủy nổi, huống chi ngôi bảo tháp nhiều tốn kém mà sử thần Ngô sĩ Liên phê là làm “nhọc sức dân, phí của dân” (ĐST q3,tờ 1a). Vã lại ngay từ cuối đời Lý giặc giã tứ tung, nhiều vụ động đất thiên hạ chết qúa nữa, “trời đổ mưa đá, từng tảng đá lớn như dầu ngựa’(VS tr.233), hoả hoạn, cung điện lớp bị cháy lớp bị phá, đổ nát hoang tàng(VS tr 280), nạn đói người chết xác nằm gối lên nhau, nội loạn nổi lên khiến vua Huệ tông phải ta thán trong một chiếu thư mô tả rằng” chúng đốt sạch cung thất của ta. Cho đến nổi các khu xóm ở kinh thành hoá thành đóng tro tàn” (năm 1215 VS tr281) khiến cả Vua và Thái hậu phải sai cất một “ngôi nhà tranh để ỏ” (VS tr 280)... bằng ấy cho thấy một công trình vĩ dại như tháp Báo Thiên mà sử thần Lê văn Hưu gọi là “tháp cao ngất trời” (SKT q2,tờ 3b) khó mà bảo tồn trọn vẹn lâu dài.

    Lược kê những thiên tai, mà lịch sử còn ghi trong giai đọan nầy:

    Về động đất xảy ra biết bao nhiêu lần, đó là những năm 1016 hai lần, 1153 (2 lần), 1162,1171, 1178, 1180,1181,1185,1187,1188,1190,1192,1195(2lần),1199,1200,10204,1205,1207,1208,1210,1213,1215,1218,1219,1220. Ngoài ra còn cảnh lụt lội, đá sụp, gió to dữ dội, sấm sét (1207, 1215) đến đổi vua kinh sợ phải sai cận thần Nguyễn Dư đọc ‘chú’ mà cũng không trị được sấm (VS tr.248), dịch tả, nạn đói năm 1181 khiến ‘dân chết đến gần một nửa’(VS tr224) còn năm 1208 thì’ nạn đói lớn, người chết nằm gối lên nhau’(VS t.250). Thêm vào đó những đám hỏa hoạn, khi thì cung điện nầy cháy, hành cung kia bị thiêu, chùa nọ bị làm mồi bà hoả...

    Thế nên các công trình xây cất nhà Lý bị hư haị vì thời gian vì thiên tai, nhân tai vừa kể thì khó lòng được khôi phục trùng tu nguyên vẹn. Một phần lớn vì nước nhà bị loạn lạc, công qũy bị hao hụt, không còn đủ sức để bảo trì nói chi là trùng tu cái củ xây đựng cái mới. Thêm vào đó là yếu tố nhân tâm bất thuận hoặc đã thay đổi, các triều đại sau không còn sũng mộ Phật giáo và ưu đãi tăng chúng nữa, chưa kể những công kích những tiêu pha công qũy của đời trước. Sử liệu còn ghi lại một số phê phán phản ánh tâm thức đó qua hai sử thần như Lê văn Hưu và Ngô sĩ Liên.

    Lược kê những đoạn phê phán về Triều Lý liên quan đến chùa chiền:

    Đây là những lời phê của Lê văn Hưu: (ĐST q2, tờ 3b, 4a): “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo con cái xa xỉ lười biếng, thế mà thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng qúa nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc chẳng phải từ đấy?”

    Sử thần Ngô sĩ Liên thì một đàng khen vua ở chổ thuận lòng trời được lòng dân, nhưng chê vì chỗ ham thích đạo Phật’ đạo Lão: “Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh... trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức... lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời... Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên... Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém” (ĐST q2,tờ 17b và 18a).

    Nơi khác, nhân về việc vua xuống chiếu phát 6 nghìn đồng để đúc chuông chùa Trùng Quang. Chuông đúc xong, không đợi sức người tự di chuyển đến chùa, sử thần Ngô sĩ Liên sao chép đoạn nầy xong bèn phê thêm như sau:

    “ Phàm vật hình vuông thì đứng, hình tròn thì đi, chuông có thể đi đuợc là vì hình tròn. Có lẽ là kéo nó đi, không nhọc đến sức người như có thần giúp vậy. Nay ta hãy xem như cây gỗ lớn mười mấy người khiên không nổi, một người đẩy ngang thì nó lăn tròn mà đi. Chuông cũng thế, sư chùa muốn làm cho đạo mình có vẻ thần diệu, mới nói phao lên như thế để đánh lừa mà thôi. Những chuyện như dấu vết người thần,, ánh sáng xá lỵ, cây ưu đàm nở hoa, tượng Phật cổ nổi lên v.v... đều do bọn các nhà sư ra cả. Ngưòi cầm bút chép sử đương thời không xét lý lẽ, cứ theo thế mà chép vào sử sách.” (ĐST q2,tờ 24a và b).

    Về việc vua Lý Thần Tông được tin quân triều đình thắng trận, vào cung Thái Thánh Cảnh Linh, vào chùa quán trong thành để tạ ơn Phật và Đạo, Lê văn Hưu phê như sau:

    “Phàm việc trù tính ở trong màn tướng, quyết định được chiến thắng ở ngoài nghìn dặm, đều là công người tướng giỏi cầm quân làm nên thắng lợi. Thái phó Lý công Bình phá được quân Chân lạp cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận. Thần Tông đáng lẽ phải cáo thắng trận ở Thái Miếu, xét công ở triều đường để thưởng cho bọn Công Bình về công đánh giặc. Nay lại quy công cho Phật và Đạo, đi các chùa quán để lạy tạ, như thế không phải là cách để ủy lạo kẻ có công, cổ lệ chí khí của quân sĩ.” (ĐST q3, tờ 30b và31 a).

    Về việc xuống chiếu tha những người phạm tội trong nước, sủ thần Ngô si Liên có lời phê như sau:

    “Nhân Tông thường nhân việc mở hội [Phật] mà tha cho người có tội, là không phải lẽ, nhưng mà còn mưọn tiếng hội Phật. Còn như vua [Thần Tông] thì không có việc gì mà cũng tha bổng. Phàm người có tội phạm pháp, có kẻ nặng người nhẹ... sao lại có thể tha bổng được... Tha lỗi thì đuợc, tha tội thì không được.” (ĐST q3, tờ 32a, và b).

    Qua những sử liệu ghi các lời phê trên, ta thấy được lòng dân cũng như vua quan sau thời Lý đã quy trách về việc nhà Lý tiêu pha trong việc xây cất chùa chiền, bảo tháp. Vì thế những cơ sở nầy nếu bị hư hại, chắc khó lòng đuợc ủng hộ để trùng tu nguyên vẹn... từ đó suy ra một bảo tháp có tầm vóc bực nhứt về kiến trúc về công sức, công sản như tháp Báo Thiên nếu bị sét dánh hư hại hoặc bởi thời gian soi mòn thì hết đời Trần qua đời Minh, Báo Thiên chưa chắc là còn sừng sững nguyên hiện như xưa. Việc lấy đồng để đúc binh khí là việc không cần phá tháp cũng có thể lấy đưọc?

    Thật vậy, sau đời Trần, nhà Minh xâm phạm quốc thổ, lúc bị nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi vây hãm ở thành Đông quan năm 1426, quân Minh đã phá tháp (lúc ấy không biết còn nguyên vẹn hay đã bị hư hại cách nào với sấm sét thời gian, không có sách sử nào ghi rõ) lấy số đồng khối để đúc khí giới chống lại nghĩa quân. Như vậy là tháp Báo Thiên đã bị phá hủy thời nầy. Và đời Tiền Lê "đắp núi đất phủ lên nền cũ. Chùa bỏ hoang, cuối thế kỷ XVIII làm chợ Báo Thiên, núi làm chỗ xử tử người có tội. Năm 1791, đào lấy những gạch đá nền tháp để tu bổ thành Thăng Long.” (sách Hà nội nghìn xưa tr.177). Coi như vào thời Tây sơn nơi nầy đã ra hoang tàn. Sau khi nhà Tây Sơn đổ, sử ghi là nhà Nguyễn đã lưu chuyển nhiều vật liệu Thăng Long vào Phú Xuân Huế để xây quốc đô mới đẹp đẻ xứng đáng cho một nước Việt nam thống nhứt, vì thế di tích giá trị của cựu đô Thăng Long đương nhiên là bị dời đi thời nầy... và sau đó còn bao nhiêu biến cố khác gây tổn hại tiêu hủy những gì còn sót. Sách đã dẫn trên còn cho biết ở mục chú thích số 1 tr. 177 như sau: Bà chủ nhà số 10 đường Nhà Chung vừa qua (? phải chăng là tháng 10.1974 năm xuất bản sách?) đào đuợc con sấu cá, hẳn có liên quan đến nền tháp Báo Thiên”.

    Qua chứng liệu về năm tháng xây dựng, về các biến cố, thiên tai hoặc nhân tạo làm hủy hoại. Thời điểm di tích cơ sở nầy bị tiêu hủy hẳn phải kể là trước hoặc đầu thế kỷ XVIII. Về lịch sử thì coi như Vua Quang Trung Nguyễn Huệ không còn thấy nơi đây một di tích kỳ quan của lịch sử, ngoại trừ là cái gò đất chổ xử tử tội của thời truớc trong những năm loạn lạc Trịnh Nguyễn phân tranh và giặc giã nội ngoại. Do vậy luận chứng theo đó dời thực dân Tây, ngưòi ta phá Tháp Báo Thiên để xây dựng Nhà Thờ Lớn Hà nội qủa là một quyết đoán hàm hồ phi lịch sử, và có thể là một quyết đoán có ác ý (!) để mong tạo một sự đối chống giữa Phật giáo và Kitô giáo chăng, hay tệ hại hơn nữa là gieo rắc thành kiến cho rằng Công giáo dã phá hủy những gì thuộc về văn hoá dân tộc!

    Bài nầy muốn thiêt lập một cái nhìn lịch sử chân thật đồng thời tuyên dương một ý hướng quy Thiên tin tuởng Trời của một triều đại mà mọi ngưòi Việtnam đều hãnh diện vì dã cho Việt nam đi vào một đoạn lịch sử dài kiến tạo đất nước ánh ngời nhiều hào quang. Sự thật lịch sử giải thoát chúng ta khỏi những nghi kỵ cáo buộc bất công khiến tình tự dận tộc của toàn khối đồng bào được bảo toàn: một nhu cầu khẩn thiết để cùng nhau xây đựng đất nước cho tiến kịp với các nước khác trên thế giới trong Thiên niên Kỷ sắp tới.

    Mùa Vọng Giáng Sinh tiến về Thiên kỷ III

    LM Hồng Kim Linh